18 tháng 2, 2017

TS Lewis Sorley và "Cuộc Chiến Việt Nam theo Quan Điểm Các Tướng Lãnh VNCH" ~ Lê Bá Hùng chuyển ngữ ~

*****

The Vietnam War:

An Assessment by South Vietnam’s Generals

Dec 1, 2010

by Lewis Sorley (Texas Tech University Press)

*****

~ Lê Bá Hùng chuyển ngữ ~

(Vào Hạ 2016)


image001
image003

  • Paperback:944 pages
  • Publisher:Texas Tech University Press; 1 edition (Dec 1 2010)
  • Khổ: 1cm x 16 x 23 ~ Font Times 6 pt
image005
image007
*****
gen_creighton_w_abrams
Tướng Creighton Williams Abrams, Jr.
Mãi rất lâu sau khi cuộc chiến đã chấm dứt, mãi lâu sau khi chinh chiến đã tàn lụi, mãi sau khi Bunker đã ra đi, và rồi cả luôn Abrams, mãi sau biến động thuyền nhân cùng các tàn dư đau buồn của một chính nghĩa từng đã bị đánh mất đi, thì người trưởng nam trong số ba người con trai của Tướng Abrams, mà đều cùng là những sĩ quan Lục quân, đang phục vụ trong ban giám hiệu của Đại học Command & General Staff College tại Căn cứ Fort Leavenworth. Một lần, đã có ai đó bèn nhắc lại nhận xét mà Robert Shaplen đã từng tuyên bố, là thân phụ của ông ta, đúng ra là phải xứng đáng để được chỉ huy một cuộc chiến ‘khá hơn ~ better war’. Người trưởng nam trẻ của dòng Creighton bèn đã dứt khoát trả lời: “Cha tôi đã không bao giờ từng nghỉ như vậy đâu. Ông ta vẫn hằng tin là nhân dân Việt Nam rất ư là xứng đáng để được hổ trợ như vậy”.
LEWIS SORLEY
Trong tác phẩm”A Better War”

*****

https://en.wikipedia.org/wiki/Lewis_Sorley
Lewis Stone “Bob” Sorley III là một phân tích gia về tình báo và cũng là một sử gia Mỹ. Các tác phẫm của ông về cuộc Chiến Hoa Kỳ tại Việt Nam, nơi ông từng phục vụ trong tư cách sĩ quan, đã cực kỳ có ảnh hưởng trong giới chính quyền Mỹ.
Sanh: 1934, tại Hoa Kỳ
Tốt nghiệp: Johns Hopkins UniversityUnited States Military Academy

*****

image009
Phía trong bìa lưng của sách:
Lewis Sorley là một nhà khảo cứu cùng là nhà văn tại Potomac, Maryland. Các tác phẫm từng được xuất bản của ông thì gồm có Vietnam Chronicles: The Abrams Tapes, 1968-1972 (TTUP, 2006), Thunderbolt: General Creighton Abrams and the Army of His Times, Honorable Warrior: General Harold K. Johnson and the Ethics of Command, and A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy ò America’s Last Years in Vietnam.
Texas Tech University Press
Box 41037
Lubbock, TX 79409-1037
800.832.4042
ttup@ttu.edu
www.ttupress.org
image011
Tượng Đài Tưởng Niệm Cuộc Chiến Việt Nam
(khai trương ngày 27 tháng 4 năm 2003) tại Westminter,
California, tác phẫm của điêu khăc gia Nguyễn Tuấn.
(Bộ sưu tầm của Đại tá Hà Mai Việt)
TÓM TẮT VỀ CUỘC CHIẾN
Đối với những người dân miền Nam Việt Nam, thì có vẻ như là đất nước của họ đã vẫn mãi cứ trong vòng chinh chiến mà thôi. Các người khá lớn tuổi thì đã từng phải trải qua Thế chiến II, trong hoàn cảnh bị người Nhật cai trị trong nhiều năm. Rồi sau đó, là phải chiến đấu mãi đến năm 1954, hầu đánh đuổi cho được người Pháp, mà lúc đó, đã đang muốn tái lập lại chế độ thuộc địa của họ. Rồi ngay sau cuộc chiến đấu này, thì những người mà đã quyết định di cư về miền Nam, lại bị lâm vào một cuộc chiến ruột thịt anh em tương tàn đẩm máu đầy đắng cay với Bắc Việt – cùng với tay sai tại miền Nam là cái bọn Việt cộng – đang muốn dùng võ lực để cưởng chiếm toàn thể đất nước.
Ngay từ đầu 1955 thì các cố vấn và quân nhân Mỹ đã có tới yểm trợ cho Nam Việt. Rồi qua năm tháng, mực độ hiện diện của họ cứ tăng dần lên một cách đáng kể, để ngoài vai trò cố vấn, họ cũng đã cung cấp thêm một số hình thức yểm trợ quan trọng khác – quân nhu, huấn luyện, ngân sách, tình báo, thông tin liên lạc và tiếp liệu.
Tuy nhiên tới đầu 1965 thì, trước sự gia tăng của mối họa của địch từ Bắc phương, đã có quyết định cần phải điều động lục quân Mỹ qua, hầu giúp chính phủ Nam Việt khỏi bị xụp đổ. Suốt bốn năm sau đó, thì chính sách này cứ bành trướng, và cho tới cuối tháng 4 năm 1969, thì đã có tới 543.400 quân nhân Mỹ, cộng thêm nhiều ngàn nhân viên khác, để yểm trợ cho các đơn vị không và hải quân ở khắp vùng Đông Nam Á và vùng biển chung quanh khu vực đó.
Xuyên qua những năm tháng cứ tiếp tục được củng cố, quân đội Mỹ đã thi hành một loại chiến tranh hao mòn, mà theo đó, bằng những trận đánh quy mô thường xẩy ra trong tận rừng sâu vùng biên giới của Nam Việt với Lào và Kampuchia, mục tiêu chính chỉ là tiêu diệt càng nhiều lính địch thì càng tốt. Trong khi đó, thì Quân đội VNCH lại bị giao cho một vai trò xem như là thứ yếu, là chỉ yểm trợ cho chính sách bình định, một tình trạng mà nhân đó, ngay cả về tiêu chuẩn trang bị, thì họ đã hoàn toàn không có được những vũ khí và phương tiện truyền tin hiện đại được.
Tới năm1969 thì một thời kỳ mới đã khởi đầu khi, với một tân chính phủ tại Hoa kỳ, cùng chủ trương ‘Việt Nam hóa’ cuộc chiến, và rồi bất chấp mọi phản ứng của địch, thì vẫn quyết định là quân đội Mỹ sẽ vẫn cứ dần dần bị rút đi. Do đó, toàn bộ tiến trình củng cố của những năm trước, thì nay lại bị hoàn toàn đảo ngược lại mất đi. Cùng lúc đó, thì Quân đội VNCH cũng được bành trướng, đặc biệt là các lực lượng địa phương quân và nghĩa quân, song song với việc cải thiện tăng cường vũ khí và các loại tiếp liệu khác. Cũng trong thời kỳ này, công tác bình định cũng được nâng lên ưu tiên hàng đầu, để thành quan trọng tương đương như là các cuộc hành quân. Kết quả đạt được nhờ các sáng kiến này, đã là nền an ninh toàn quốc được cực kỳ cải thiện, cũng như là khả năng ngày càng tăng gia của Quân đội VNCH trong việc thay thế các lực lượng Mỹ và đồng minh khác mà đang ra đi, hầu đi đến mức tự lực cánh sinh được.
Đến năm 1973 thì lại tiếp đến một thời kỳ khác, với việc kết thúc Hòa đàm Ba-lê, một thỏa thuận mà trên nguyên tắc, sẽ chấm dứt được cuộc chiến, cùng lúc quy đinh việc rút đi của các lực lượng đồng minh khỏi Nam Việt, cũng như là sẽ có trao đổi các tù binh với nhau. Tuy nhiên, như là một điềm gở, đã không hề có được một quy định nào cả, về số lượng lớn lao của địch quân từng được tung vào Nam. Rồi thực sự quả đúng là không hề ngưng nghỉ, chiến tranh cứ bắt đầu lại, và cho tới khi mà Hoa kỳ còn tiếp tục cung cấp yểm trợ về quân sự và tài chánh, thì Nam Việt vẫn cầm cự được. Tuy nhiên, trong khi Quốc hội Hoa kỳ triệt để cắt bỏ viện trợ, trong khi mà ngược lại các quan thày của Bắc Việt thì lại tăng gia một cách kinh khủng con số viện trợ cho gà của chúng, thì giờ đã điểm với VNCH mất rồi. ► Tới cuối tháng 4 năm 1975, với việc Sài-gòn bị thất thủ, cuộc trường chiến mới thật sự đã đành phải bị chấm dứt mà thôi.
CÁC BIÊN KHẢO VỀ ĐÔNG DƯƠNG
Các biên khảo này đều đã được viết, ngay sau khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt, và nhờ nơi đặc điểm này, đã phụ thêm được cái nét bi thương, cùng cách nhìn sự việc cho những gì mà các tác giả đã muốn chuyển đạt. Lúc đó, họ vẫn còn bị bàng hoàng do bị phải trải qua một sự mất mát quá ư là đau thương của chính ngay đất nước họ, và cũng bàng hoàng ngay cho sự hiện diện của họ tại cái xứ mới và xa lạ này, mà tâm tư thì lại đầy khắc khoải cho số phận của biết bao nhiêu là thuộc hạ của mình, rồi nay lại phải khởi đầu một cuộc sống mới cho chính cả họ và luôn gia đình họ, tại mảnh đất tạm dung – một đất nước mà họ vẫn luôn mang ơn, vì đã từng cứu giúp họ khi hoạn nạn, nhưng đôi khi cũng là một sự rộng rãi không kém phần đắng cay, khi mà người đồng minh của ngày nào đó, thì nay lại đành lòng bỏ rơi họ, vào chính ngay cái giờ phút mà họ lại cần được giúp đở nhất mà thôi. ►
Viễn ảnh này, vì hãy còn quá ư là mới mẻ, hầu khả dĩ có thể giúp cho các vết thương đau từng phải gánh chịu qua các biến động quá sức bi đát, mà họ và gia đình đã phải trải qua, hầu có thì giờ kịp hàn gắn, đã là nét chính tô đậm những chuyện kể của họ, hay ít ra, đối với tôi thì cũng là như vậy. Tôi nghỉ là quả thật, trong rất nhiều trường hợp, đã quá ư là bi thương cho họ và cho toàn người Việt nói chung, cả về phương diện chính trị lẫn quân sự. Họ đã rất ít khi tự biện hộ, và ngược lại, đã rất thẳng thắn để quy trách, cũng như là để tự nhận trách nhiệm là mình quả đáng bị khiển trách mà thôi.
Trong ba thập niên sau khi những nhận định này đã được viết xuống giấy trắng mực đen, thì chúng ta cũng đã từng biết thêm được rất ư là nhiều điều, về từng giai đoạn của cuộc chiến, cũng như là tất cả những gì đã khả dĩ giải thích được các thất bại, cùng tình trạng kém khả năng của Nam Việt vào những năm đầu, dạo mà các lực lượng Mỹ đã cứ, không ít thì nhiều, cũng đã độc chiếc chiếm dụng toàn thể các vũ khí hiện đại, cùng đa số các phương tiện tăng cường, như là không trợ tiếp cận, phi vụ không kích bằng B-52, các nhóm không vận đặc cách và trực thăng.
Những người từng chủ trương phản chiến, hay ít ra thì qua sự can dự của họ vào phong trào này, thì cũng đã từng rất ư là lúng túng – cả từ thời đó và ngay cả luôn bây giờ – để ráng gắn cho họ một hình ảnh tiêu cực càng nhiều càng tốt, và thái độ này cũng đã lan tràn bằng hành động bôi nhọ luôn thanh danh của QĐVNCH. Nay thì chúng ta đều nhận chân được ra là, nếu được trang bị và cung cấp súng đạn đầy đủ, cũng như được chỉ huy giỏi, thì họ cũng chiến đấu rất ư là anh dũng và đầy nhiệt huyết mà thôi. ► Lần đánh lui cuộc xâm lấn quy mô theo kiểu chiến tranh quy ước của địch, mà nay vẫn được gọi là Easter Offensive (Chiến Dịch Mùa Hè Đỏ Lửa) vào năm 1972, có thể là đã đánh dấu được thời gian quang vinh nhất của họ. Địch đã bị họ dạy cho một bài học nặng nề, đến mức mà mãi cả ba năm sau, thì chúng mới có lại được khả năng hầu tổ chức một cuộc tấn công quy mô khác. Để rồi khi việc này xẩy ra, thì Hoa Kỳ lại đành thất hứa với Nam Việt Nam, đành lòng quay mặt đi và bỏ rơi họ một mình cô đơn phải chống chỏi một địch thủ vẫn còn rất hùng mạnh, nhờ vì đang vẫn được các quan thày Cộng sản tiếp tục hổ trợ. Do đó, kết cục thì đã quá ư là hiển nhiên mà thôi.
Các biên khảo này đã bao trùm mọi khía cạnh chính yếu của cuộc chiến. Đã có một nhóm chỉ sáu người viết, nhưng là những người từng đã nắm giữ những chức vụ cực kỳ quan trọng trong QĐVNCH, và cũng đã từng đãm nhiệm những vai trò chỉ huy một cách rất ư là can đảm và kiệt xuất, và họ xứng đáng, để đại diện cho một thành tựu trí thức đầy cảm kích. Trong đa số các trường hợp, thì chỉ có một người chuyên trách để viết mà thôi, tuy nhiên, vẫn có những đề tài được viết chung; về loại bài viết liên hệ đến các cố vấn Mỹ, thì mổi người đều cũng được ghi rỏ tên, ngay cả với người phụ trách việc chuyển ngữ. Tuy đã bị trở ngại một phần nào đó, vì thiếu các hồ sơ và văn khố củ của quân đội, các tác giả cũng vẫn đã có khả năng kể lại được trong chi tiết một cách thật là đáng phục.
Các quan điểm được đưa ra đó – luôn luôn rất sống động, đôi khi thật là đầy kinh ngạc – đã cực kỳ bổ túc được cho nền văn học về cuộc chiến, một đề tài mà ngay cả những người miền Nam Việt Nam thì cũng vẫn từng đã không được dành cho một tiếng nói tương xứng cho họ. Cho dù thật rõ ràng là các bình luận gia đó đã không, trong tư cách cá nhân hay tập thể – đưa ra được những lập luận có tính cách thuyết phục cho mọi khía cạnh trong cuộc chiến, đặc biệt là về những gì đã được hiểu biết thêm trong suốt những năm sau khi kết thúc chiến trận, thì cái nhìn của họ, mà đã được biểu lộ ngay sau khi bị thất trận, quả thật đã rất ư là trân quý, chua chát mà cũng cực kỳ đau buồn và cũng sẽ không bao giờ bị phai mờ đi được với thời gian.
Dự án mà kết quả đã là các bài biên khảo này, chính thức từng được gọi là Indochina Refugee – Authored Monograph Program (Tỵ Nạn Đông Dương – Chương Trình Biên Khảo Tự Viết), đã được bảo trợ bởi U.S. Army Center of Military History (Trung Tâm Quân Sử Quân Đội Hoa Kỳ). Sau đó thì Trung Tâm đã ký hợp đồng với công ty General Research Corporation hầu cung cấp tiện nghi, cùng yểm trợ về hành chánh cho các tác giả. Tướng Andrew J. Goodpaster, người từng phục vụ tại Việt Nam trong tư cách Quyền Chỉ Huy COMUSMACV (Phái Bộ Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ), đã là một thành viên trong ban tuyển lựa nhà thầu đó. Trung Tướng William E. Potts, mà trong ba năm đã nắm Phòng J-2 của MACV, vị sĩ quan tình báo cao cấp nhất  trong cuộc chiến Việt Nam, đã đóng một vai trò chính yếu trong tiến trình mời gọi tham gia của các tác giả và thu xếp đề mục cho từng người viết. Chuẩn Tướng James L. Collins Jr., đã từng phục vụ một cách rất xứng đáng và lâu dài trong tư cách U.S. Army Chief of Military History (Trưởng Ban Quân Sử Quân Đội Hoa Kỳ) trong suốt toàn thời gian dự án này được thực hiện.
Mọi việc đã bắt đầu từ đầu năm 1976 và kéo dài mãi tới cuối năm 1978, với tất cả là hai mươi biên khảo đã được hoàn tất (mà trong đó, có ba bài liên hệ về Lào và Kampuchia, mà đã được  lọc ra khỏi sách này).
Sáu tác giả đã được cung cấp văn phòng và được hổ trợ về hành chánh tại cơ sở của công ty General Research Corporation ở McLean, Virginia. Nhà thầu cũng chuẩn bị cho các tác giả một thư viện nhỏ với những tài liệu căn bản hầu tham khảo, chẳng hạn như là các bản liệt kê biến chuyển theo thứ tự thời gian, cùng các bản đồ và tài liệu liên hệ. Tướng Potts cũng có một văn phòng riêng ở đó, và thường xuyên sẳn sàng đóng vai một cố vấn từng trải khôn ngoan, cũng như là một điều hợp viên mổi khi cần. Trung Tá QĐVNCH Chu Xuân Viên, người từng phục vụ tại Tòa Đại sứ VNCH ở Hoa-thịnh-đốn trong những tháng cuối của cuộc chiến, là một thành viên chính yếu trong dự án này. Từ tháng 6 cho đến tháng chạp năm 1975, ông đã tham gia trong cái được gọi là Quick Reaction Indexing Program (Chương trình Ghi danh Khẩn), và đã tháp tùng Tướng Potts để tới các trại tỵ nạn ở các căn cứ Camp Chaffee, Camp Pendleton và Trung tâm Indiantown Gap Military Reservation. Nay thì Trung tá Viên đãm trách vai trò chuyển ngữ các biên khảo từng được viết xuống bởi chính các tác giả đó. Và thật sự là một công việc rất ư là đòi hỏi, bởi vì mọi văn bản thì đều cũng phải lần lượt trải qua biết bao lần viết thảo trước đó mà thôi.
Hàng tuần thì các tác giả cũng đã ngồi xuống với Tướng Potts để cùng nhau thảo luận về mức độ tiến triển của dự án và nếu bản thảo đã sẳn sàng, thì cùng nhau duyệt lại, hầu góp ý hay phê bình. Nhân một lần họp như vậy, thì vị Tướng lúc đó đã về hưu là William C. Westmoreland, cựu chỉ huy trưởng của quân đội Mỹ tại Việt Nam, đã có ghé thăm. Trung tá Viên cho biết: “Quả là một vinh dự khi được đón tiếp ông ta”. Khi buổi thảo luận chấm dứt, thì Trung Tá Viên có nhớ lại, là Tướng Westmoreland đã chào giả biệt các tác giả Việt, bằng một ghi nhận để kết thúc thật rất ư gảy gọn: “Chúng tôi đã phản bội quý bạn ~ We betrayed you”.
Trung tá Viên cũng có ghi nhận là trong những buổi họp hàng tuần đó, thì đôi khi cũng xẩy ra những bất đồng quan điểm giữa các vị từng chỉ huy tại ngay chiến trường, với các sĩ quan cao cấp tại Bộ Tham Mưu, đặc biệt là về những gì đã xẩy ra vào lúc cuối trận chiên. Nhưng cũng thật là rõ ràng, như là với các nhận xét trong phần đầu nhập đề của mổi bài biên khảo, thì các người viết cũng đã từng cộng tác giúp đở nhau, để cuối cùng, cùng cống hiến được một công trình thực sự rõ ràng là của những đồng nghiệp. Sau khi mọi việc được hoàn tất, thì Tướng Collins bèn mời các tham dự viên tới dự một buổi ăn tối tại ngay nhà mình để liên hoan.
Toàn bộ các bài biên khảo, sau khi đã được đúc kết và hoàn tất, đã được Trung tâm US Army Center of Military History xuất bản dưới dạng “double-spaced typescript” với bìa mềm đóng theo kiểu sườn vòng xoắn bằng ‘plastic’, với một số lượng hạn chế thôi. Đa số thì đã được phổ biến dạo thập niên 1980, mãi nhiều năm sau khi các biên khảo đó đã từng được hoàn tất xong. Rồi qua tháng năm, thì các ấn bản đó cũng đã bị trở thành loại tài liệu để sưu tầm mà thôi, với những lần tái bản chiếu theo nhu cầu nhờ George Daley, qua dịch vụ trân quý Daley Book Services, một nguồn cung cấp tin vô giá về Trận Chiến Việt Nam.
Ấn bản in này, dưới hình thức sách, thực sự chỉ là một phần trong toàn bộ, mà tựu chung, đã trở thành một công trình với cả một triệu chữ, sẽ cung ứng cho mọi người, một tài liệu có tính cách thường xuyên, cho một số lớn học giả hơn, hay cũng như cho những độc giả hằng có quan tâm. ► Những bài gồm trong đây, chỉ là phân nữa của các tài liệu nguyên gốc, thì đều đã được tuyển chọn, dựa trên tiêu chuẩn đáng được lưu ý nhất, hay có được một ý nghĩa lịch sử đáng ghi nhận. Quý vị nào mà muốn tham khảo thêm những đề tài thâm sâu hơn, chẳng hạn như là về những đề tài có tính cách không thông thường, như là về tiếp vận quân nhu chẳng hạn, thì cũng có thể nghiên cứu trực tiếp các tài liệu nguyên bản.
Khi quyết định sách sẽ bao gồm những gì thì cũng dể, nhưng khi phải chọn những đoạn nào có thể loại ra, thì quả rất ư là khó khăn. Các biên khảo đã cùng đề cập đến mọi khía cạnh có thể có được của chiến cuộc, từ các cuộc hành quân đến các ngân sách, từ các liên hệ làm việc với các cố vấn đến việc yểm trợ tiếp vận, từ vấn đề quân phục cho đến nào là lương lính, đào ngũ, người tỵ nạn, không kích, ống dẫn dầu, tù binh, khẩu phần tác chiến, giúp đở gia đình binh sĩ và thậm chí luôn cả đề tài xã hội Nam Việt. Một phần đáng kể về loại tài liệu này, mà từng đã là những nhận xét đầu tay của chính những nhân vật cao cấp Việt đó, thì quả không thể nào tìm có được ở đâu cả.
Nhìn chung thì với toàn bộ biên khảo nguyên thủy, cũng đã có một số đề tài bị trùng hợp nhau, mà mổi biên khảo thì được quy định là phải ở dưới hình thức độc lập. Các trùng hợp này thì lại vẫn được giữ lại ở đây, hầu tạo điều kiện cho mổi tác giả trình bày được trọn vẹn quan điểm của mình. Và thêm nữa, không phải mọi tác giả cũng đều cùng đồng quan điểm về mọi khía cạnh chính yếu của cuộc chiến. Các vị nguyên là sĩ quan tham mưu cao cấp, thì cũng thường có những cách nhìn khá khác xa với các vị sĩ quan chỉ huy ngay tại chiến trường. Thành tích và giá trị của các lực lượng địa phương đã là một ví dụ bi thương ở đây, cũng như là nhiều nhận định đánh giá cái chương trình bình định. Và đọc giả cũng sẽ nhận ra được là các khác biệt đó thì thường cũng mang lại được thêm tính chất phong phú, cũng như là thêm uyển chuyển cho các đề tài đó mà thôi.
Trong nhiều trường hợp khác, các phân đoạn tham luận quá dài, trong cùng một chuyên đề nào đó, thì cũng đã được loại bỏ, nếu là cùng một tác giả, cho dù chúng có liên hệ đến đề mục đó, bởi vì cũng đã từng có cùng một quan điểm được nêu lên như vậy, ở đâu đó rồi trong bài viết đó. Một ví dụ đã là tiến trình phát triển các lực lượng địa phương, tức là Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, mà đã từng được trình bày rất ư là cặn kẻ (nhưng không được gồm trong bộ sưu tập này), trong bài biên khảo về đề tài Việt Nam Hóa, nhưng cũng lại đã được trình bày chi tiết hơn trong một đề tài khác (có gôm trong bộ sưu tập này) về lãnh thổ, và thêm nữa (với một nhận định khá khác biệt, và có gồm trong bộ sưu tập này) là về đề tài xã hội Việt Nam. Cũng vậy, nhận xét về đóng góp của các cố vấn Mỹ, từng có trong nguyên bản về Việt Nam Hóa, thì cũng đã bị loại trong bộ sưu tập này, vì cũng đã có phần tham luận tương tự, nhưng sâu rộng hơn (có gồm trong bộ này) về chuyên đề đăc tính của lòng cố gắng trong vai trò cố vấn.
Một chi tiết khá đáng tiếc, vốn là nguyên bản của rất ư là nhiều bản đồ và hình ảnh trong ấn bản đầu tiên của các biên khảo, thì nay đã không còn nữa, mà các hình trong nhiều bản đả tự khác mà từng đã được xuất bản, thì lại không đủ rõ để được chụp lại.
Mổi tác giả thì cũng có ghi trong lời tựa những lời cảm ơn sự giúp đở của ban biên tập. Bởi vì tất cả thì cũng như nhau, nên cũng đã bị bỏ qua trong mổi bài và chỉ đã được trình bày trong bài biên khảo “The Cambodian Incursion ~ Cuộc Đột Kích Vào Cam-bốt” của Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ: “Tôi cũng đặc biệt chịu ơn Trung Tá Chu Xuân Viên và Bà Phạm Thị Bông. TrungTá Chu Xuân Viên, vị tùy viên quân sự cuối từng phục vụ tại Tòa Đại sứ Việt Nam ở Hoa-thịnh-đốn, quả đã hoàn tất thật là chuyên nghiệp và tuyệt vời công tác chuyển ngữ cùng sữa chửa bản thảo, hầu giúp được thống nhất văn phong cùng hình thức của các biên khảo. Bà Bông, một cựu Đại Úy trong QĐVNCH và cũng là một cựu nhân viên trong Tỏa Đại Sứ Việt Nam, cũng đã phải trải qua nhiều thời giờ để đánh máy, sữa chữa và phụ trách về mặt hành chánh cho bài biên khảo của tôi, mãi cho tới khi được thực sự hoàn tất”.
Cũng đã có vài tu chính nhỏ trong các văn bản, nếu so với các nguyên bản, như là sữa lại J2 và J-2 tại nhiều chổ để thống nhất lại chỉ là J-2, và cũng như viết hoa lại và điều chỉnh về cách chấm câu lại tại vài chổ. Khi có sai biệt về danh từ, ngay trong một bài hay trong nhiều bài khác nhau, chẳng hạn như chữ ’advisor’ hay ’adviser’, thì chỉ riêng một danh từ thôi, đã được quyết định để được thống nhất trong toàn thể mọi biên khảo. Vài phân đoạn quá dài đã được tách thành nhiều phần nhỏ hơn để giúp dể đọc. Tuy nhiên nội dung thì hoàn toàn không hề bị đổi thay.
Các phụ chú của các tác giả thì cũng đã được in theo như thông lệ. Những phụ chú ngắn có tính cách giải thích hay các tu chính do chính người đó đã bổ túc thêm thì đều được đặt trong dấu ngoặc [ . . .] ‘brackets’. Các đoạn bị rút bỏ trong nguyên bản thì đều được ghi bằng dấu ( . . . ) ‘ellipses’, nếu xẩy ra trong một câu hay một phân đoạn nào đó. Khi có một phần khá lớn bị loại bỏ thì sẽ được cho thấy bằng những chấm lớn nằm riêng ’centered, larger ellipsis points’ như là
  • • •

Trong phần đề bạt của các nguyên bản đó, thì Tướng Collins cũng có ghi nhận là “các biên khảo đều đã không được kiểm lại hay sữa đổi và đã chỉ phản ảnh các quan đìểm của người viết mà thôi ► – chứ không hề là quan điểm của Quân đội hay Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Các tác giả đã không hề cố gắng tường thuật lại những sự kiện một cách dứt khoát, nhưng chỉ muốn ghi lại cách nhìn của họ trong cuộc chiến tại vùng Đông Nam Á đó”. Mọi người đều mong đợi là các kết quả sẽ là một sự đóng góp đáng giá cho nền văn học của một cuộc chiến quá dài và phức tạp.
GHI NHẬN
Xuyên qua bao năm tháng làm việc, tôi đã từng được nhiều người giúp đở, bởi cả những người từng tận mặt là chứng nhân trong các sự kiện đáng lưu tâm, mà luôn cả bởi cái cộng đồng bất khả thiếu của các bảo quản viên văn khố, bảo quản viên thư viện, nghiên cứu gia và sử gia mà vai trò đã thật quá ư là thiết yếu.
Riêng về bộ tài liệu này, mà đã dựa trên những nguyên bản từng được Trung tâm US Army Center of Military History ấn hành mãi cách đây gần một phần tư thế kỷ, tôi đã có được sự trợ giúp của nhiều thành viên mà hiện vẫn còn phục vụ tại Trung Tâm. Tôi xin cảm ơn TS Jeffrey Clarke, Trưởng Trung Tâm Quân Sử (Chief of Military History); TS Richard Stewart, Sử gia trưởng; Ông Frank Shirer, Trưởng Ban Tài liệu Lịch sử (Chief of the Historical Resources Branch); TS Erik Villard; và Bà Beth MacKenzie, Trưởng Ban Ấn Hành (Chief of the Production Branch).
Tôi cũng đã lại được Albert D. McJoynt giúp thực hiện những bản đồ thật tuyệt hảo mà tôi rất ư là trân quý. Noel Parsons, rồi người kế nhiệm là Robert Mandel, cùng các đồng nghiệp tại Nhà in Texas Tech University Press, thì cùng đều cung cấp dùm tôi một dịch vụ uyên bác quý giá, qua công trình tiếp tục loạt đề tài về Đông Nam Á trong Thời Tân Tiến (Modern Southeast Asia Series), và tôi rất mang ơn là, nhờ họ thì mới hoành thành được công trình này. Tôi cũng cần phải ghi ở đây lòng kính trọng và ngưỡng mộ xâu xa đối với TS James Reckner, vị giám đốc danh dự của Trung Tâm Việt Nam tại Đại học Texas Tech, mà qua viển kiến, nghị lực và quyết chí của ông đã giúp để gìn giữ, hầu cung ứng cho các học giả cũng như những đọc giả bình thường, toàn bộ lịch sử của trận chiến Việt Nam dưới mọi khía cạnh của nó. TS Stephen Maxner, vị giám đốc, và Thomas Reynolds tại Trung Tâm Việt Nam, cũng có giúp rất nhiều trong công trình này.
Các bạn Việt của tôi, mà hiện đang sinh sống tại Mỹ, cũng đã từng giúp tôi về nhiều phương diện, ngay với công trình này và cũng luôn với mấy công trình trước đây. Tôi xin đặc biệt cảm ơn cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, một trong những tác giả của các biên khảo này, người đã rất hào phóng cung cấp cho tôi các hình ảnh, cùng nhiều tài liệu khác nữa; Đại tá Hà Mai Việt, một quân nhân xuất sắc, cũng là nhà văn và bạn đồng khóa tại US Army Armor School (Trường Thiết Giáp Quân Đội Hoa Kỳ) cách đây nhiều năm; Michael Do (Đổ Văn Phúc), Nguyễn Kỳ Phong, Nguyễn Xuân Phong, Nguyễn Tín, Trần Hội cùng Paul Nguyễn Văn; và Trung tá Chu Văn Viên, người đã chuyển ngữ bộ Indochina Monographs (Các Biên Khảo về Đông Dương), người đã cung cấp cho tôi những chi tiết hậu trường quý giá trong thời gian thực hiện các biên khảo. Và tôi cũng xin cảm ơn Jackie Bông-Wright, người đã giúp tôi tìm ra được Trung tá Viên và đã khuyến khích tôi trong việc thực hiện công trình này; và cũng xin cảm ơn Bil Laurie với Merle Pribbenow, các học giả từng hiểu biết rất ư là thâm sâu trong nhiều khía cạnh về Cuộc Chiến Việt Nam.
Có hai học giả cực kỳ thông thái về lịch sử và đầy kiến thức về Cuộc Chiến Việt Nam mà đã được Đại học Texas Tech nhờ đọc duyệt qua toàn bộ công trình này, và cũng đã góp ý, hầu giúp cho công trình được hoàn hảo hơn khi cuối cùng sẽ được xuất bản. Tôi trân trọng ghi ơn Giáo sư Andrew West và TS James Willbanks đã tận tình trong vai trò đó của họ.
Cuối cùng, và mãi mãi, tôi xin ghi xuống đây lòng biết ơn xâu xa của tôi đối với nhà tôi, Virginia Mezey Sorley, một chuyên viên truy tìm tài liệu thư viện tuyệt vời, mà đã từng cống hiến nhiều năm trung thành hầu phục vụ cho công ích.
KẾT LUẬN
Vào ngày tháng 5 năm 2000, nhân dịp Đại Hội Thiết Giáp Thường Niên (Annual Armor Conference) tại căn cứ Fort Knox, Kentucky, một buổi lể đặc biệt đã được tổ chức để vinh danh 712 sĩ quan Nam Việt Nam từng tu nghiệp tại Trường Thiết Giáp Quân Đội Hoa Kỳ trong suốt thời kỳ cuộc chiến.
Năm cựu sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tham dự buổi lể đó. Đã có mặt Trung Tướng Vĩnh Lộc, từng mãn khóa năm 1955 tại Đại học US Army Command and General Staff College (Tư lệnh Quân đội và Tham Mưu Cao Cấp), từng nhiều lần đảm trách chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trường Thiết Giáp, rồi Tư lệnh Quân Khu II và Chỉ Huy Trưởng Đại Học Quốc Phòng.
Đại tá Hà Mai Việt, thì vào năm 1959 từng tốt nghiệp Khóa Chỉ Huy Cấp Chi Đoàn (Company Commander) tại Trường Thiết Giáp Kỵ Binh Mỹ và khóa Đào Tạo Sĩ Quan Cao Cấp (Army Officer Advance Course) vào năm 1962, nơi mà chúng tôi cùng là đồng khóa, đã từng là chỉ huy trưởng tại Trường Thiết Giáp, đã từng chỉ huy cấp Chi Đoàn, rồi Thiết Đoàn và cũng là chỉ huy trưởng G-3, Phòng Tổng Quản trị của Lực Lượng Thiết Giáp, cũng như là Tỉnh Trưởng tỉnh Quảng Trị và G-3 Phòng Tổng Quản trị của Quân Khu I.
Đại tá Trần Ngọc Trúc, từng tốt nghiệp Khóa 1957 Sĩ quan Truyền tin (Communications Officer Course) và Khóa Chỉ Huy Cấp Chi Đoàn (Company Commander) tại căn cứ Fort Knox, cũng như hoàn tất khóa tu nghiệp Đào Tạo Sĩ Quan Cao Cấp (Army Officer Advance Course), thì cũng từng chỉ huy cấp chi đoàn, rồi cấp thiết đoàn và cuối cùng là lữ đoàn thiết kỵ
Trung tá Nguyễn Hữu An, tốt nghiệp Khóa 1959 Sĩ quan Truyền tin (Communications Officer Course) thì từng chỉ huy cấp chi đoàn, rồi thiết đoàn.
Thiếu tá Cao Hùng Phong, từng chỉ huy chi đoàn thiết giáp, đã là sĩ quan điều hành của một thiết đoàn và cũng là một cựu quận trưởng. Sau này thì ông là chủ tịch của Hội Cựu Chiến Binh Thiết Giáp Việt Nam tại Hoa Kỳ.
Như nhiều người hiện diện tại buổi lể cũng đã biết, Tướng Donn Starry và Giáo sư George Hofmann gần đây đã cùng kiểm sữa một ấn phẫm về lịch sử của lực lượng Thiết Giáp Mỹ có tựa là Camp Colt in Desert Storm (Căn cứ Colt trong Chiến dịch Bão tố Sa mạc). Trong chương viết về Cuộc Chiến Việt Nam, tôi đã có nhận xét là thiết vận xa thì cũng từng được dùng để chuyển quân và đã chính là phương tiện chính yếu trong cuộc chiến đó, và cũng chính người quân nhân Việt mới đã từng có sáng kiến tăng cường thêm hỏa lực, rồi cũng tăng gia bảo vệ phương tiện đó, bằng cách phụ thêm với lớp vỏ bọc bằng kim loại mà cuối cùng, kết quả đã là các ACAC ~ Armored Cavalry Assault Vehicle (Quân xa Thiết kỵ dùng để Tấn công). Chúng ta đã học hỏi được ngay từ chính họ, để rồi định chế hóa những gì họ đã phát triển ra được mà thôi.
Đa số mổi quân nhân Mỹ thì đã chỉ phục vụ một nhiệm kỳ một năm tại Việt Nam, tuy là cũng có nhiều tay nhà nghề thì cũng từng trở lại lần thứ nhì và thậm chí, cũng tới cả ba lần. Còn các vị sĩ quan Việt đó, thì lại chỉ phục vụ có một lần mà thôi – phục vụ xuyên suốt cả cái thời gian của toàn cuộc chiến đó. Đại tá Nguyễn Hữu An thì từng chỉ huy một chi đoàn thiết giáp trong cả bốn năm, rồi sau đó cũng bốn năm với một thiết đoàn. Đại tá Trần Ngọc Trúc thì cũng vậy, rồi sau đó thì chỉ huy một lữ đoàn thiết kỵ. Tướng Vĩnh Lộc thì từng chỉ huy một sư đoàn, rồi cả quân đoàn trong hai năm để rồi đãm nhiệm chức chỉ huy trưởng Đại học Quốc phòng trong vòng sáu năm. Rất ư là nhiều sĩ quan khác cũng đã từng có một cuộc đời binh nghiệp như vậy.
Tại xứ Mỹ này, thì họ và gia đình của họ, và nhiều người như họ, đã giúp cho xã hội và văn hóa của đất nước này, ngày càng thêm phong phú, bằng sự siêng năng, cùng chu toàn tốt bổn phận công dân của họ. Họ cũng đã cùng nhau gởi trên cả tỹ Mỹ kim hàng năm về cho gia đình và bạn bè hiện vẫn còn sinh sống tại Việt Nam, và do đó, đã là một trong những nguồn lợi tức to lớn nhất của đất nước đó.
Và rồi hiện nay, người dân ở miền Nam, vùng đất từng nguyên được gọi là Việt Nam Cộng Hòa, thì lại cũng đang sản xuất cho tới cả 80% của toàn tổng sản lượng quốc gia, cho dù họ chỉ là phân nữa của toàn thể dân số toàn quốc mà thôi.
Một cách gẩy gọn, như từng đã được ghi nhận tại cái buổi lể tưởng niệm ở căn cứ Fort Knox, thì chúng ta cũng có đầy đủ lý do, để có quyền được hãnh diện về các bạn đồng liêu Việt Nam của chúng ta, vì tư cách của họ trong toàn suốt cuộc trường chiến đầy gian khổ, cũng như về phong thái mà họ đã tỏ ra, nhân cái kết cục đau thương về sau đó.
Trong những ngày cuối của chiến trận, một số lớn người Việt đã quyết định bỏ đất nước ra đi, thay vì rồi sẽ phải bị sống dưới sự cai trị của Cộng sản. Đợt đầu thì đã được di tản qua Chiến dịch Operation Frequent Wind, từng được thực hiện trong những ngày cuối của cuộc chiến trong tháng 4 năm 1975, mà nhân đó, toàn thể những Mỹ kiều đều được bốc đi bằng tàu thủy hay phi cơ, cùng với độ 130.000 người Nam Việt, mà cùng gia đình, đã bị xem như là sẽ bị hiểm nguy nhất. Trong những ngày kế tiếp, rất ư là nhiều người Nam Việt khác, mà rất nhanh sau đó, đã được mệnh danh chung là những ‘thuyền nhân’, bèn ra đi trên bất kỳ những gì mà khả dĩ có thể nổi được mà không bị chìm xuống nước, ráng thách đố các hiểm nguy tai ương về thời tiết, về khả năng bị chết đói, và ngay cả hiểm họa hải tặc, trong niềm khát vọng đi tìm tự do. Một số, được đoán là rất là lớn, mà cũng không thề nào biết được là bao nhiêu, thì cũng đã đành phải bỏ mạng trong cố gắng đó mất thôi.
Nhiều người tỵ nạn của dạo ban đầu đã tới được Mỹ, và rồi tạm định cư tại nhiều căn cứ quân sự như là đồn Fort Chaffee, Arkansas; Căn cứ Camp Pendleton, California; khu Indiantown Gap Military Reservation, Pensylvania; căn cứ Eglin AirForce Base, Florida; và sau khi có được người bảo lãnh, thì họ đã ra đi sinh sống tại những căn nhà mới khác. Nhiều người đã về cư trú, để rồi sau đó, định cư luôn trong cuộc sống mới tại quận Orange County, California; tại Houston và các vùng phụ cận của Houston, Texas; ở vùng miền Bắc của Virginia; và thậm chí, cả luôn tại Minneapolis và St. Paul, Minnesota. Có những nhóm khác, nhỏ hơn, thì đã an cư rải rác khắp nước Mỹ.
Sau đó thì đã có liên tiếp các loạt nhập cư – những người được tái định cư tại Mỹ qua cái được gọi là Orderly Departure Program (Chương trình Ra Đi trong Vòng Trật Tự) – mà đã cùng đưọc nhận như là di dân (và, như đã từng được thương lượng trước với chính phủ cộng sản Việt Nam, đều được xuất ngoại mà không bị cản trở). Nhân đợt cuối của chương trình này, gần đúng một phần tư thế kỷ sau cuộc chiến đó, thì một người từng tốt nghiệp trường võ bị West Point  là Nick Sebastian, đã qua Sài-gòn trong vòng ba tháng trong tư cách nhân viên của Sở Immigration and Naturalization Service (Di trú và Nhập tịch), hầu phỏng vấn các người xin đi tỵ nạn chính trị tại Mỹ, những cựu ‘thuyền nhân’ trong các trại tỵ nạn thuộc vùng Đông Nam Á từng bị cưởng bức phải về lại quê nhà. Đối với Sebastian, thi đó quả là một kinh nghiệm cảm động mà cũng đầy khiêm tốn, vì ông đã thấy được tận mắt, cái đất nước Việt Nam và người dân xinh đẹp tại đó, mà vẫn đang cầm cự trong một tinh thần đáng kính phục, dưới một chế độ hà khắc và trong một hoàn cảnh kinh tế cực kỳ khó khăn. Ông đã kể lại: ”Mọi người, mà tôi đã được gặp trong nước, thì đều cùng chấp nhận sự mất mát của họ, và trong rất nhiều trường hợp, sau đó cũng từng đã bị đày đọa đến mức không thể nào tưởng tượng được nổi, nhưng họ vẫn bình thản, tràn đầy nghị lực, không hề bị gãy đổ và sẽ vẫn trường tồn, một điều thật là đáng kính nể mà cũng thật là đáng kinh sợ mà thôi”.
Nói chung, với năm tháng, thì có lẻ đã có tới một triệu người Việt từng tìm đường tới đuợc Mỹ. Và tại đây, họ đã thực sự thực hiện được cái giấc mộng Mỹ quốc, bằng cách chứng minh cái lòng quyết tâm, cái bản tính cần cù, tính cần kiệm, chí thăng tiến, tài năng kinh doanh và sự bén nhạy về buôn bán, nét khao khát về học hành, và – nói chung – đặc biệt cực kỳ rất ít khi tỏ lộ nét chua chát. Nhiều người nay đã hãnh diện trở thành công dân Hoa Kỳ, và một số thuộc thế hệ trẻ hơn, thì cũng đã phục vụ một cách gương mẫu đáng nể trong quân đội Mỹ rồi.
Nhân dịp tưởng niệm lần thứ hai mươi lăm biến cố Sài-gòn bị thất thủ, thì Hạ viện Hoa Kỳ, qua một hành động cực kỳ vô ích, đã bèn thông qua một nghị quyết nhằm thúc dục “chấm dứt đàn áp về chính trị tại Việt Nam và yêu cầu Tổng Thống phải cho các lãnh đạo Việt biết là Hoa Kỳ chờ đợi Việt Nam phải tôn trọng các quyền về chính trị và tôn giáo đối với các công dân của họ”. Cái kết quả biểu quyết 413 chống 3 ủng hộ cái nghị quyết đó, đã đến trể mất cả một phần tư thế kỷ, hầu khả dĩ có thể mang lại ảnh hưởng hay đảo ngược được việc gì, lại càng không hề có thể làm dịu bớt nổi đau thương, hay chỉ để xin lổi mà thôi, về cái hành vi bỏ rơi các người bạn đồng minh xấu số, ngay chính bởi cái Quốc Hội Hoa Kỳ này.
Cũng thật may mắn, tại Mỹ cũng như khắp mọi nơi, số cả nhiều triệu người tha hương Việt Nam, mà nay đã tạo nên một ‘diaspora’ mới, đã tìm được tự do, đã đang làm giàu thêm cho các nền văn hóa và kinh tế của các nước từng nhận họ. Tại đây thì thực sự, cuối cùng, họ cũng không có chiến thắng gì cả, nhưng tinh thần và ý chí, cùng lòng can đãm với quyết tâm của những kẻ từng sống với quan niệm đó, cũng đã tìm ra được môi trường thuận lợi tại đây và những nơi khác trên khắp thê giới tự do. Nhờ vậy, tất cả chúng ta rốt cuộc, thì cũng cùng nhau khá hơn mà thôi.
VỀ CÁC BIÊN TẬP VIÊN
LEWIS SORLEY là thế hệ thứ ba của một gia đình đã cùng đều tốt nghiệp United States Military Academy (Đại Học Quân Sự Hoa Kỳ), mà cũng tốt nghiệp Tiến sĩ tại Đại Học John Hopkins. Ông đã phục vụ trong ban giảng huấn tại West Point và Army War College (Đại Học Chiến Tranh Quân Sự).
Ông đã từng phục vụ trong quân đội như là chỉ huy trưởng về thiết giáp và thiết kỵ tại Đức, Việt Nam và Hoa Kỳ, cũng như từng đã nắm những chức vụ về tham mưu tại văn phòng Bộ Trưởng Quốc Phòng và Tổng Tham Mưu Trưởng. Tại Việt Nam, trong hai năm 1966 và 1967, ông  phụ trách về kế hoặch với đơn vị I Field  Force, Vietnam và sau đó là sĩ quan điều hành của một tiểu đoàn thiết giáp, tiểu đoàn 1st Battalion, 69th Armor, chuyên trách vùng Pleiku trên Cao nguyên Trung phần Việt Nam.
TS Sorley là tác giả của hai bộ tiều sử, Thunderbolt: General Creighton Abrams and the Army of His Times Honorable Warrior: General Harold K. Johnson and the Ethics of Commad. Bộ tiểu sử về Johnson đã được trao thưởng giải Army Historical Foundation’s Distinguised Book Award. Một phân đoạn trong bộ tiểu sử của Abrams thì cũng đã được giải thưởng của Peterson Prize, như là bài viết khoa bảng nhất về quân sử trong năm.
Tác phẩm A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam đã từng được đề cử cho giải Pulitzer. Bộ sách đã được chỉnh sữa của ông là Vietnam Chronicles: The Abrams Tapes, 1968-1972, cũng từng được xuất bản trong loạt bài Modern Southeast Asia Series do Texas Tech University Press ấn hành, thì đã nhận được giải thưởng Army Historical Foundation’s Trefry Prize và được nêu lên như là đã cống hiến được một viễn tượng độc đáo về nghệ thuật chỉ huy. Và cũng rất gần đây, Trung Tâm American Veterans Center đã trao giải thưởng Goodpaster Prize để ghi nhận sự cống hiến của ông cho bộ môn học bổng về quân sự.
TS Sorley đã từng là Thư ký của Board of Directors of the Army Historical Foundation (Hội Đồng Giám Đốc Hiệp Hội Quân Sử) và cũng là Giám đốc Điều hành Danh Dự của Association of Military Colleges and Schools of the Unites States (Hiệp Hội các Đại Học và Trường Quân Sự Hoa Kỳ).
CÁC TÁC GIẢ
ĐẠI TƯỚNG CAO VĂN VIÊN
image013
Đại tướng Cao Văn Viên đã là vị Tổng Tham Mưu Trưởng của QĐVNCH trong suốt một thập niên, mãi từ năm 1965 cho tới cuối trận chiến vào năm 1975. Trước đó, ông đã từng nổi danh khi còn là vị Chỉ Huy Lữ Đoàn Dù. Ông gia nhập quân ngũ vào năm 1949, như là một sĩ quan tiểu đoàn trưởng trẻ trung, và cũng đã phục vụ ở Bộ Tổng Tham Mưu. Tới năm 1957 thì ông tốt nghiệp US Army’s Command and General Staff College (Đại học Quân sự Hoa kỳ về Chỉ  huy và Tổng tham mưu) tại trại Fort Leavenworth. Trước khi đảm nhận chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng, thì ông đã phục vụ trong tư cách là Tham Mưu Trưởng tại Bộ Tổng Tham Mưu, và sau đó, là Chỉ Huy Trưởng Quân Khu III.
Tưóng William Rosson đã mô tả Tướng Viên như là một sĩ quan có lập trường phi chính trị, mà đã từng hiểu được và là gương mẫu của nền đạo đức về binh nghiệp, và do đó, đã “được tín nhiệm bởi cả bên Việt lẫn bên Mỹ”. Tướng Bruce Palmer cũng có phụ thêm, “Tướng Viên, với một kinh nghiệm lâu dài về chiến trường, đã là một quân nhân, đúng với ý nghĩa của nó, và cũng là một vị chỉ huy quân sự cực kỳ đặc biệt. Ông đã không hề phản Tổng Thống Thiệu, đã từng ủng hộ chính sách Hoa Kỳ với tất cả khả năng của mình, đã từng luôn luôn sẳn sàng cộng tác với giới chỉ huy cấp cao của Hoa Kỳ là MACV, và rất ư là luôn luôn chăm lo cho binh sĩ của mình – mà nói chung thì quả thật không phải là một công việc đơn giản được”. Khi Tướng Viên vô quốc tịch Mỹ – tại Alexandria, Virginia, trong năm 1982 – thì Tướng Palmer đã nhận xét như sau: ”Theo tôi nghỉ, thì đất nước chúng ta vừa mới được có thêm một công dân can đãm và đầy đủ tư cách”.
TRUNG TƯỚNG ĐỒNG VĂN KHUYÊN
image015
Tướng Khuyên từng là Chỉ Huy Trưởng về Tiếp Vận và chính là người đã tổ chức và thành lập Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận Trung Ương của QLVNCH và đã điều khiển Bộ này trong nhiều năm. Ông khởi đầu binh nghiệp vào năm 1952, sau khi tốt nghiệp Trường Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức, nơi mà sau nhiều năm tác chiến, ông đã trở về trong chức vụ Trưởng ban Giảng huấn tại trường củ, mà sau đó, đã đổi tên thành là Trường Bộ Binh Thủ Đức.
Ông cũng đã được bổ nhiệm cho Phòng J-4 tại Bộ Tổng Tham Mưu vào năm 1958, và sau một thời gian phục vụ tại đó, đã là Chỉ Huy Trưởng về Tiếp vận của Quân khu III, vào tháng 4 năm 1964. Rồi sau một thời gian ngắn trong tư cách Tham Mưu Trưởng của Quân khu III, tới năm 1965, thì ông đã được chỉ định làm Phó Giám đốc, thuộc Bộ Quốc Phòng trong chính quyền.
Tới năm 1967, thì ông lại được đưa về Bộ Tổng Tham Mưu, nay thì để nắm chức Trưởng Phòng Tiếp Vận J-4, và đồng thời cũng đã tổ chức được, rồi đích thân điều khiển, Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận Trung Ương. Trong những năm cuối của trận chiến, ông đã đồng thời nắm cả chức vụ cao cấp về tiếp vận lẫn Tham Mưu Trưởng tại Bộ Tổng Tham Mưu, dưới quyền Tướng Cao Văn Viên, người mà đã từng ghi nhận là nhờ Tướng Khuyên đã là “một nhân viên tận tâm và siêng năng”, nên ông ta mới có khả năng chu tòan được cả hai trách vụ đó.
Tướng Viên cũng đã có nêu lên khà năng của vị chuyên viên thuộc quyền về tiếp vận, như là “một quá trình lâu dài của một nhân vật từng đã dính líu vào một hệ thống, mà mình đã giúp phát triển từ con số không”. Kinh nghiệm quân sự đa dạng của ông, đã là từ vị thế tác chiến, rồi tới huấn luyện, rồi quản trị nhân sự và tiếp vận.
Barry Shillito đã có nhớ lại, là Tướng Abrams “cảm thấy Tướng Khuyên đúng là một người thanh liêm đúng với tròn vẹn ý nghĩa của nó – nét thanh sạch tỏa rộng khắp châu thân”. Tướng Abrams cũng đã từng tuyên bố với ban tham mưu của mình là Tướng Khuyên “là một trong những sĩ quan tài giỏi nhất” của quân đội Miền Nam Việt Nam. Và, phóng viên về chiến trường Mỹ là George McArthur cũng ghi nhận Tướng Khuyên là con người của quân nhu, người từng đã sáng tác “một bài hát sống động dùng để huấn luyện”, với tựa đề là “Huyền sử ca về khẩu M-16”.
TRUNG TƯỚNG NGÔ QUANG TRƯỞNG
image017
Tướng Viên đã mô tả Tướng Trưởng như là “một quân nhân chuyên nghiệp từng đã nắm mọi chức vụ cần phải trải qua trong nấc thang binh nghiệp”.  Ông đã bắt đầu phục vụ trong binh nghiệp sau khi mãn khóa năm 1954 tại Trường Bộ Binh Thủ Đức. Nhiệm sở đầu đã là với Lữ đoàn Dù và rồi, sau đó, khi Lữ đoàn được bành trướng, như là Chỉ Huy Phó của Sư đoàn Dù. Tới năm 1966 thì ông nắm chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn I. Phóng viên báo New York Times là A.J.Langguth cũng đã từng mô tả cái sư đoàn dưới quyền chỉ huy của ông như là ”niềm hãnh diện của quân đội chính quy của Việt Nam”,  và cũng đã từng có nhận xét là Tướng Trưởng ”đã chỉ huy các quân nhân của mình một cách kiến hiệu, can đãm và thanh liêm”. Nhân khi còn chỉ huy đơn vị này trong Trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân, Tướng Trưởng đã từng vang danh qua hành vi chống cự kiên trì và sau đó, là tái chiếm lại cố đô Huế, khi điều khiển từ tổng hành dinh đặt tại Cổ thành.
Vào năm 1970, Tướng đã đãm nhiệm chức Tư Lệnh Quân Khu IV tại vùng Châu thổ sông Cữu long ở miền Nam Việt Nam. Ngay giữa cơn khủng hoảng về chiến trận của Nam Việt qua Cuộc Tổng Tấn công Phục Sinh 1972, Tướng Trưởng đã được thuyên chuyển ra làm Tư lệnh Quân Khu I, và liền lâm trận ngay tại vùng phía Nam dưới ngay Khu Phi Quân Sự. Sự hiện diện cùng tiếng tăm cương quyết của ông đã tức thì ổn định được tình hình, và rồi dưới quyền chỉ huy của ông, các lực lượng Nam Việt đã tức thời tập hợp lại để phản công, và sau đó là tái chiếm lại được hầu hết lãnh thổ đã từng bị địch chiếm.
Khi thảo luận về sự thách đố mà Tướng Trưởng đã từng phải đối phó, thì Tướng Viên đã cho biết, “trách nhiệm mà vị Tân Tư Lệnh Quân Khu phải chu toàn quả thật là vĩ đại”. Rồi ông tiếp thêm: “Chỉ trong có vài ngày, như là một phép lạ, tình hình Quân Khu I rõ ràng đã được cải thiện và ổn định lại, khi kế hoặch phòng thủ của Tướng Trưởng bắt đầu được khởi động”. Cuối cùng thì Tướng Viên thêm: “Trong tư cách một Tư lệnh Vùng, ông ta đã thành công đáp ứng được thử thách to lớn nhất mà mọi chỉ huy trưởng về quân sự tại chiến trường có thể phải bị đối phó với”.
Tướng Merlvin Zais còn nhớ hình ảnh của Tướng Trưởng như là “một con người tuyệt diệu; một trong những quân nhân sáng ngời nhất mà tôi đã từng được gặp. Ông có khả năng nhận xét rất ư là bén nhạy, cực kỳ can đãm và cực kỳ là thanh liêm”.  Tướng Zais còn thêm, “Chúng tôi rất mến Sư đoàn 1 và trong mọi tiêu chuẩn, cùng mọi khía cạnh có thể nói đến được, thì đó quả đúng là một sư đoàn tuyệt vời”. Đại tá Harry Summers thì lại miêu tả Tướng Trưởng như là “vị tướng xuất sắc nhất của QĐVNCH”. Tướng Creighton Abrams thì ca ngợi Tướng Trưởng như là “thông minh, đầy sáng kiến và rất tháo vát”, và đã nêu ra các đặc tính đó như là đã tạo nên được sự thành công kiến hiệu của Sư đoàn 1 Bộ Binh, “mà đã rõ ràng vượt xa các sư đoàn bộ binh khác để được xem như là sư đoàn thành công và giỏi nhất của QĐVNCH”.
THIẾU TƯỚNG NGUYỄN DUY HINH
image019
Tướng Nguyễn Duy Hinh từng phục vụ gần như toàn cuộc đời binh nghiệp trong tư cách sĩ quan tham mưu ở cấp cao. Ông khởi đầu binh nghiệp vào năm 1952, sau khi tốt nghiệp thủ khoa khóa đầu tiên đào tạo sĩ quan trừ bị của Việt Nam. Trong những năm đầu, ông đã phục vụ tại miền Bắc Việt Nam và chỉ huy thiết giáp cấp chi đội, rồi chỉ huy thám sát cấp trung đội trong thời gian xẩy ra Cuộc Chiến Đông Dương của Pháp. Sau khi đất nước bị chia đôi vào năm 1954, ông được gởi đi tu nghiệp về thiết giáp ở trường thiết giáp và kỵ binh của Pháp là Saumur, và rồi tại trường Thiết giáp Hoa kỳ ở trại Fort Knox, để rồi sau đó, đã liên tiếp chỉ huy Trường Thiết Giáp Việt Nam, rồi Lữ đoàn 2 Thiết giáp và Tư lệnh Phó Thiết Giáp. Ông cũng từng tốt nghiệp Đại học Quân sự Hoa kỳ về Chỉ huy và Tổng tham mưu tại Trại Fort Leavenworth.
Sau đó, khi về lại Việt Nam, thì ông được chỉ định làm Tham mưu truởng tại Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ đức và đã phục vụ trong chức vụ này trong hai năm. Vào giữa thập niên 1960 thì ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, và rồi là Chỉ huy Phó của các lực lượng này. Tới tháng 10 năm 1966, ông nắm chức Tư lệnh Đặc khu Quảng Đà (Đà-nẳng cùng tỉnh Quảng nam), rồi Tham mưu trưởng Quân đoàn III, và trong tháng 6 năm 1968, thì là Tham mưu trưởng Quân đoàn I. Tới tháng 5 năm 1969, ông về học khóa 2 Đại học Quốc phòng tại Sài-gòn, để rồi khi mãn khóa vào tháng 5 năm 1970, đã là khóa sinh đầu tiên của khóa mà đã được thăng chức chuẩn tướng.
Sau thời gian làm Tư lệnh Phó Quân khu IV, vào tháng 6 năm 1972 thì ông làm Tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ binh đóng tại Quân Khu I, nơi mà, theo nhận xét của tướng Trưởng, ông “đã thành công tổ chức và đưa vào khuôn khổ sư đoàn này để thành một đơn vị tác chiến đầy khả năng” mà đã từng bị thiệt hại hao tổn nặng nề trong những tuần đầu của Cuộc Tổng Tấn công Phục Sinh 1972. Sự kiện sư đoàn đã trở ra lại để tác chiến, theo lời Tướng Trưởng, “đã thực sự là một thành tựu cực kỳ đáng kể”. Một năm sau đó, thì Tướng Hinh được thăng lên Thiếu tướng để ghi nhận cho thành tích tuyệt hảo trong chức vụ tư lệnh sư đoàn đó.
CHUẨN TƯỚNG TRẦN ĐÌNH THỌ
image021
Tướng Thọ đã từng là một sĩ quan cực kỳ lão luyện về kế hoặch và hành quân. Ông khởi đầu binh nghiệp vào năm 1952, sau khi tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc gia Đà Lạt. Sau đó, ông đã nắm chức Quận trưởng Quận Củ Chi, tỉnh Bình Dương thuộc Quân khu III, rồi là Trưởng Ban G-3 sư đoàn, và cuối cùng là Trưởng Phòng J-3 thuộc Bộ Tổng Tham Mưu trong bẩy năm trời.
ĐẠI TÁ HOÀNG NGỌC LUNG
image023
Tướng Viên đã khen Đại tá Lung như là “chuyên viên tình báo giỏi nhất của QĐVNCH”. Đó là do ông đã phục vụ một thời gian lâu dài, chỉ huy Phòng J-2 tại Bộ Tổng Tham Mưu. Ông đã gia nhập binh ngũ vào năm 1952, sau khi mãn khóa đầu tiên tại Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định ngoài miền Bắc. Ông đã từng tác chiến chống Việt Minh và khi lên lon đại úy, đã được giao chỉ huy một tiểu đoàn. Ông đã di cư về miền Nam sau hiệp đinh 1954. Sau đó, ông đã phục vụ trong tư cách sĩ quan liên lạc với Quân đội Hoa Kỳ tại Trại Fort Bragg. Ông đã tốt nghiệp Cao học Luật tại Đại học Sài-gòn và đã là một thành viên quân sự trong phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa ở Hội nghị Hoà Bình Ba-lê năm 1969.
Nhân một buổi hội thảo do MACV tổ chức vào năm 1971, mà Tướng Abrams cũng có tham dự, thì Đại tá Lung đã được mô tả như là ”một quân nhân nhà nghề tận tâm, đầy tài năng, mà cũng từng được phụ giúp bởi một ban tham mưu ưu tú và luôn luôn cầu tiến”. Trung tá Chu Xuân Viên đã có ghi nhận là Đại tá Lung quả từng đã có ”các ước lượng về khả năng, cùng mưu đồ của địch luôn luôn đa phần đều chính xác. Đầu năm 1975, thì ông cũng đã tiên liệu là sớm nhất thì mãi tới năm 1976 mới có thể xẩy ra cuộc Tổng Tấn công của Cộng sản, chi tiết mà sau này, chính bộ chỉ huy tối cao của Quân đội Nhân dân đã có thú nhận là rất đúng”.
TRUNG TÁ CHU XUÂN VIÊN
image025
Trung tá Viên đã được bổ nhiệm làm tùy viên quân sự tại Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Hoa-thịnh-đốn, chức vụ mà ông đã vẫn đãm trách mãi cho tới mùa xuân 1975. Với Chương Trình Biên Khảo Tự Viết về Đông Dương, thì ông đã phụ trách công tác khó khăn nặng nề, hầu chuyển ngữ qua Anh văn mọi biên khảo từng đã được viết bằng tiếng Việt bởi các sáu tác giả; ông cũng có đóng góp trong tư cách cố vấn nữa. Theo ghi nhận của Tướng Viên, thì ông là “một phân tích gia đầy hiểu biết, với một ý thức sắc bén về quân sử, và cũng đúng nghĩa được, quả là một tác giả theo toàn nghĩa của nó”. Tướng Trưởng cũng khen ngợi Trung tá Viên trong vai trò từng cống hiến cho Chương Trình Biên Khảo, và đã cho biết là ông ta đã hoàn tất “một công việc cực kỳ chuyên nghiệp, nhân khi chuyển ngữ và rồi phối kiểm, mà đã giúp mang lại được đặc tính thống nhất và liên kết cho toàn bộ công trình”.
Từng là một nhà báo trước khi vào quân ngũ, ông Viên đã có làm việc cho Agence France Press (ThôngTấn Xã Pháp) tại Hà-nội dạo 1949-1952. Sau đó thì ông đã phục vụ trong một thời gian dài như là sĩ quan truyền tin, kể cả bốn năm như là Trưởng Ban Liên Lạc Văn Phòng Thủ Tướng, cũng như là Trưởng Phòng Tình Báo Chiến Lược trong vòng ba năm, trước khi đi nhận nhiệm sở tại Hoa-thịnh-đốn. Trong số thành tích của ông, thì cũng đã có công trình chuyển ngữ tác phẫm lừng danh của Jean Larteguy là The Centurions qua Việt ngữ, mà đã từng được đăng từng kỳ trên báo Thái Độ.
BÀ PHẠM THỊ BÔNG
Bà Bông từng được bổ nhiệm phục vụ tại Tòa Đại sứ VNCH ở Hoa-thịnh-đốn và cũng là một đại úy trong QĐVNCH. Bà đã phụ trách đánh máy toàn bộ Chương Trình Biên Khảo Tự Viết về Đông Dương. Tất cả các tác giả đều đã ca ngợi bà, như là Tướng Khuyên cũng đã từng nhận xét, là đã trải qua “bao giờ ròng rã để đánh máy, chỉnh sữa và phụ trách về mặt hành chánh” của bao biên khảo khác nhau.
image027
image029

*****

  • Vì sao chỉ những sĩ quan chứng nhân này MỚI được MỜI để tham gia Dự án Indochina Refugee – Authored Monograph Program (Tỵ Nạn Đông Dương – Chương Trình Biên Khảo Tự Viết) cũng nói lên được cái nhìn, nói chung, của giới quân sự Hoa Kỳ về các vị chỉ huy quân sự của VNCH. Như đã nói trong phần trên, TS Lewis Sorley cho biết đã cắt bỏ rất nhiều đoạn bị ‘trùng’, nhưng tác phẫm thu gọn các bài biên khảo, dù được in với ‘Font Times 6-point’ rất nhỏ, thì cũng dày tới 944 trang khổ 1cm x 23 x 16 và do Texas Tech University Press xuất bản lần đầu vào tháng chạp năm 2010, như là chỉ để dùng tham khảo mà thôi (phụ chú của người chuyển ngữ).
  • Tiếc là TS Lewis Sorley đã không có trích các nhận xét của vị tướng Tư lệnh Mỹ từng chỉ huy quân đội đa quốc gia trong Chiến dịch Desert Shield và Desert Storm nhằm đánh giải cứu Kuwait từng bị Irak đánh chiếm dạo 1990 và 1991. Trong tác phẫm It Doesn’t Take a Hero: The Autobiography of General Norman Schwarzkopf của nhà xuất bản Bantam vào tháng 9 năm 1993, lần tái bản bìa mềm với 625 trang), thì Tướng Herbert Norman Schwarzkopf Jr. đã viết về Tướng Trưởng, gần như là ‘tôn thờ’ và hoàn toàn dành riêng cho ông tại tất cả là 13 trang. Và chi tiết mà tôi ‘khoái’ nhất, đã là khi Tướng Schwarzkopf Jr. nói về ước mơ của mọi sĩ quan cao cấp Mỹ là được học tu nghiệp tại Đại học US Command and General Staff College (Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp Hoa Kỳ), với kỷ niệm là Tướng Trưởng từng tâm sự với ông là tiếc không được đi tu nghiệp tại đó, nhưng theo tác giả thì chính ông ta mới là người KHÔNG cần học tại đó, bởi vì tất cả những gì được giảng dạy tại đó thì ĐỀU có vẻ như chính đã đều do Tướng Trưởng soạn ra! (phụ chú của người chuyển ngữ).
Bà Ngô Quang Trưởng cũng đã có nói về việc Tướng Trưởng viết biên khảo này trong bài “Phỏng vấn bà Ngô Quang Trưởng – Nguyễn Tường Tâm” tại
http://www.banvannghe.com/a4349/phong-van-ba-ngo-quang-truong-nguyen-tuong-tam (phụ chú của người chuyển ngữ).

MẤY Ý NIỆM VĂN HÓA ĐÔNG PHƯƠNG CẦN ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH - Thư Hương


Thư Hương

1. Trình độ văn hóa khác với bản chất văn hóa
IMG.949.jpg

Nói đến duy trì những giá trị truyền thống, phát huy văn hóa Á Châu… ta thường gặp thấy  những mối e ngại ngấm ngầm, chẳng hạn văn hóa Á Châu có tính cách tĩnh chỉ, thiếu tiến bộ, nay khôi phục lại có khỏi làm ngăn trở việc tiến gấp rút của nước nhà chăng.

Và dưới con mắt nhiều người, những ai đang cố gắng tài bồi cho nền quốc học, chấn hưng văn hóa Đông Phương, đã không gặp được sự nâng đỡ, lại thường bị coi là lạc hậu. Đó là một tình trạng có hại cho tiền đồ văn học, nhưng ít người nhận ra bởi những sự kiện lớn lao chua xót đập vào mắt, tức là tình trạng các dân tộc Á Châu vì chậm tiến nên bị đè bẹp trước sức mạnh của các nước hùng cường Tây Phương. Điều đó chỉ có ai loạn óc mới dám nghĩ đến chuyện chối cãi. Phương chi sách vở đều đồng thanh một giọng như vậy cả. Ông Tennyson viết “năm mươi năm của Âu Châu còn có giá trị hơn cả một chu kỳ của Cathay”. Mieux vaut cinquante ans d’Europe que tout un cycle de Cathay (thời Trung cổ người Tây Phương gọi nước Tàu là Cathay).

Những câu nói kiểu đó có một phần sự thật, nhưng quá đơn sơ, không đủ bao hàm một tình trạng phức tạp hơn nhiều. Nietzsche có lần đã viết “không gì nói dối bằng sự thành công”. Quả thật văn minh cơ khí là một thành công cực kỳ vĩ đại, nhưng chính vì thế nó cũng đã là một lời nói dối khổng lồ, làm cho ta quên đi rất nhiều chân lý; nó là một môn bài che đậy biết bao lời ngộ nhận mà không mấy học giả tránh khỏi khi phê phán về văn hóa Á Châu; nó khiến nhiều người sống yên hàn với một mớ ý niệm đã lỗi thời mà không nghĩ đến kiểm điểm lại, còn lên mặt ngạo đời. Ở đây chúng tôi thử làm chuyện đó bằng đưa ra một số sự kiện ít được nhắc tới và vì thế loan tin trước là sẽ không đẹp đẽ cho lắm, chúng tôi thấy bất đắc dĩ phải làm thế để mong phần nào lập lại thế quân bình cho sự phê phán xưa nay thường oan uổng quá nhiều cho nền văn hóa Á Châu. (La pensée chinoise. Granet. tr 27 có nhắc tới sự bất công này. Nhiều tác giả cũng nói đến: Creel, Needham, Zenker, Forke…)

Sự oan uổng đó không cần minh oan chút nào nếu đấy chỉ là vấn đề thể diện. Nhưng nhân loại hiện đang trải qua cơn khủng hoảng tinh thần, mà xem ra văn hóa Á Châu có thể giúp vào việc tìm ra ngõ thoát. Do đó sự lên tiếng trở nên cần thiết.

Căn nguyên đầu tiên của sự bất công đó là tại người ta đã quy công cho văn hóa Âu Châu tất cả những sự hào nhoáng của giàu sang “giàu có sinh lễ nghĩa”, những lễ nghĩa đó người ta gán cho văn hóa, nhưng thực ra chính giàu sang tô điểm cho văn hóa.

Điểm này ít được nhận ra bởi nó tinh vi; đàng khác vì giàu sang và văn hóa liên hệ nhau rất mật thiết, “chính giàu sang làm nảy sinh văn hóa”. Đó là luận án của giáo sư Clough đại học đường California nhan đề “Grandeur et décadence des civilisations”. Payot. Điều nhận xét này giúp ta có một ý niệm đúng đắn về tính chất của mỗi nền văn hóa, nên cần được lưu ý. Đây là một thí dụ rất thông thường:

Hai người Việt Nam một thuộc thượng lưu trí thức, một ở bậc nông thôn thất học. Ta thấy ngay một đàng lịch thiệp, ăn nói lý sự, khéo léo, cử chỉ có thể hào hoa phong nhã… một đàng quê kệch, nói năng vụng về thô thiển, cử chỉ co rúi rụt rè… Trong trường hợp này không phải nói ai cũng đồng ý, đó chỉ là chuyện khác trình độ học thức gây ra do giàu nghèo, chứ không phải do tính chất văn hóa, bởi cả hai người cùng ở trong một nền văn hóa Việt Nam. Câu chuyện đơn sơ là thế, nhưng nó sẽ hết đơn sơ khi người giàu kia là Tây còn người nghèo nọ là Đông. Lúc ấy sự phán đoán sẽ không chỉ còn là trình độ học thức mà nó sẽ lấn sang phạm vi tính chất văn hóa Đông Tây không nhiều thì ít, nhất là phạm vi ảnh hưởng giàu sang và văn hóa rất mật thiết. “Miệng nhà sang có gang có thép: Tây giàu bộn nên miệng có cả vàng!” Vì giàu mà số người được học bên Âu Mỹ giàu gấp trăm lần bên ta, văn hóa thêm biết bao cơ hội tiến bước. Việt Nam năm nay (1960) được lối 12000 sinh viên tức trong số 1000 dân thì có 1 sinh viên. Đang khi năm 1948 bên Mỹ đã có 160 sinh viên (theo tài liệu Civilisation de 1960 của Fourastié). Nay chắc còn đông hơn nữa. Nói số tròn: chênh lệch nhau từ 1 đến 200. Về phương diện khác cũng thế, chẳng hạn bên Mỹ có 1200 dàn nhạc đang khi bên ta một dàn cũng còn dở sống dở chết. Sự khác biệt đó sẽ gây lầm tưởng về tính chất văn hóa Đông Tây không sao kể xiết. Một thí dụ: người ngoại quốc ở Sài Gòn thường phàn nàn không thể tìm được cái gì để tiêu khiển khả dĩ ứng đáp được trình độ của họ, đang khi đó ta có những bản nhạc sáng tác rất công phu vẫn nằm chình ình kia, không sao tìm ra được năm ba triệu để đưa ra trước công chúng. Nếu tìm ra được số tiền đó, những du khách đến Việt Nam lúc trở lui sẽ có thể mua thêm ít đĩa hát, để khi trở lại quê nhà thư thả bỏ ra nghe lại những nhạc điệu xa xôi, bấy giờ họ dễ dàng thưởng thức những nét nhạc tinh vi của Việt Nam. Các bộ môn khác cũng thế: quan niệm của họ về văn hóa đối với nước ta sẽ khác hẳn với tâm trạng hiện nay qua những lời phàn nàn nhắc trên…

“Cái khó bó cái nhạc, nó bó hội họa, nó bó triết học, nó bó văn nghệ…” và cái nghèo không cho nảy nở biết bao mầm mống nhân tài. Với người ngoại quốc ta đành nuốt tủi không sao nói lên được, nhưng với người cùng hội cùng thuyền, cũng nên phân tích như thế, biết đâu lại không động tới những người có thể thành Mạnh Thường Quân… Dầu sao cũng là để khỏi thất vọng về tính chất văn hóa của ta: tại nghèo hơn là tại tính chất văn hóa kém.

2. Nếu hỏi: không kém sao lại không tiến bộ để giàu sang được như người thì lỗi ấy tại văn hóa chứ còn tại đâu?

Thưa rằng chưa hẳn như thế, cứ xem như nước Nhật cũng cùng ở trong một đại gia đình văn hóa với Tàu và ta, vậy mà trong ba mươi năm đuổi kịp đà tiến bộ của các nước Âu Châu đi trước hơn một trăm năm. Vậy không phải do văn hóa cho bằng do nhà cầm quyền không thức tỉnh kịp thời. Một nền văn hóa tốt đẹp đến đâu, nếu guồng máy quốc gia bị giao phó vào tay một người vô tài mà lại độc tài, thì đủ làm hư cả vận mệnh một nước một châu, đến khi thức tỉnh thì đã bị trói lại để làm đà tiến cho người. Những cái đó ta gọi là sự may rủi của nước; nói theo kiểu xưa là số mệnh. Chế độ nào cũng có thể xảy ra, Tây cũng như Đông; việc nước văn minh hơn bị thua nước kém văn hóa là chuyện xảy ra thường xuyên trong lịch sử. Mông Cổ không văn minh thắng Tàu, Roma ít văn minh thắng Hy Lạp là tổ văn minh… và nếu xem cổ sử thì hầu như đó là một luật: Sumérie bị Babylon, Babylon bị Assyrie, Assyrie bị Crète, Crète bị Hy Lạp. Nước thắng là man rợ dùng võ lực. Đến khi nước đó trở nên văn minh lại bị đợt man rợ sau… cứ thể để văn minh thêm sinh khí tiến dần. Cho nên ta thua Tây cũng là chuyện không có gì lạ lắm (Civ. III. 329) (1)
(1) Viết tắt, chỉ bộ Histoire de la Civilisation của Will Durant và được ghi rõ số La Mã theo thứ tự bản dịch nhà Payot.

Còn chuyện đói khổ, thì đó là cái nạn chung cho loài người, may ra rồi đây nhờ khoa học sẽ thanh toán nổi chăng; chí như trở về trước thì chẳng nền văn minh nào thoát cả. Đây hãy nói riêng về Âu Châu mà ta thấy phong phú dư dật như nay, trước kia cũng đói khổ như các nơi: giữa khoảng 970 đến 1100 có 60 trận đói đã sát hại người bên Pháp… Không một người nông dân nào bên Anh có thể quên được những trận đói trong các năm 1086 và 1125. Giám mục thành Trèves thế kỷ 12 lấy làm kinh hoàng trước cảnh tượng nông thôn lả đói giết ngựa để ăn thịt (Civ. IX. 272). Ông Fourastié cho biết Âu Châu cũng mới thoát nạn đói từ thế kỷ 19. Tác giả kể chuyện những người trong họ ông hằng ngày đi làm ngoài đồng bao giờ cũng chỉ được một lạng rưởi bánh khô và một củ hành luộc. Chính bố ông là người đầu tiên trong họ được ăn no ngoài những ngày cưới xin đình đám. Tác giả tính đổ đồng thì mức sống năm 1900-1931 cao hơn 10 lần mức sống những năm 1800-1831. (Civilisation de 1960 de Fourastié p.12).

Về cách ăn thì thường ăn bốc, cứ hai người ăn cùng một đĩa, uống cùng một ly. Đồ ăn chưa có cách ướp lạnh nên thường có hơi, do đó người ta ưa dùng đồ gia vị để át mùi. (Civ. XII tr.356).

Đã nghèo khó thì khó thoát được nạn bẩn thỉu. Chỗ ở người nông nô thời trung cổ thật là hôi hám và chật chội; nhà thường bằng tranh có một gian, họa lắm mới được hai gian, đồ ăn thức uống dụng cụ làm bếp để cả trong nhà; dưới đất có một cái ổ bằng lông với rơm rạ, tất cả nhà nằm chung lộn trong đó, kể cả khách… (Civ. XII tr.270). Bên Pháp và Anh người ta ngủ trần truồng trong mọi giai cấp” (Civ. XII p.339). Những đêm đông giá lạnh người ta thường đem các giống vật (bò ngựa) vào nhà để thêm hơi ấm (id tr.274), gần nhà là một đống phân, tất cả vật cũng như người trong trại đều đóng góp vào đó. (Civ. XI tr.271). Bẩn đến nỗi có nhiều câu chuyện kể rằng quỷ Satan phải đuổi người nông nô ra khỏi hỏa ngục, bởi chính quỷ cũng không chịu thấu mùi (Civ. XII tr.276). Trong thế kỷ 14 ở Paris, người ta thường đổ bình đêm tuột xuống phố qua cửa sổ, chỉ báo hiệu bằng một câu vắn “ý tứ nước” (gare! L’eau). Nhà cầu là một món xa xỉ. Người ta thường tự tiện ngay ra ở sân trên chân thang hay ngoài ban công, ở điện Louvre cũng thế. Sau trận dịch tễ năm 1531 có chỉ thị buộc mỗi nhà ở Paris phải có nhà cầu nhưng chỉ thị cũng không được áp dụng luôn.

“Bởi túng ăn và bẩn thỉu là duyên cớ cho những trận dịch tả nhiều hơn mọi kỳ trong lịch sử”. Dịch vàng xảy ra năm 550 và 664 giết hại đến 2/3 dân số Islande. Bên Anh cũng bị những trận như vậy ở thế kỷ 6, 7. Pháp Đức bị dịch đốt ruột gọi là mal des ardents những năm 994, 1043, 1130. Còn nhiều bệnh khác như bệnh tóc (plica polonica) người ta hay quy căn cho đủ thứ, nhưng hầu chắc là tại dân ở chen chúc trong những thành tường xây bít kín, điều kiện vệ sinh sạch sẽ hết sức thậm tệ (lamentable), số trẻ con chết không có thống kê nhưng chắc phải đến 50% (Civ. XII tr.549).

Xem như thế không nên quá nặng lời trách các tiên hiền của ta là không lo cho dân no đủ. Nếu so sánh kỹ ra thấy tiên hiền Đông Phương còn thực tế gấp mấy lần các triết gia Hy Lạp chẳng hạn. Ngay từ bài cảo luận đầu tiên về triết học Đông Phương, tức thiên Hồng Phạm trong kinh Thư đã lộ rõ dấu lo lắng đến vấn đề dân sinh. Trong 8 điểm nhà cầm quyền phải chú trọng thì “nhất viết thực (ăn) nhị viết hóa (Couvreur dịch là les commodités de la vie)… bát viết sư (quân dịch, để cuối cùng). Mối lo âu này sẽ thấy xuất hiện nơi Khổng Tử “thứ, phú, giáo” phú đi trước giáo và cách rành rẽ nơi Mạnh Tử… Nhưng lúc ấy mức tiến hóa nhân loại chưa đi tới giai đoạn khoa học kỹ thuật, nên loài người chưa đủ sức chống nạn đói. Tôi nói tiên hiền thực tế hơn triết gia Hy Lạp, vì bên đó có chế độ nô lệ nên coi khinh miệt việc chân tay. Ngoài khoa hình học thành công, còn thì toàn là triết học kiểu văn nghệ bên ngoài đời sống. Mãi tới thời Archimède mới khám phá chút ít, nhưng cũng là học suy lý. Máy trục và bắn đá ông làm ra, nhưng không có ghi lại, ông cũng như tất cả trí thức thời đó vẫn coi việc tìm lợi ích thiết thực và cơ khí là đê tiện bẩn thỉu (ignoble et sordide). (Civ. VI p.229)

3. Căn cứ thứ ba người ta cho rằng chỉ Âu Châu mới có khoa học, còn các nền văn hóa khác không có.

Nếu có một vài sáng chế thì cũng chỉ là thường nghiệm (empirique) chứ không có khoa học như văn hóa Âu Châu. Câu nói này rất dễ được chấp nhận. Khoa học hiện có đó rồi, nó là sự nghiệp vĩ đại của Châu Âu, nên sự giải nghĩa có sai thù để tăng cường uy tín và vinh hiển cho Âu Châu, thì ai cũng đổng lòng chấp nhận, khỏi cần tranh luận. Có nhiều hoạt động khác hứng thú ơn ích hơn là việc cãi cọ nhỏ nhen nọ. Nhưng ta không thể chấp nhận thái độ nhường nhịn và tặng khen một khi giải nghĩa đó “phong thánh” luôn cho những yếu tố tai hại của văn hóa Tây Âu như cổ động đa dục, tuyên dương óc độc chiếm, khuyến khích buông lung… bởi chính đó là những nguyên nhân gây nên cuộc khủng hoảng ngày nay. Vì thế mà chúng tôi thấy cần đặt lại vấn đề và không ngần ngại phản đối những tư tưởng gia mà chúng tôi ưa chuộng về phương diện khác. Chẳng hạn triết gia Jaspers trong quyển Sens et l’Origine de l’histoire (tr 82) có đưa ra 9 lý do để phóng đoán tại sao khoa học lại phát triển bên Âu, đại để như sau:

1) Vị trí địa dư tạo nhiều sự tiếp xúc giữa các văn hóa khác nhau.
2) Tự do chính trị
3) Lý trí vô biên
4) Ý thức về tự do nội khởi.
5) Người Âu lấy thế giới khách quan làm dữ kiện đầu tiên.
6) Nhưng không dồn quan niệm về vũ trụ vào một công thức có tính cách giáo điều cứng
nhắc (!)
7) Óc độc hữu, nhân đó có sự căng thẳng.
8) Luôn luôn đi tới cùng cực, đi tới mẹo trừ.
9) Bởi vậy có những nhân vật độc đáo. Và họ không thể muốn con người toàn diện.

Trong 9 lý do trên chỉ có lý 1 và 3 là có thể chấp nhận phần nào; lý 2, 4 sai thực tế phiền tạp… ngoại giả là không chắc mà còn có thể gây hại như: lấy một sự bất lực (đi tới con người toàn diện) để như khuyến khích những sự đi quá trớn. Tất cả những điều này tôi nêu lên mà không quảng diễn ở đây vì dài quá sẽ làm nơi khác (xem Nhân Chủ). Chúng tôi chỉ ghi nhận một điều là ở dưới trang 96, tác giả có viết “vào quãng năm 700 nếu một du khách từ hành tinh khác đáp xuống trái đất thì có lẽ họ sẽ cho Tràng An- kinh đô Tàu lúc đó- là trung tâm tinh thần của thế giới chúng ta, Constantinople là sự sống sót của một dĩ vãng đáng để ý; còn phần bắc Âu Châu là miền mường rợ. Quãng năm 1400 đời sống cả ba nơi Âu Châu, Ấn Độ, Trung Hoa tới mức độ như nhau. Nhưng sự đóng góp của thế kỷ 15, tức việc khám phá ra thế giới mà Âu Châu sắp in con dấu của nó lên trên, đặt ra… một sự cắt đứt (rupture). Sự tuyệt giao, sự cắt đứt này là một câu đố mới. Vì cho tới đó đã không có sự tiến triển rõ rệt và đều đặn… Và cho tới thế kỷ 19 thì xảy đến sự cắt đứt hẳn với dĩ vãng thuộc lịch sử và một tương lai hãy còn chưa thể thấu suốt được. Một lần nữa ta lại hỏi yếu tố không thể gọi tên ra đó là gì? (trg 97).

Nói không thể gọi tên, vì thật là phiền tạp và bí nhiệm nên những sự thử gọi tên chỉ là đoản phóng hết sức đạc chừng. Bí nhiệm vì có những điều khó biết tại sao khoa học được phát sinh bên Cận Đông (Hy Lạp chỉ tiếp tục một đoạn thường lệ) và được Cận Đông dẫn tới chỗ nảy nở lại bị Mông Cổ đến tàn phá. Tại sao Âu Châu tự nhiên lại thoát ách Mông Cổ (tự nhiên vì Âu Châu không có làm gì và khó có thể chống đối nổi Mông Cổ). Những câu đó khó lòng ai giải đáp, nên ta cho là khuyết nghi, hoặc thuộc Thiên mệnh. Và như vậy bao sự giải nghĩa chỉ nên coi là những ý kiến bấp bênh còn đang đi tìm một lời đáp, chưa nên coi là sự thật. Thực ra nếu khoa học đã phát nguyên bên Ấn Độ hay nhất là bên Ả Rập thì sự giảng nghĩa nguyên do còn có lý gấp ba lần là ít. Đây là những lý do: 1) Yếu tố khoa học của Hy Lạp được vun tưới và nảy nở bên Ả Rập hơn bên Âu Châu. 2) Những phát minh nhiều nơi được tiếp nhận trước hơn, thí dụ hệ thống toán số của Ấn Độ, phép in, giấy, thuốc súng, kim chỉ nam của Tàu. 3) Và nhất là bầu khí tự do phóng khoáng hơn bên Âu Châu nhiều lắm. Cho nên vào những thế kỷ VII- XII, văn minh Ả Rập đã tiến xa hơn Âu Châu rất nhiều và chính nhờ những dịp tiếp xúc trong các lần thập giá binh hay dịp khác mà Âu Châu du nhập được của Ả Rập nhiều kỹ thuật chẳng hạn khoa thiên văn (Civ. XII, 589), phép tinh luyện kính “Venise”, phép làm kính để thấy vật xa coi gần và cả kính đeo (ông Will Durant nói có lẽ nguồn gốc do người Tàu “ai tai”, Civ. XII. 539), nghề làm kim khí, máy kéo nước chạy bằng gió (Civ. X. 418), các thứ đồ ăn, đồ uống, thuốc, khí giới, quan niệm mỹ thuật, kỹ thuật, buôn bán, phương pháp vượt bể và nhiều khi cả danh từ một trật như orange, sucre, sirop, élixir, azur, bazar, tarif, douane, magasin, barque, câble, algèbre, zéro, chiffre, alambic, zénith, almanach… người ta tính ra lối 1000 chữ do tiếng Ả Rập và hơn 100 sách Ả Rập dịch ra La Tinh (Civ. X. 434). Các thứ vải: gấm, lụa và luôn cả nghề nuôi tằm kỹ nghệ lọc đường, phép lát đá đường do vua Fréderic II thâu nhập. (Civ. XII. 55). Các nhà khoa học Musulman hầu hết lúc đó đã nhận ra là trái đất có hình tròn. Ngay năm 1081 Sandi đã làm bầu trái đất bằng đồng và những công trình nghiên cứu của Ishaq al-Bitruji đã mở đường cho Copernic (Civ. X 419) sau này… Cho nên nếu Musulman không bị tàn sát và phá huỷ đến tận nền móng về văn hóa, kinh tế, nhân sự, thì rất có thể khoa học đã xuất hiện trên mặt đất trước ít thế kỷ bên đất Á-Phi.

Nhưng trời hình như có ý dành danh dự này cho một giống ngừơi mới xuất hiện sau bên Âu Châu. Con đường thiên mệnh trong việc chạy đuốc văn minh coi như được quy định rõ rệt. Mông Cổ đã tàn sát Musulman một cách ghê sợ: thành Mery bị tiêu diệt với 1.300.000 dân. Thành Ravy với 3.000 chùa (mosquée) bị bình địa. Bagdad với những thư viện mênh mông và bao kho tàng tích luỹ cũng tiêu sách với 800.000 dân. Không khi nào thấy trong lịch sử một nền văn minh bị tàn sát tận gốc như vậy. Cầu cống đê điều bị phá vỡ hoặc đúc lại… Chính vì đó chứ không phải tại khí hậu thay đổi đã cướp mất quyền chỉ huy thế giới của Tây Á từ 5 thế kỷ (700-1200) mà từng trăm thành rực rỡ của những xứ Perse, Syrie, Mésopotamie, Caucase,…..bị đẩy vào thảm trạng đói khổ cùng cực và ứ đọng trong thời mới (Civ X. 433). Cũng may đuốc khoa học đã kịp trao sang Âu Châu và sống hoi hóp trong ba bốn thế kỷ cho đến thời Phục Hưng. Trong khi chờ đợi “suốt qua thời Trung Cổ bên Âu Châu khoa học và triết học được triển khai trong bầu không khí thần thoại, truyền thuyết, phép lạ, điềm báo, ma quỷ, sự lạ, pháp môn, chiêm tinh, bói toán, đồng cốt (Civ XII. 524).

Và không phải mỗi phát minh được đón nhận dễ dàng tức khắc. Chẳng hạn hệ thống số Arabe… rất nhiều người công nhận là “phương pháp thần diệu của 9 con số Ấn Độ” (Méthode merveilleuse des neuf chiffres Indiens) thế mà năm 1029 người ta còn vận động để có luật cấm dùng, mãi tới thế kỷ 16 mới thay hẳn được số Roma (Civ XII. 532). Khi mấy thương thuyền bắt đầu dùng kim chỉ nam bị nhiều người nghi ngờ là họ làm phù phép, và không thiếu người từ chối bước chân lên những tàu bắt đầu trang bị bằng kim chỉ nam… (Civ XII. 540)
Còn biết bao nhiêu thành kiến làm cho bầu không khí bên Âu Châu khó thở; mãi cho tới đầu thế kỷ này mà Einstein còn phải phàn nàn: “phân tán một nguyên tử còn dễ hơn phân tán một thành kiến” thì đủ biết tại sao khoa học Hy Lạp bị nằm chết khô bên Âu…

4. Căn nguyên thứ bốn

Người ta quên đi hay không biết rằng việc phát minh khoa học là một sự kiện hết sức mới và đầy những chuyện bất ngờ… Việc tìm thì kể là khởi lên từ thế kỷ 16, 17; nhưng tìm kiếm một cách thật có phương pháp thì cũng mới từ ít chục năm nay. Người ta thường lấy niên hiệu xuất bản sách “Bàn về những sự chuyển vận của các thiên thể” của Copernic tức là 1643 làm ngưỡng cửa cho thời mới. Lấy Newton (1642-1727) làm mốc giới thời đại khoa học và Einstein là mốc những bước tiến vượt bực, tức là chung quanh hoàn cầu đại chiến thứ nhất. Bởi từ quãng đầu thế kỷ này mới có những sự tìm tòi thật khoa học còn trước kia hầu hết vẫn là mò mẫm kiểu rút kinh nghiệm (empirique); xem như một việc phát minh điện lực, linh hồn cho mọi cơ khí, thì đủ rõ. Mãi cho đến năm 1870 hầu hết người ta còn cho việc tìm tòi điện chỉ là trò chơi trong phòng thí nghiệm (amusette de laboratoire) chưa ai tin được điện sẽ có được những công hiệu vĩ đại như nay. Sự tình cờ sơ xuất đã là dịp cho nhiều khám phá quan trọng. Nhiều người còn nhớ con ếch của ông Galvani rung chân khi vô tình ông chạm vào ban công sau một ngày mệt mỏi thí nghiệm vô ích. Từ trường được khám phá do cái kim bỏ vung vãi trên bàn thí nghiệm của ông Oersted. Sức chuyển động máy sinh điện được ông Fontaine nhận thấy do một cử chỉ lầm lẫn của người thợ. Tác giả phải nói (felix culpa: heureuse faute p.92) ông Edison là người phát minh ra bóng điện năm 1897 và bao nhiêu phát minh khác, một phát minh lớn nhất tới nay, lại là một người bán báo, vốn liếng tri thức chỉ là một kỳ tam cá nguyệt ở trường và hai năm trong phòng thí nghiệm cá nhân “đặt dưới hầm rượu của gia đình”.

Máy phát điện, một bước tiến rất quan trọng, được phát minh do ông Gramme một bác thợ lăng nhăng “bricoleur ou ouvrier en escalier” (Pierre Dexaux, Histoire de l’électricité, trg 65,74 và 92). Bởi vậy ông J.Folliet không ngần ngại hạ chữ tình cờ mà xảy ra hiện tượng cơ khí làm xáo trộn hết mọi cơ cấu văn minh.

Tính chất bất ngờ này ít được chú trọng đến, nhưng thực sự thì trước đây hai ba trăm năm không ai ngờ là khoa học sẽ làm đảo lộn bộ mặt trái đất như nay. Nếu quả thật có ngờ và văn minh Tây Phương luôn luôn tiến thì tại sao văn hóa Hy Lạp, La Mã, Âu Châu đã xuất hiện trên 20 thế kỷ mà tình trạng Âu Châu đâu vẫn nằm đó và cho đến thời Phục Hưng Tàu vẫn trội hơn Âu Châu cả về đàng kỹ thuật. Điểm này được các học giả như Zenker, Needham… đều công nhận (xem La pensée Chinoise, Granet, p.584). Sự tiến triển của Âu Châu còn rất mới mẻ, đầu thế kỷ này người Pháp dưới tỉnh còn rủ nhau lên Paris coi xe không ngựa kéo, không người đun cũng chạy đuợc. Năm 1896 toàn Mỹ quốc mới có 4 cái xe hơi. Đầu năm 1908 ông Ford mới cho ra xe kiểu T. Vậy là trước thế kỷ 17 Âu Á cũng tĩnh chỉ như nhau, và nay khác nhau thì không phải Đông Tây cho bằng nói mới cũ. Tân thời đối với trung cổ. Còn trước đó Á Âu như nhau. Keyserling viết “giữa thời cổ Hy Lạp và những thời rực rỡ của văn hóa Á Châu, giữa nước Pháp thế kỷ 16 và nước Tàu thời Tống thí dụ, xét về dữ kiện thời sự thì chỉ có một sự khác biệt về hiện tượng chứ không về bản chất (une différence de phénomène et non pas d’essence) tức không phải bản chất văn hóa Âu Tây luôn luôn tiến bộ, còn bản chất Á Châu là ù lì. Cả bên Âu nữa, lý tưởng tĩnh chỉ đã thống trị mãi cho tới thời mới kể cả Hy Lạp cổ đại cũng như trong Ý Đại Lợi thời Phục Hưng, vì trong những xứ này, đời sống có náo động tới đâu đi nữa, bao giờ cũng hướng theo những giá trị mà thời gian không thay đổi gì hết. Ngày nay khi chúng ta, người Âu Châu thời mới, xem Á Châu như bản tính đối chọi nhau, thật ra không phải Đông khác biệt Tây cho bằng thời mới khác với thời trung cổ và thời cổ đại… Nói khác đi, chúng ta đối chọi lý tưởng của hoàn bị với lý tưởng tiến bộ” (xưa tìm hoàn bị nay cần tiến bộ) (Journal tr.317).

Trong quyển Science and Civilisation, ông Needham có viết: “Bất kỳ ai nếu chịu đọc tới hết quyển sách này, chắc sẽ bị sửng sốt trước số kỹ thuật rất nhiều và khác nhau mà Âu Châu mượn của Tàu, song thường họ không biết đến nơi phát nguyên trong 14 thế kỷ đầu”. Ông Francis Bacon (1626) có viết: “Rất nên quan sát về sức mạnh và năng lực cùng những hậu quả của các điều phát minh. Rõ rệt nhất không đâu bằng ba món đồ mà tiền nhân ta chưa biết đến, và cũng mới xuất hiện, tuy nguồn gốc nó vẫn còn ẩn khuất nhưng rất hiển hiện, đó là máy in, thuốc súng, và kim chỉ nam. Bởi vì ba phát minh đó đã biến đổi cả mặt đất và tình trạng sự thể trên khắp trái đất: cái thứ nhất trong văn chương, cái thứ hai trong binh pháp,cái thứ ba trong nghề hàng hải. Những phát minh đó đã kéo theo vô số sự thay đổi đến nỗi không một đế quốc nào, hay một tôn giáo nào, một ngôi sao nào đã gây được một ảnh hưởng và quyền năng lớn hơn vào trong nhân sự.” (t I, tr 19)

5. Không phải thời nào Âu Châu cũng dẫn đầu về văn hóa.

Ông Dampier có viết: “Chính trong những thời kỳ đen tối nhất bên Âu Châu, sự học hỏi của các miền Á Châu lại bắt đầu tiến triển rực rỡ và lan tràn sang Ả Rập. Môn phái của xứ sở Perse và Ả Rập ban đầu đã dựa trên các bản dịch sách Hy Lạp, nhưng về sau họ đã thêm vào nhiều đóng góp đặc sắc trong khoa học tự nhiên.” Thời ấy những sách hình học của Euclide, thiên văn của Ptolémée cũng được dịch sang Ả Rập. (Histoire de la Science p.85)

Triết gia nổi tiếng người Hồi giáo là Avicenne (980-1037) kiêm y sĩ có viết quyển Canon tức bản tóm tắt y khoa là một trong những công trình văn hóa Ả Rập, sau này trở nên sách chuyên khoa về y học trong các đại học Âu Châu, mãi tới năm 1650 cũng còn dùng trong các trường Louvain và Montpellier. Thời ấy tiếng Ả Rập đã được công nhận là ngôn ngữ cổ điển về khoa học và hễ cái gì viết bằng tiếng Ả Rập cũng có uy tín như lúc người ta dành cho tiếng Hy Lạp. (Dampier tr.112. Histoire de la Science. Payot).

Cao đẳng Âu Châu thời đó chia làm hai khóa: tam và tứ. Khóa tam sơ đẳng gồm có ba môn học là ngữ, luật, khoa lợi khẩu (rhétorique) và danh lý (dialectique) tức là đề tài chuyên về danh từ và cú pháp. Khoa tứ cao hơn gồm có: nhạc, toán, hình học, thiên văn, tức bốn khoa mà người ta tin là chuyên chủ về sự vật. Nhạc gồm lý thuyết bán huyền niệm về các số, hình học chỉ là một chuỗi những câu của Euclide không có chứng minh, còn toán và thiên văn được trọng dụng bởi là phương thế quy định ngày lễ Phục sinh. Tất cả bấy nhiêu khoa được coi là chuẩn bị sinh viên đi lên thần học. Sự phân phối chương trình như trên được duy trì suốt thời Trung cổ. (Dampier tr.116).

Những giống dân nói tiếng Ả Rập và những người Do Thái cư trú bên đó thời ấy mới chú trọng thực sự tới khoa học và chính nhờ sự tiếp xúc với các miền Hồi giáo mà Âu Châu Trung cổ mới bỏ được những tập quán tư tưởng cũ để đi dần sang lối suy luận lý trí. (tr. 121, Dampier)Xem chương trình học vấn của Âu Châu Trung cổ ta thấy liền đâu có tiến luôn luôn, đâu có khoa học cơ khí, chẳng qua ăn tự lại của Hy Lạp một phần mà chẳng biết tài bồi thêm. Về phần đóng góp của Hy Lạp không chối là quan trọng nhưng đâu có phải duy nhất như người ta thường viết. Người ta đã quên hay không biết đến phần đóng góp quan trọng của Ả Rập, toán học của Ấn, thiên văn của Babylon. Hy Lạp thành công duy có ở hình học. Và chính nhờ sự tiếp xúc với các dân khác Hy Lạp mới tiến trong khoa học, sự kiện này xuất hiện bên Alexandrie (Egypte) vào lúc mãn chầu thời oanh liệt tức thế kỷ thứ 3 lúc văn học nghệ thuật Hy Lạp đang xuống dốc. Bởi không nhận định điều đó nên trước đây người ta không giải nghĩa được hiện tượng ngoại lệ trên (tức là tại sao khoa học không tiến trong hoàng kim thời đại của Hy Lạp. Civ.VI, 231).

Bởi chưa biết đến những đóng góp của các nền văn minh khác, như nay mấy sử gia lớn đã bắt đầu tìm ra, nên người ta quá tâng bốc Hy Lạp lên, nhưng xét kỹ lại thấy việc đóng góp của Hy Lạp cũng là thường lệ. Trong quyển Technique, ông Ellul đã chứng minh Hy Lạp đóng góp được có một cái đinh ốc. Ông còn nói tại sao có khoa học là vấn đề mầu nhiệm. (tr.41) Y học của Hypocrate còn kém hơn khi tiếp nhận của Egypte. Thiên văn bị cấm. Hội họa chưa sâu sắc bằng tranh Tàu, tượng chưa chín chắn bằng tượng của Egypte. Toán học chưa biết đến đại số…

Cả về đàng văn minh tế nhị như phép cai trị cũng còn thua Perse. Xem một việc Alexandre đại đế bị chinh phục là một sự trả thù của Đông Phương. Aristote dạy ông rằng ngoại bang là rợ mọi, nay ông nhận thấy người Perse tế nhị hơn người Hy Lạp, nên ông đổi thái độ: nhận lối cai trị cư xử như Perse trước sự thất vọng của các người tuỳ tòng. Nhưng sau, cả những người trí thức cũng chịu ảnh hưởng Perse, đến cả triết học sau này cũng bị Đông Phương chinh phục. Triết Stoicien là một bằng chứng, và tất cả sẽ đầu hàng các tôn giáo Đông Phương. (xem Civ. VI tr. 117 và161).

Về phía nước Tàu giáo sư Creel đại học đường Chicago có viết như sau:

“Nhiều người biết ít về nước Tàu và cả những người biết nhiều cũng thường có khuynh hướng tin rằng nước Tàu bất di bất dịch, không có tiến bộ chút nào từ đời nhà Hán. Đó là một cảm tưởng hoàn toàn không đúng, nhưng lại rất phổ biến vì hai lý do. Trước hết vào thời kỳ từ thế kỷ VI trước Tây lịch đến thế kỷ II sau Tây lịch được người ngoại quốc khảo cứu hơn tất cả lịch sử nước Tàu. Thật ra đó là một thời đại quan trọng được chứng kiến nền văn hóa Trung Quốc thành hình, nên chính người Tàu cũng khảo cứu và hiện còn đương khảo cứu tường tận, điều đó giúp người ta dễ hiểu thời ấy hơn. Lý do thứ hai khiến người ngoại quốc chối sự tiến bộ của Trung Hoa trong hai ngàn năm nay là tại họ đã lãng bỏ một ít nhân tố không làm vinh dự mấy cho người Âu. Thí dụ họ thích quên đi rằng nước Tàu đã trở nên trưởng thành vào quãng thế kỷ thứ II trước Tây lịch và không bao giờ trở lại thời ấu trĩ nữa (chính ông Creel gạch dưới). Nó đã không bao giờ phải trùng tu lại văn hóa tự nền móng như Âu Châu đã phải làm. Cơ sở chính trị và văn hóa của nó đã hiến cho nó khả năng đồng hóa được các dân man ri tràn vào Trung Quốc, và vẫn giữ được bản sắc như trước. Nó đã không bị những đảo lộn và sự man rợ của một thời Mérovée như Âu Châu chẳng hạn.

“Người ta có thể nói nước Tàu cũng có thời rợ mọi của nó ở đầu nhà Chu và có thời phong kiến vào quãng trung Chu hơn một ngàn năm trước khi những hiện tượng này xuất hiện bên Âu. Lại còn trình độ văn hóa và trình độ các nhà nho trong giới thượng lưu cao hơn rất nhiều sánh với trình độ của phái quý tộc Âu Châu Trung cổ và cả lâu sau. Và khi nước Tàu đã trải qua những giai đoạn này thì không trở lại bao giờ nữa. Tuy nó có biết những thời loạn lạc phân tranh, nhưng nếu người ta nhớ lại rằng nước Tàu cũng lớn rộng bằng Châu Âu thì phải công nhận là nó được bình an và thống nhất hơn nhiều.” (Naissance de la Chine 354).

Tác giả đã quả quyết thế vì đời Trung cổ Âu Châu không thiếu loạn lạc. Người ta tính ra bên Nga từ năm 1054 đến năm 1224 nghĩa là chưa đầy hai thế kỷ có tất cả 83 trận nội chiến, 46 lần bị ngoại xâm, 16 lần nước Nga đi đánh các nước lân cận, 293 ông hoàng tranh ngôi trong 64 tiểu bang. (Will Durant, Histoire de la Civ. L’âge de la Foi, t.III p.100) “Vua chúa lúc nào cũng có quyền xông vào đất lân cận để ăn hàng…” Trong thế kỷ 12 hầu như chẳng sáng nào lại không có đánh nhau trong cái miền là nước Pháp ngày nay, Berthold de Ratisbonne phàn nàn vì “rất ít vua chúa sống hết tuổi trời, hay được chết cái chết tự nhiên”.

“Sau một trận trong các trận giặc ấy, nhiều nông gia phải kéo cày lấy, nhiều người hết lúa gạo, chết đói… Giáo hội đã hết sức can thiệp để giảm ngày đánh nhau bằng thể chế thần hưu (treuga Dei: trêve-dieu…). Người ta hay đánh nhau đến nỗi sau đặt ra lệ bắt tay khi gặp nhau để tỏ lòng yêu hòa bình, và để chứng rằng họ không có chuẩn bị rút gươmg ra đấu.” (W. Durant, L’âge de la Foi, t.II, p.200).

6. Không phải lúc nào Âu Châu cũng cường thịnh giàu sang

Lối thế kỷ 11-13, Âu Châu đã dẫn thập tự binh sang đánh Ả Rập, lần đông nhất cũng chỉ tới 5 vạn quân mà một trong những lý do thất bại là tại không tổ chức nổi việc tiếp tế (Civ XII. 40). Trong khi đó quân Mông Cổ từng 30 đến 50 vạn đi lại trên đường hiểm trở và xa gấp ba bốn lần. Điều đó cho ta thấy rõ cuộc thăng trầm giữa các nền văn minh. Giáo sư Barkhausen viết: “Lịch sử hoàn cầu có thể coi như một cuộc tranh hùng giữa hai giống da vàng và da trắng. Từ đầu cho tới hết thời Trung cổ thì người da vàng nắm quyền bá chủ. Lịch sử Âu Châu lúc đó chỉ đáng coi là một biến cố nhỏ dưới lục tỉnh so với biến cố quan trọng và sự hoạt động mãnh liệt ở Châu Á. Thành Cát Tư Hãn lập đế quốc tóm thâu 4/5 nhân loại người ta biết được lúc đó, truyền dõi được hai thế kỷ (cai trị Nga 240 năm) vượt xa những Alexandre, César, Napoléon. Nguyên một tướng Soubalai rong ngựa bốn lần từ Budapest đến Cao Ly, thắng được 65 trận lớn, chinh phục được 52 nước trên hoàn cầu và chỉ vì tình cờ ngẫu nhiên mà Âu Châu thoát ách đô hộ.

“Nhưng bước sang thời mới, nhờ sự tiến triển trong kỹ thuật vượt biển và súng đạn mà Âu Châu chiếm được hầu hết đất đai trên hoàn cầu, dành phần thắng quyết định về cho mình” (Empire jaune de Gengis Khan, Payot 1942, p.31 và 206).

Về đường cai trị ta có thể đọc những bức thư đầy thán phục bỡ ngỡ của các thừa sai khi tới Á Đông. Họ ca tụng hết lời lối cai trị bên Viễn Đông, họ tả những cảnh huy hoàng, đọc lên tưởng rất nhiều điểm giống với quan điểm Trung Quốc là vì họ đã theo lối tổ chức của Tàu. (Naissance de la Chine, Creel p.338)

7. Trong cái hùng cường phồn thịnh của Âu Châu, phần đóng góp các châu khác không phải là nhỏ

Xem như trên, trước kia Âu Á ngang nhau, lên xuống tuỳ vận nước, vậy cái gì đã làm chuyển cán cân đảo lộn tình trạng cũ, thiết nghĩ đó là thuốc súng và địa bàn.

Trên đường Cathay để tìm đồ gia vị (Canada có phố mang tên là Cathay để nhắc tích đó), Christophe Colomb đã tình cờ tìm ra thế giới “mới”, nhờ súng đạn mạnh người da trắng đã tiêu diệt hầu hết bản thổ và chiếm đất đai rồi sau đó họ cũng dùng cùng một chính sách ấy đối với dân bản xứ Úc Châu, tiêu diệt quá nửa dân số Phi Châu, chiếm Ấn Độ, xâm lăng Tàu… Dân Pháp chiếm được thuộc địa rộng hơn mẫu quốc 20 lần, Hòa Lan 60 lần, Bỉ 80 lần, Anh 140 lần. Nước Nga xâm lăng Á Châu ăn về đông bắc cho tới cửa bể Vladivostov. Tóm lại 85% số tài nguyên trên thế giới lọt vào tay non một phần ba nhân loại da trắng, còn 15% chia cho 2/3 kia. Nói cụ thể khi người Mỹ có 1.880đ, thì Lào có 60đ, Việt Nam có 65đ. (Regard sur histoire de demain. Tibor Mende p.14, du Seuil 1954). Nhờ tài nguyên bát ngát,họ có cơ phát triển kinh tế mạnh mẽ vô cùng, không còn một lực lượng nào cản trở được bước tiến mỗi ngày mỗi mau thêm. Nhân đó mà họ tin tưởng vào sự “tiến tới vô cùng” và đặt vào tương lai một lòng tin vô bờ bến. Ta có thể lấy dân số làm một bằng chứng. Trong khoảng 150 năm tự vua Louis XII (1643) cho tới trận chiến Trafalgar (1805), người Âu từ non 100 triệu ban đầu chỉ thêm có 60 triệu. Thế mà trong 100 năm từ lần thí nghiệm đầu tiên chiếc thuyền chạy bằng hơi nước trên sông Rhin do ông Fulton cho tới lần bay đầu tiên của hai anh em Wright trong năm 1903, dân Âu đã tăng lên gấp ba lần, nghĩa là hơn 400 triệu. (Regard p.15)

Đồng thời số sản xuất gia tăng. Ta có thể lấy sự sản xuất làm ống hàn thử biểu. Từ năm 1785-1935 nghĩa là trong vòng 150 năm số sắt thêm gần 400 lần. (L’av. Promethée p.14). Nhờ giàu sang mức sống dân chúng được nâng cao lên tới mức độ chưa từng có trong lịch sử nhân loại: năm 1800 mỗi người Pháp một năm được từ 2 đến 3 kí thịt, thì từ năm 1944 mỗi ngưỡi đã được 37 kí. Nhân đấy họ có phương tiện dồi dào để phát huy năng lực văn hóa đến chỗ cùng cực và mở rộng ra cho toàn dân được hưởng bằng đặt ra chế độ học đường bó buộc. Khoa học tiến triển từ đó, nhờ đó…

Đang lúc các nền văn minh khác suy đồi, hầu như bại vong thì văn hóa Thái Tây đi lên rực rỡ huy hoàng trong ánh sáng khoa học với những phát minh tân kỳ. Những người đi họp hội chợ Paris 1910 chúc mừng nhau: phúc cho những nước có thuộc địa (Avènement de Promethée, J.Folliet p.190). Tác giả quên thêm: vô phúc cho các thuộc địa, ở đây nhiều nền văn hóa rực rỡ xưa kia đi vào tàn rụi, bị coi là mường rợ cần được đuốc văn minh đến soi cho biết ý nghĩa công bình, huynh đệ, tự do. Nghe du dương như một bài ca mê ly, nhưng lại đệm bằng những tiếng súng cướp đoạt nổ vang lừng, đến lúc tỉnh ra thì tài sản tan tành, mất cả tự do mà “văn minh Đông Á trời cũng thu sạch”.

8. Trình độ văn minh trung thực: lòng nhân đạo

Mới rồi một tờ nhật báo nọ đề cập vấn đề văn hóa và văn minh, ký giả lúng túng với câu định nghĩa rồi đem ra những thí dụ chứng rằng văn hóa Đông Phương kém như bên Tàu có tục “nịch tử” (dìm chết thai nhi), việc đàn ông đánh vợ, giết vợ mà luật pháp không can thiệp. Đành rằng đó là một vết nhơ, nhưng trong các văn hóa khác thiếu gì, mà còn tệ hơn nữa. Bên Tàu mới là chuyện làm liều còn nhẹ hơn là khi pháp luật đặt thành thể chế như Hy Lạp. Bên Sparte (tức xứ Hy Lạp) trọng luật ưu sinh nên những đứa con ra đời yếu hay xấu phải đưa lên núi Taygète giẩy xuống cho chết (Civ. IV. 114). Nói đâu ngày xưa, ngày nay người ta hay đánh truỵ thai; đánh truỵ thai có khác gì với nịch tử. Riêng một nước Pháp người ta cho là mỗi năm có tới 600.000 vụ phá thai, người khác nghĩ có thể tới con số 1 triệu.

Tục giết hài nhi bên Hy Lạp hay La Mã có cả. Bên Hy Lạp các triêt gia còn cổ động là khác. Người ta giết hài nhi rất thường nhất là trẻ nữ; có một văn kiện cho biết trong số 118 con trai mà chỉ có 28 con gái (Civ VI, p.145). Bên Roma cũng thế. Sau này dẫu bị lên án như một tội ác, việc giết hài nhi vẫn cùng với đói ngheo thêm trầm trọng (Civ. IX. 274). Còn chuyện đánh vợ pháp luật không can thiệp đâu có bằng pháp luật cho phép giết vợ kia kìa: “luật dân Saxon thí dụ kết án người vợ bất trung phải cắt ít ra cái mũi và hai tai, và cho người đàn ông được quyền giết vợ ngoại tình” (Civ VII, p.320). Luật Roma cũng cho người cha giết con (patria potestas) và chồng giết vợ (manus) (Civ VIII, p.284) và không phải không có người dùng quyền đó, chỉ kể một người được bao sử gia ca tụng tức là Hoàng Đế Constanstin vô cớ (người ta không đoán lý do được) đã giết con là Crispus, giết vợ là bà Fausta (Civ IX tr.271). Giết vợ giết con bên Viễn Đông không bao giờ thấy luật pháp cho phép, nên Dawson (trong quyển The basic teaching of Confucius p.156) cho rằng khó tìm đâu được lòng hiếu thảo quân bình như vậy. Một số tác giả hay dùng những thành ngữ sévérité orientale khi nói đến luật hình và phong tục. Thật ra nếu xét kỹ đã vị tất bên nào hơn bên nào. Từ nhục hình, mặc: thích chữ, nghị: cắt mũi, phị: cắt chân, cung: hoạn (không có móc mắt). Và ngay trong kinh Thư đã nói đến việc vua Thuấn đổi sang những hình phạt nhẹ hơn là: đày, mang gông, đánh đòn, tịch thu tài sản và chuộc bằng tiền (Cordier, histoire p.85). Và trừ có mặc, còn ba hình dưới từ đời Tuỳ đã bãi. Bên Âu ta thấy mãi cho đến thế kỷ 18 “cắt xẻo là chuyện thường”: cắt chân, tay, mũi, tai, móc mắt. Vua Guillaume le conquérant để ngăn tội ác truyền không được giết hay treo cổ phạm nhân, nhưng móc mắt, cắt chân, cắt tay, cắt hạ bộ và cho sống để đền tội ác. Ở tòa án Sainte Geneviève bảy người đàn bà bị chôn sống vì tội ăn trộm. Tội lộng ngôn chửi thề thì phải dùi lưỡi bằng thanh sắt nung đỏ. (Civ XI o.287). Một hình luật Đức nói “nếu người nào bóc vỏ cây liễu giữ đê điều thì người ta phải mổ bụng nó, lôi ruột ra lấy mà quấn chung quanh cây đã bị hại”. Năm 1454 còn khoản hình luật ở thành Westphalie: một người xê dịch mốc đất trái phép bị chôn sống để thò lên cái đầu, rồi đất được cấy bằng bò và người chưa hề cày bao giờ. (Civ. XI p.254).

Người ta thường dùng lối xử gọi là thần xử (ordalie). Hai bên đánh nhau ai được là thắng cuộc. Đây là một thí dụ: “Kỵ mã Guy bị kỵ mã Herman tố cáo tội sát nhân, Guy chối Herman thách tài phán quyết đấu. Hai bên đánh nhau từng giờ. Trước trên ngựa, sau dưới đất, sau cùng vất cả gươm để vật nhau tới lúc Herman móc được cả hai hòn của đối phương, sau đó Guy thở hắt ra: en arrache les testicules, sur quoi Guy expira.” (Civ. XI, p.285)
Lúc trước đọc Keyserling khen bên Tàu ít tội sát nhân hơn bên Đức, tôi rất dè dặt với lối so sánh của tác giả, sợ rằng tác giả quá lời khen chăng. Đến sau tôi thấy tài liệu về việc này quá nhiều, những công hàm bên Anh thế kỷ 13 chỉ một số tội sát nhân ngày nay ta phải cho là quá xấu xa, thường thường gấp đôi số chết về tai nạn, mà phạm nhân ít khi bị bắt (Civ. XII, p.327). “Ngày chủ nhật lại nhiều tội dâm đãng, phóng túng, giết người, trộm cướp hơn cả trong tuần.” (Coulton-de “Médieval Village” p.254). Việc sát nhân xảy ra cả trong giới sinh viên. “Năm 1269 ông thị trưởng Paris lên án những sinh viên ngày đêm đánh bị thương hay giết cách khủng khiếp nhiều người, bắt cóc đàn bà, người nữ đồng trinh, phá cửa đột nhập nhà người ta, và thường xuyên phạm những tội ăn trộm và tội ác mới” (Civ. XII p.454). Nói chung tính tình người Âu lúc đó còn rất hung hãn đến nỗi người Ả Rập rất bỡ ngỡ về sự dữ tợn của Thập tự binh. (Civ II, p.295)

Chớ tưởng đó là chuyện thời xưa, hãy nhớ lại “giờ thứ hai mươi lăm” hay “les hommes contre l’humain” của G.Marcel. J.Folliet viết “năm 1943 bên Pháp máu người rẻ hơn giá rượu vang”. Một tác giả nào đó viết “chỉ cần gãi vào da người văn minh là tìm ngay thấy con thú thuộc thời đệ tứ kỳ” và biết bao man rợ khốc liệt đang diễn ra cùng khắp trên hoàn cầu, bên Algérie mà tác giả quyển Contre la torture (ed. du Sueil 1957) Pierre Henri Simon nhắc tới trong sách đó trang 68-70. Tác giả kể lại cảm tưởng rụng rời khi phản đối những dã man quân viễn chinh thi hành bên Đông Dương với một vị lãnh đạo tinh thần, được nghe lời đáp bình thản “bắt người đàn bà, lấy đanh đóng qua tay cho tới lúc thú… anh tính không làm thế sao được?” Đây mới là kể trong sách, chưa bằng những điều tai nghe mắt thấy trong 8 năm chiếm đóng Đông Dương. Đấy là một số nhỏ dữ kiện trong cái đống hồ sơ cao ngất, đưa ra một ít để hòng điều chỉnh quan niệm sai lạc về lịch sử.

9. Quan niệm lịch sử sai lạc

Theo thói quen xưa dân nào cũng cho mình là văn minh còn ngoài ra là rợ mọi (Toynbee gọi tính lấy mình làm trung tâm này là self-centeredness native). Văn minh Âu cũng không thoát khỏi cái bệnh chung đó, và họ cho các dân khác là rợ mọi. Đối với những văn minh khác như La Hy hay gần ta hơn là Trung Hoa đã có những thực tế phũ phàng mở mắt cho ta thấy đó chỉ là quan niệm ếch ngồi đáy giếng. Nhưng với văn minh Âu Châu nhờ có khoa học tiến bộ mạnh mẽ nên sự tưởng lầm kia ngày thêm bền vững. Quan niệm lấy Âu Châu làm trung tâm lấy Hy Lạp làm rốn thế giới (bên Hy Lạp có cửa núi phun khói, người Hy Lạp gọi là rốn trái đất Omphalos và lập đền thờ Thổ thần ở đấy) hiểu theo một nghĩa hết sức hẹp hòi: khai trừ các dân ngoài Châu Âu. Khi chia trái đất họ lấy Âu Châu làm khởi điểm và về lịch sử thì lịch sử Âu Châu làm lịch sử nhân loại, ngoại giả các nên văn minh khác như Egypte thì cho là mào đầu còn Trung Hoa và Ấn Độ, Musulman thuộc về các thổ dân (ethnographie). Cái cứ điểm sai lầm đó rồi đây bị những sử gia và triết gia như Tibor Mende, Toynbee, Jaspers lôi ra ánh sáng, nhưng cho tới thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20 nó được coi như một chân lý không thể chối cãi. Âu Châu tự gán cho mình sứ mệnh đem đuốc văn mình truyền bá cho hoàn cầu. Tuy với một thiểu số có óc con buôn ranh mãnh, câu đó chỉ là khẩu hiệu đẹp đẽ bên ngoài che đậy một lòng tham vô tận, nhưng với đa số, đó là một tin tưởng thành thật. Ta thấy nó phản chiếu cả vào những sách trang nghiêm nhất như luân lý, triết học, đạo đức của tôn giáo…

Có những tác giả nhân danh sứ mệnh truyền bá văn minh đem ra nhiều lý lẽ để biện hộ những hành vi xâm lăng và bóc lột. Kèm theo với những sự say sưa chiếm đoạt là lòng tin thờ khoa học; cứ mỗi ngày lại mỗi sản xuất ra những phát minh kỳ lạ chiếm được lòng tin tưởng của mọi người, khoa học trở nên một bà chúa ghen tương độc hữu không một giá trị nào được đếm xỉa đến, nhất là những giá trị tinh thần của văn minh Á Châu. Âu Châu càng lên cao bao nhiêu thì các châu khác càng xuống bấy nhiêu, khiến cho quan niệm lịch sử sai lầm trong thời cổ sơ được tiếp tục duy trì kèm theo với những thái độ khinh miệt các nền văn hóa ngoài Âu Châu. Trong khi các châu khác cố theo học văn minh cơ khí của Âu Châu nhiễm phải tâm trạng đó đâm ra kỳ thị chủng tộc mình và coi rẻ văn minh tiên tổ mà họ không biết tới, chỉ theo thế tục mà phù thịnh khinh suy… Đó chỉ là thường tình, nhưng ẩn chứa biết bao bất công. Chẳng hạn khi khoa học khởi xuất hiện, thì yếu tố đầu tiên có ảnh hưởng lớn nhất là thuốc súng lại không phải do Châu Âu. Ai cũng biết là do Trung Hoa khám phá ra, những người Âu Tây nhờ biết dùng chất đó làm súng đạn, nên có phương tiện cực mạnh đi tàn sát bóc lột các dân để trở nên giàu thịnh, mà giàu thịnh là yếu tố quyết liệt nhất cho văn hóa và khoa học tiến mạnh. Những sáng tác, nhạc, văn nghệ, hội họa của Âu Châu phát triển từ đó nghĩa là từ lúc có giàu sang do thuốc súng và thuộc địa.

Nhân đó chưa nên kết luận ngay rằng, trong các lĩnh vực khác thuộc văn hóa như minh triết, luân lý… Âu Châu cũng đã tiến theo kịp đà khoa học. Vì thế đừng vội tin tiên thiên rằng cái gì Tây cũng tất nhiên vượt hơn. Phải chia ra từng bộ môn mà so sánh, và cần so sánh xuyên qua lịch sử, đừng hạn cuộc vào một vài thế kỷ sau. Nhân loại từ lúc có lịch sử tới nay cũng đã tới 40 hay 50 thế kỷ. Khoa học mới chưa có đầy ba thế kỷ. Khi xét đoán một nền văn minh đừng lấy một đoạn nhỏ làm bản vị để đánh giá tất cả phải xem dọc dài, căn cứ vào vài thế kỷ sau mà nói Tàu im lìm thì “không gì sai lầm hơn bằng”. Không một miền nào bị đảo lộn trong chính phủ đến như thế. Trong phạm vi chính trị nó đã thử đủ mọi thể chế từ xã hội chủ nghĩa cho đến chuyên chế độc tài. Nó đã biết hết mọi triết thuyết, “thể lệ và phong tục đã biến đổi sâu xa”. Đó là lời của một học giả rất thông thạo về sử Trung Hoa đã viết bốn quyển lớn kết luận như trên. (Histoire Générale de la Chine t.1, 40, Henri Cordier).

Tuy nhiên đó mới là phạm vi chính trị. Nếu xét đến các phạm vi khác ta cũng thấy sự tiến triển đổi thay. Văn chương chẳng hạn thì phú thịnh ở đời Hán. Thơ thịnh đời Đường. Từ thịnh đời Tống, Truyện thịnh đời Nguyên. Họa cũng tự nhân hình biến sang sơn thủy dẫn đến Thảo trùng và Tĩnh vật với trăm ngàn môn phái. Triết cũng phải viết cả từng quyển lớn mới kể ra hết các thời đại.

Thậm chí cả đến khoa học kỹ thuật cũng tiến mạnh. Trong quyển La technique ou l’enjeu du siècle (Armand, 1954), ông Jacques Ellul không ngần ngại quả quyết “kỹ thuật bản gốc xuất từ Đông Phương” = “la technique est essentiellement orientale” (tr.25), và ông đả kích cho là dị đoan liều những câu nói “Đông Phương thụ động, theo định mệnh, khinh đời sống và hành động, còn Âu Châu hoạt động, chinh phục thiên nhiên…” (tr. 30). Phần lớn quyển sách đều đưa ra những sự kiện trái ngược hẳn lại niềm tin tưởng thông thường đó. Ông Joseph Needham đang trước tác bộ “khoa học và văn minh bên Trung Hoa” (Science and civilisation in China, Cambridge University Press), hiện đã ra được ba quyển lớn. Tác giả chứng minh tỉ mỉ sự tiến triển và nổi vượt của Á Châu về khoa học cơ khí trước thời Phục Hưng. “Con sông có khúc con người có lúc”, đừng thấy giậu đổ bìm leo mà giẫm thêm. Nên lánh nhai lại mấy tư tưởng lấy trong các sách cũ rích đã được bộ thuộc địa ban phép lành. Người Tây Phương trung thực không muốn thế nhưng ước mong cho người Á Đông nhận thức lại giá trị Truyền Thống để cùng với họ xây nền văn hóa mới. Muốn được vậy việc trứơc tiên nhất phải làm là đưa mắt nhìn khắp bốn phương trời, và khi so sánh phải so thời phát triển của nền văn minh này với thời phát triển của nền văn minh kia. Suy với thời suy, lý tưởng với lý tưởng, đừng đánh tráo trộn như một số lớn tác giả mà giáo sự Herbert đã nhận xét: “đem những nguyên lý thường lấy trong phúc âm thư hay trong những tác giả lớn về luân lý so với đời sống thực tại của các nhóm người trong văn minh khác, đem thượng lưu của Âu Châu sánh với đại chúng hay với cặn bã các dân khác… cần phải so sánh lý tưởng với lý tưởng, thượng lưu với thượng lưu, cặn bã với cặn bã…” (Spiritualité Hindoue p.12, J.Herbert). Nếu không chịu giữ cái luật thông thường đó thì quả thật các văn minh khác không đáng chú ý chút nào.

Người mình thường hay đọc lịch sử Âu Châu được viết trong tinh thần thế kỷ 19 đầu 20, nghĩa là hai thế kỷ Âu Châu quá hách dịch, thành ra biết bao sự kiện lớn lao khác bị xếp vào góc tối, ngày nay đã có một số thức giả đang cố sửa lại quan niệm chênh lệch này. Spengler đã lên án lối quan niệm hẹp hòi đó, ông viết: “cổ đại, trung đại, thời mới. Đó là lược đồ nghèo túng không thể tưởng tượng nổi (schéma d’une indigence incroyable). Đó là một sự vô nghĩa nó đã làm cớ không cho ta nhận thức đúng đắn được những mối tương quan giữa các nền văn hóa cao đẳng của nhân loại… Những người hậu lai sau này không thể tin được một lược đồ giản lược vào những nét thẳng tắp với những tỷ lệ vô lý (proportions insensées) càng ngày càng không thể đứng vững với những khám phá mới. (Déclin de l’Occident, t.1, tr29). Cái lược đồ đó gò bó bản chất và hạn chế sân khấu lịch sử lại theo phong thổ Âu Châu được dùng làm trung điểm bất động… chung quanh đó phải xoay quanh từng bao ngàn năm lịch sử lớn lao và những nền văn hóa vĩ đại đặt ra xa trong một địa vị hết sức khinh thường. Chính vì thế mà ta mắc phải chứng ảo tưởng (illusion d’optique) trở thành tập quán làm ta tin rằng ở xa bên Tàu, bên Egypt lịch sử bao ngàn năm cô đọng vào có vài giai đoạn, trái lại trong miền ta, từ Luther và nhất là từ Napoléon những chu kỳ thập niên được thổi phồng mãi lên như những bóng ma (id, tr.29). Nếu với Tây Âu tác giả phải hạ những chữ điên rồ (proportions insensées) thì với người Á Châu không giũ bỏ những ý niệm đó phải gán chữ gì đây?

Những tư tưởng gia lớn đang cố gắng tìm đặt lại trung tâm lịch sử như K.Jaspers đề nghị lấy thời Trục làm mốc. Toynbee trong quyển sử mới xuất bản “Le monde et l’occident” (Desclée) đã nói rõ tại sao lại không đề là “l’occident et le monde”, như có lẽ ông đã làm trước đây, là muốn độc giả lưu ý đến hai ý tưởng. Trước nhất vì Âu Châu ngay ở lúc cực điểm hùng cường cũng không phải là lịch sử duy nhất trên sân khấu thế giới. Vậy mà từ năm trăm năm nay, thế giới và Tây Phương chạm trán nhau thì chính thế giới chứ không phải Tây Phương đã biết được một kinh nghiệm có ý nghĩa nhất. Bởi không phải Tây Phương đã chịu thế giới tấn công mà chính thế giới bị Tây Phương tấn công dữ tợn, bởi đó trong sách này thế giới đã được nhận chỗ ngồi đầu tiên” (tr.72). Ông Will Durant đã mở đầu bộ sử văn minh của ông bằng một quyển lớn về Á Châu, có nói rõ lý do như sau: “bắt đầu từ Á Châu, vì đó là sân khấu của những nền văn minh kỳ cựu nhất người ta biết được, mà cũng vì chính những văn minh ấy làm nền móng cho văn minh La-Hy mà ông Henry tưởng lầm là nguồn duy nhất cho tinh thần thời mới. Chúng ta sẽ phải bỡ ngỡ khi biết những điều chúng ta học được với người Egypt, với Đông Phương trong việc phát minh sáng chế, cũng như trong phạm vi khoa học, văn chương, triết lý tôn giáo. Bước vào thế kỷ 20, việc lớn hơn hết sẽ là sự va chạm giữa hai nền văn hóa Đông Tây mà còn cố duy trì cái nhìn hẹp hòi của những sử gia cổ điển khởi đầu từ Hy Lạp, còn Đông Phương dành ra được vài dòng thì đấy không những là sự sai lầm có tính cách hàn lâm, nhưng còn là một quan điểm thiên lệch mà hậu quả về việc thông cảm có thể sẽ rất tai hại” (Civ I. 11). (Chúng tôi hay trưng tác giả này vì cái nhìn quân bình đó, không kể những điểm khác của tác giả như không bao giờ để cho mớ tài liệu kềnh cơi của “nhà thông thái bác học” lấn át cái nhìn của nhà triết lý và nhân văn. Vì thế đọc ông, đọc giả có cảm tưởng nhẹ nhàng như đọc chuyện.)

Nhà kinh tế học trứ danh Tibor Mende trong một tác phẩm xuất bản năm 1954 nhan đề là “Nhìn về lịch sử ngày mai” có thêm phụ đề “Những trọng điểm mới của thế giới” đã mở đầu bằng những dòng sau đây: “Họ vẽ bản đồ ra trong óc họ. Nhưng nếu họ không chịu theo dõi những biến chuyển nữa là tức khắc họ hết thuộc thời đại. Thói quen, tuyên truyền là sự lười lĩnh của trí khôn đều góp phần nào vào việc duy trì ảo tưởng rằng những bản đồ này cứ còn mãi thế truyền đời. Những ảo tưởng lỗi thời cứ nằm lỳ mãi lại trong trí não nhiều người đã “gây nên thảm họa trong lịch sử”.

Chính vì sợ một thảm họa cho nền quốc học nước nhà nên buộc lòng chúng tôi phải thí mạng viết bài này để làm tròn trách nhiệm nặng nề. Hé cho trí thức ngày nay của nước ta một phần nhỏ sự thật hầu đẩy lui sự cố tình bảo vệ những quan điểm lịch sử lấy ba thế kỷ cơ khí Âu Châu làm trụ với cái thiên kiến cho rằng Âu Châu bản tính là tiến mạnh, văn hóa Á Châu bản tính ù lì. Một thành kiến làm tê liệt óc thẩm định các giá trị thuộc văn hóa lẽ ra phải được vận hành trong tâm trạng thư thái tự do và khoa học, vắng lặng mọi thiên kiến. Chưa phá nổi được cái núi thành kiến do 80 năm nô lệ gây ra thì chưa thể nói đến chuyện phục hồi và phát triển nền quốc học Việt Nam được.

Kim Định

(Trích từ quyển: “Triết Lý Giáo Dục”)

11 tháng 10, 2016

Khởi nghĩa Tây Sơn (1771-1789)




Đây là cuộc chiến tranh giai cấp quyết liệt nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Ngay từ đầu, nghĩa quân đã lấy khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo” để hiệu triệu và tập hợp quần chúng bị áp bức.
Lược đồ khởi nghĩa Tây Sơn (1771-1789)
Từ căn cứ Tây Sơn, nghĩa quân tiến xuống đồng bằng giải phóng các làng xã, các huyện lỵ. Bọn quan lại, cường hào, ác bá bị trừng trị. Của cải của chúng và lương thực của cải trong kho nhà nước phong kiến bị tịch thu chia cho dân nghèo. Mọi thứ thuế được tuyến bố bãi bỏ, nhữung người bị giam cầm trong nhà ngục được giải phóng. Nhân dân các địa phương nô nức tham gia khởi nghĩa, trong đó có cả các thương nhân ở các thành thị. Một số nho sĩ tiến bộ, một số quan lại, thổ hào lớp dưới đã sớm tham gia khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa phát triển nhanh chóng với khí thế hết sức mạnh mẽ.
Mùa thu năm 1773, nghĩa quân hạ thành Quy Nhơn rồi tiến ra chiếm Quảng Ngãi, tiến vào giải phóng Phú Yên, Bình Thuận. Sau khi điều đình tạm hoà hoãn với quân Trịnh ở mặt Bắc để tập trung diệt quân Nguyễn ở phía nam, liên tục các năm 1776, 1777, 1778, 1782, 1785, 5 lần quân Tây Sơn tiến công vào Gia Định. Cả 5 lần quân Nguyễn đều thất bại, lực lượng bị tan rã phải chạy trốn ra các hải đảo sang sống lưu vong bên đất Xiêm. Chính quyền họ Nguyễn cát cứ trên 200 năm bị đánh đổ. Phong trào Tây Sơn đã giải phóng hầu hết đất Đàng Trong.
Sau khi đánh tan 5 vạn quân Xiêm can thiệp xâm lược, từ tháng 6/1786, quân Tây Sơn chuyển hoạt động ra hướng Bắc. Trong vòng 10 ngày, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã đánh tan 3 vạn quân Trịnh (mới vượt sông Gianh vào chiếm Phú Xuân của họ Nguyễn), giải phóng toàn bộ đất Đàng Trong. Thừa thắng, Nguyễn Huệ quyết định tiến quân ra Bắc.
Tình hình Bắc Hà lúc này đang rối loạn. Chính quyền Lê - Trịnh mục nát cực độ. Binh lính thì đang tan rã, lưu manh hoá và nổi loạn. Quân Tây Sơn với hơn 1.000 chiến thuyền vượt biển đánh chiếm vùng Nam Định rồi tiến thẳng về giải phóng Thăng Long ngày 21/7/1786. Như thế chỉ chưa đầy một tháng, bằng cuộc tiến công vũ bão, quân Tây Sơn đã đập tan lực lượng quân sự của họ Trịnh, lật đổ chính quyền họ Trịnh tồn tại gần 300 năm, giải phóng Đàng Ngoài.
Cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn là sự quật khởi của các tầng lớp nhân dân bị áp bức đứng lên lật đổ các thế lực phong kiến thống trị suy tàn, phản dân, hại dân, đảm nhiệm sứ mệnh của dân tộc khôi phục quốc gia thống nhất, đánh bại các đạo quân xâm lược, bảo vệ nền độc lập của đất nước.
Nguồn: Từ điển bách khoa Tri thức quốc phòng toàn dân.-H.: Chính trị Quốc gia, 2002.