6 tháng 10, 2017

Quốc Họa hay Thư Họa là ngành nghệ thuật cổ xưa nhất còn hiện hữu đến hôm nay

Vẽ cũng chính là tu luyện
Inline images 1
Thư Họa Trung Quốc hay còn gọi là Quốc Họa hay Thư Họa là ngành nghệ thuật cổ xưa nhất còn hiện hữu đến hôm nay. Không chỉ đơn giản là vẽ tranh hay trang trí, cái tinh hoa của Thư Họa còn thể hiện văn hóa truyền thống và triết lý uyên thâm về vũ trụ quan và nhân sinh quan. 
Một bức tranh thư họa xuất chúng không chỉ là đẹp mà còn phải thể hiện được cái “Thần” qua nét bút, cũng chính là sự giác ngộ và sự thăng hoa trong nội tâm của người họa sĩ. Qua đó, Thư Họa chính là một phương pháp để tu dưỡng tâm thân chứ không đơn thuần là một môn nghệ thuật nữa.
Kỹ Thuật Thể hiện Cái Thần trong thư Họa
Ngoài những yếu tố mang tính kỹ thuật sẽ trình bày ở phần dưới, điều mà làm cho các Thư Họa Gia Trung Hoa nổi danh nghìn năm chính là kỹ thuật thể hiện Khí Bút, hay nói cách khác là thể hiện cái Thần của người họa sĩ qua nét chữ hoặc bức tranh. Điều này là đặc trưng của Thư Họa Trung Hoa vì nó là biểu hiện của văn hóa Thần truyền, một nền văn hóa chú trọng tu dưỡng thân tâm để đạt đến hòa hợp tối cao với vũ trụ làm mục đích chính của nhân sinh chứ không chỉ đơn thuần là vẽ. Vẽ chỉ là 1 trong những cách mà Thư họa gia thể hiện trình độ tu dưỡng của mình mà thôi. Nên người viết cho rằng trình độ các Thư Họa Gia Trung Quốc hơn kém nhau chính là do sự tu dưỡng nội tâm vậy. Nếu nội tâm không tu dưỡng tốt thì sẽ không thể đạt đến đỉnh cao nghệ thuật.
Kỹ thuật này nói ngắn gọn chính là sự rèn luyện tu dưỡng tinh thần lâu năm cho đến khi Họa Gia đạt đến cảnh giới trước và trong khi vẽ hoàn toàn đắm mình trong một trạng thái siêu nhiên khi tinh thần thăng hoa hòa nhập vào vũ trụ mênh mông. Anh ta sẽ cảm được cái Thần vô hình của bức vẽ hay nét chữ mà mình muốn viết ra. Lúc đó tạm gọi là Nhập Thần, Thần Khí sẽ quán thông hết cơ thể Họa Gia đến cánh tay và phát ra ngoài thông qua nét bút. Lúc này không còn khái niệm cái gì là tay và cái gì là bút, mà chỉ là 1 bản giao hưởng của vũ trụ thể hiện qua người nghệ sĩ với đôi tay là chiếc bút lông.

Thư họa là một hình thức tu luyện, nếu nội tâm không tu dưỡng tốt thì sẽ không thể đạt đến đỉnh cao nghệ thuật.
Đại Thư Họa Gia Tô Thức từng nói về kỹ thuật này khi ông tán thưởng thư pháp của Nhược Quỳ: “Chữ viết tiêu sơ như mưa bay, phát tán một cách tự nhiên mà không chút nào cẩu thả.”
Hay như Đại sư D.T. Suzuki có đề cập vấn đề này ở bài luận về Thiền và hội họa, trong quyển Thiền Phật Giáo: “Một nét khác biệt khác của mặc họa chính là sự nỗ lực chụp bắt cái Thần đang lúc nó vận động. Vạn vật luôn vận hành, không có gì tĩnh lặng trong bản chất của nó. Khi bạn nghĩ rằng bạn đang giữ yên được nó thì nó trượt khỏi tay bạn rồi. Bởi vì trong cái khoảnh khắc mà bạn giữ nó, nó không còn sự sống nữa. Nó đã chết. Nhưng mặc họa cố gắng bắt giữ sự vật cùng với sức sống của nó, một điều cơ hồ không thể đạt được. Vâng, sự nỗ lực của người nghệ sĩ muốn thể hiện một vật thể sống động trên trang giấy dường như bất khả thi, nhưng người nghệ sĩ có thể đạt được ý muốn này ở một giới hạn nào đó nếu mỗi nét bút đều phóng phát trực tiếp từ cái thần khí nội tại, không bị ngoại giới và tạp niệm ngăn trở. Trong trường hợp này ngòi bút chính là cánh tay vươn dài ra. Hơn thế nữa, nó chính là Thần khí của nghệ, sĩ, thần khí này ứng hiện trong từng nét bút trên mặt giấy. Khi hoàn tất, bức mặc họa chính là một thực thể sống, hoàn bị và không hề là bản sao của bất kỳ sự vật nào.”
Để đạt được cái Thần trong hội họa, ngoại trừ việc chuyên tâm khổ luyện ra thì người họa sĩ còn phải am tường các loại kỹ thuật cũng như các công cụ chuyên dùng sao cho đạt được hiệu quả cao nhất.
Bút lông (Mao Bút)- Đứng đầu Văn Phòng Tứ Bảo
Nguồn gốc:
Linh hồn của nét vẽ Thư Họa Trung Hoa đến từ nét bút của 1 loại bút đặc biệt có tên là “Mao Bút” tức “Bút Lông”. Đây là 1 phát minh tuyệt vời của người Trung Hoa hơn 2000 năm trước CN. Theo thuyết của Léon Wieger thì vào đời Tần, Trình Mạc (程邈) chế bút bằng que gỗ dập tưa ở đầu. Người ta chấm bút vào sơn đen rồi viết trên vải lụa. Về sau bút gỗ được cải tiến thành bút lông.
Sự phát minh bút lông cũng như các văn cụ khác như mực (mặc 墨 ), giấy (chỉ 紙 ), nghiên mực (nghiễn 硯) mà người Trung Quốc quen gọi là văn phòng tứ bảo (文房四寶) giữ vai trò quan trọng trong việc truyền bá văn hóa, truyền thụ tri thức, sáng tạo nghệ thuật. Cây bút lông Trung Hoa hoàn toàn khác hẳn dụng cụ viết ở các nước khác, bởi vì ở các nước khác có sự phân biệt rõ dụng cụ viết (bút) và dụng cụ vẽ (cọ) còn ở Trung Quốc thì không. Bút lông kiêm luôn hai chức năng viết và vẽ. Môn thư pháp (calligraphy) từ lâu vốn được xem là loại hình nghệ thuật đặc biệt. Người viết chữ đẹp được gọi là Thư Pháp Gia, được trọng vọng ngang với người vẽ tranh đẹp tức Thư Họa Gia.
Điều làm nên sự tuyệt diệu của bút lông chính là sự mềm mại của lông kết hợp với sự cứng cỏi của cán bút hội đủ cương nhu sẽ triển hiện hết cái Thần và cái Tâm Thái của người họa sĩ. Chính vì điều đó nên việc chọn nguyên liệu để làm nên chiếc Mao Bút đã nâng lên thành một nghệ thuật cao cấp.

Bút lông là sự kết hợp mềm mại của lông với sự cứng cỏi của cán bút hội đủ cương nhu sẽ triển hiện hết cái Thần và cái Tâm Thái của người họa sĩ.

Phân loại và sử dụng bút lông:
1.Theo loại lông:
Các loại bút lông cổ rất đa dạng, nếu lấy loại lông để phân ra thì có, lông thỏ, lông dê trắng, lông dê xanh, lông dê vàng, râu dê, lông ngựa, lông hươu, lông nai, lông mèo, lông chó, lông chuột, lông điêu, râu chuột, đuôi chuột, lông hổ, lông sói, lông cáo, lông vượn, lông ngỗng, lông vịt, lông gà, lông lợn, tóc người, râu người, cỏ mao…
2. Theo tính năng:
Nếu dựa vào tính năng để phân loại có: ngòi cứng (硬毫), ngòi mềm (軟毫), ngòi kiêm hai đặc tính (兼毫). Nếu dựa vào quản bút mà phân biệt, có thủy trúc (水竹), kê mao trúc (雞毛竹), ban trúc (斑竹), tống trúc (棕竹), tử đàn mộc (紫擅木), kê dực mộc (雞翅木), đàn hương mộc (檀香木), nam mộc (楠木), hoa lê mộc (花梨木), huống hương mộc (況香木), sơn mài (雕漆), lục trầm tất (綠沉漆), ngà voi (象牙), sừng tê (犀角), sừng trâu (牛角), sừng lân (麟角), ngọc (玉), thủy tinh (水晶), lưu ly (琉璃), vàng (金), bạc (銀), sứ (瓷)…nhiều loại quản bút thuộc loại quý hiếm.
3.Theo mục đích sử dụng:
Nếu phân theo mục đích sử dụng có sơn thủy bút (山水筆), hoa hủy bút (花卉筆), diệp cân (葉筋筆), nhân vật bút (人物筆), Y văn bút (衣紋筆), thiết cốt bút (設骨筆), thái sắc bút (彩色筆) ……
4.Theo chủng loại:
Chủng loại của bút rất nhiều, đến nay thường dùng là các loại: Tử hào (紫毫), Lang hào (狼毫), Dương hào (羊毫) và Kiêm hào (兼毫).
Bút Tử hào lấy lông trên sống lưng thỏ hoang để làm ra, lông có màu tím sẫm nên mới gọi là Tử hào. Lông thỏ có đặc tính cứng nên bút lông thỏ cũng gọi là Kiện hào bút (健毫筆), lông thường dài và nhọn, thích hợp viết chữ vuông vắn, ngay ngắn, các thư pháp gia thích dùng loại này.
Bút Lang hào là lấy lông sói chế thành. Người xưa dùng lông sói để chế bút nhưng ngày nay cái gọi là Lang Hào thực ra là lông chuột vàng (黃鼠「狼」之「毫」). Lông đuôi của chuột vàng nhọn có thể làm bút được, chất lông cứng sau lông thỏ và hơn lông dê, bút làm ra thuộc loại kiện hào bút (健毫筆 – bút lông cứng).
Bút Dương hào tức là làm bút từ lông đuôi hoặc râu của dê vàng. Thư pháp rất trọng bút lực nhưng lông dê thì mềm không có phong (ngòi nhọn), viết chữ sẽ bị “Nhuyễn nhược vô cốt – yếu ớt vô lực”, vì thế thư pháp gia các đời ít sử dụng loại này.
Bút Kiêm hào là việc lấy 2 loại lông khác nhau tạo thành, vì nó là sự hỗn hợp nên mới có tên gọi như thế. Ví như Tam tử thất dương, Ngũ tử ngũ dương…Kiêm Hào thường phối hợp một cứng một mềm, lấy lông cứng làm chủ, đặt làm lõi bên trong, gọi là “trụ” (柱); lông mềm bao bên ngoài, làm phụ gọi là “bị” (被) . Trụ là lông dài, bị là lông ngắn , thế gọi là “Bút có chính có phụ” (Hữu trụ hữu bị bút – 有柱有被筆). Do đó “bị” thường gồm nhiều tầng, thường lấy lông thỏ làm “trụ” (cốt), bên ngoài thêm một số “bị” bằng lông dê ngắn, sau đó lại thêm một lớp lông dê độ dài bằng “trụ”, tổng cộng 3 lớp, vì thế phần bụng bút thường to, đầu bút lại nhỏ, giữ được nhiều mực, rất tiện cho việc viết chữ. Đặc tính bút tùy vào tỷ lệ của hỗn hợp lông, khi cứng, khi mềm, khi hội đủ cứng mềm, hơn nữa giá thành thấp, so với những loại khác thì có điểm vượt trội hơn.

Việc chọn bút phù hợp cũng là yếu tố quan trọng tạo nên 1 tác phẩm thư họa đẹp.
Cách chọn bút lông:
Bút là dụng cụ thiết thân của kẻ sĩ quân tử cũng như các Thư Họa Gia nên bút cũng phải có cái Đức của riêng mình. Bút có bốn cái “đức” (四德 – Tứ đức) (hiểu là đặc tính): đó là Tiêm, Tề, Viên, Kiện (尖、齊、圓、健):
Tiêm: Khi lông bút chụm lại, ngòi bút phải nhọn. Bút có nhọn thì viết chữ mới dễ ra góc cạnh, biểu lộ được thần thái. Các tác giả thư pháp thường khiêm tốn mà xưng là “phốc bút” (禿筆 – bút tù) nhưng loại bút tù không có ngòi nhọn khó biểu hiện được tinh thần của thư pháp. Khi mua bút mới, ngòi lông thường có keo nên tụ lại, rất dễ phân biệt. Khi kiểm tra bút cũ, trước hết nhúng ướt ngòi bút, ngòi bút sẽ tụ lại, có thể phân biệt bút tù hay nhọn.
Tề: Khi bóp đầu bút bằng ra, các đầu lông trải đều ra. Bút được gọi là “tề” nếu đầu các sợi lông bằng nhau, không thò thụt, khi vận bút sẽ đạt được cảnh giới “Mọi sợi lông đều có lực” (萬毫齊力 – Vạn hào tề lực). Tuy nhiên muốn kiểm tra điều này phải làm bút mất lớp keo đi, vì vậy khi mua không kiểm tra được.
Viên: Chỉ việc ngòi bút tròn đều, lông bút dầy dặn. Lông bút dầy tức là khi viết sẽ có lực, nếu không dáng chữ sẽ gầy guộc, thiếu sinh lực. Bút “viên” khi vận sẽ được như ý. Khi chọn mua bút, ngòi bút có keo, quan sát kỹ sẽ biết có tròn đều hay không.
Kiện: Là sự đàn hồi của ngòi bút, thử ấn ngòi bút rồi nhấc bút lên, ngòi trở về trạng thái cũ. Cây bút có sự đàn hồi, lúc vận bút sẽ được như ý, thông thường, lông thỏ, lông sói đàn hồi hơn lông dê, khi viết chữ sẽ có khí thế. Về vấn đề này, sau khi rửa sạch lớp keo, nhúng ẩm bút rồi ấn thử sẽ biết bút có “kiện” hay không.
Mực Tàu – Đệ Nhị Trân Bảo
Đối với Thư Họa Trung Hoa thì Mực là 1 phần không thể thiếu nếu không muốn nói là quan trọng nhất. Nó chỉ thua Bút Lông vì Bút Lông có thể dùng Mực để tạo ra tranh vẽ chứ nếu xét về độ tinh vi khi chế tạo thì có thể nói mực còn khó làm hơn Bút Lông nhiều.
Con người bắt đầu dùng mực từ 2.500 trước Công nguyên. Người Trung Quốc và Ai Cập sử dụng nó trước tiên. Giữa thời Ngụy Tấn mới chế ra thỏi mực bằng cách lấy khói sơn hòa với than tùng hoặc bồ hóng khuấy với dầu thực vật, keo thực vật (nhựa thông) làm thành những thỏi mực vuông và dài, gọi là mực Tàu. Trong tiếng Hán tượng hình, chữ “Mo” (âm Hán – Việt là mặc) được biểu đạt bằng một chữ “Hắc” 黑 (đen) bên trên và chữ “Thổ” 土 (đất) ở phía dưới. Nó nói lên nguồn gốc chất liệu đầu tiên của sản phẩm này. Đó là một loại đá đen tự nhiên hay bán tự nhiên.
Để làm ra Mực tốt tính ra có đến hơn 20 giai đoạn, dùng nhiều kỹ thuật khác nhau, lại thêm một số bí mật gia truyền. Người Trung Hoa thường nói: “Vàng dễ kiếm, mực khó tìm”. Trong thư pháp, mài một đĩa mực là lúc người nghệ sĩ đặt hết tâm hồn, để cho lòng tĩnh lặng. Vì như đã nói ở trên, sự tĩnh lặng nội tâm để đạt đến cảnh giới cao siêu là điều quan trọng nhất của một thư họa gia. Đổ một chút nước lên mặt nghiên, một tay giữ nghiên cho vững, tay kia cầm thỏi mực quay đều đặn, chầm chậm theo hình tròn cho tới khi mực sánh lại. Mực tốt không bao giờ nghe tiếng sột soạt khi mài và người biết cách mài không thể cho thỏi mực vạt sang một bên.
Đáp ứng nhịp độ nhanh của cuộc sống hiện đại, ngày nay, mực cũng được sản xuất và bán ra dưới dạng đóng chai để tiết kiệm thời gian cho người sử dụng. Tuy nhiên, theo quan niệm truyền thống của người Trung Quốc, mực phải được mài trên nghiên đá, mới là thứ mực “hoạt” (sống), là thứ mực chứa đựng sự hài hòa âm dương. Và công đoạn mài mực không phải là việc tốn thời gian mà chính là lúc người nghệ sĩ có thể tập trung tâm thức trước khi múa bút tạo nên tác phẩm của mình. Có như vậy, ta mới cảm nhận hết được vẻ đẹp của động tác mà Tô Thức (1034 – 1101), thi sĩ nổi tiếng đời Tống đã từng ngợi ca, rằng âm thanh của tiếng mực mài trên nghiên như một thứ âm nhạc thanh bình và tao nhã.

Trong thư pháp, mài một đĩa mực là lúc người nghệ sĩ đặt hết tâm hồn, để cho lòng tĩnh lặng.

Giấy Thư Họa
Giấy là 1 phát minh mang tính cách mạng đối với các thể loại nghệ thuật và một Thư Họa Gia không thể nào trổ hết tài năng của mình nếu không có 1 loại giấy thích hợp. Trong hàng ngàn năm lịch sử của mình, Thư Họa Trung Hoa đã phát triển nên rất nhiều loại giấy, đại khái có thể phân loại, ta sẽ dựa vào đặc tính của nguyên liệu tạo ra giấy.
Tất cả các nguyên liệu chủ yếu để làm giấy đều lấy từ sợi thực vật như tre, gỗ. Sợi từ tre tính cứng, lúc làm ra giấy thường ít hút mực, sợi từ gỗ tính mềm, lúc tạo ra giấy hút mực rất mạnh, từ đó, ta có thể phân chia giấy làm ra thành hai nhóm lớn:
1. Giấy hút mực ít, được làm từ tre trúc, bề mặt thường trơn láng. Khi viết, mực thường nổi trên bề mặt, không loang, tạo sắc thái riêng. Giấy loại này ở Việt Nam không có, chỉ có vài chủng loại giấy của Trung Quốc như: Trừng Tâm Đường Chỉ, Nê Kim Tiên, hiện nay có thêm Dương Chỉ – 洋纸.
Trừng Tâm Đường Chỉ – 澄心堂纸: là loại giấy được Nam Đường Lý Hậu Chủ sử dụng, nổi danh cùng loại mực Đình Khuê Mặc, bề mặt phẳng nhẵn, mịn màng, có tên gọi là “Hoạt như xuân băng, mật như tỷ” 滑如春冰密如玺”, là loại giấy thượng phẩm ít hút mực. Loại giấy kém hơn gọi là Lãnh Kim Tiên 冷金笺, cũng có đặc tính tương tự.
Thục Chỉ – 蜀纸: Tương truyền Tây Thục được chân truyền cổ pháp tạo giấy của Sái Luân (蔡伦), vì thế mới có tên là Thục Chỉ, nổi tiếng từ đời Đường về sau, có các loại: Tiết Đào Tiền , Tạ Công Tiên… Có thuyết cho rằng, nước vùng này tinh khiết, tạo được đặc tính riêng cho giấy. “Tạ Công Tiên” có mười sắc, nên còn gọi là Thập Sắc Tiên. “Tiết Đào Tiên” tuy được làm theo cổ pháp nhưng màu nhuộm mau phai, không thể để lâu.
Tàng Kinh Chỉ – 藏经纸: Được dùng trong cửa Phật hoặt dùng làm giấy in kinh sách, còn có tên gọi là Kim Túc Tiên có hai màu vàng và trắng.
Đời Minh, Thanh thường dùng Nê Kim Tiên – 泥金牋, Lạp Tiên – 蜡牋, Lãnh Quang Tiên – 冷光牋 tới nay ít thấy. Tới nay chỉ có Nhật Bản vẫn còn chế loại giấy Ô Tử Chỉ thuộc nhóm giấy này, nhưng giá rất đắt, lại không để được lâu vì vậy không có tính thực dụng.
2. Giấy hút mực nhiều được làm từ sợi của các loại gỗ, hút rất nhiều mực, bề mặt hơi ráp, mực rơi xuống mặt giấy sẽ loang ra, khi viết thường quét thêm tương (chưa khảo được loại tương gì), hoặc xoa một lớp sáp lên trên.
Giấy này không bóng bằng loại giấy Tiên (như ở trên) và xuất hiện muộn hơn, nhưng là loại giấy quan trọng đối với Thư pháp.

Một Thư Họa Gia không thể nào trổ hết tài năng của mình nếu không có 1 loại giấy thích hợp.
Giấy Dó Việt Nam: được làm từ sợi cây Dó , màu ngà vàng, độ hút mực tùy theo độ dày của giấy, giữ được khoảng vài trăm năm. Giấy Dó hiện nay còn giữ được nghề chủ yếu vì phục vụ cho giới hội họa, vì vậy không có các khổ giấy cần thiết cho Thư pháp, mẫu mã cũng không đa dạng.
Tuyên Chỉ và Phỏng Tuyên – 宣纸 (Việt Nam gọi nhầm là Xuyến Chỉ): lấy tên Tuyên Thành ở An Huy. Tuy nhiên chỉ có vùng phụ cận của Tuyên Thành mới sản xuất giấy. Nhiều nơi cũng sản xuất giấy Thư pháp rồi cũng lấy tên là Tuyên Chỉ. Hiện nay loại giấy Tuyên được ưa chuộng là: Ngọc Bản Tuyên – 玉板宣, làm từ gỗ dâu, rạ và vỏ cây Đàn Mộc ngâm tro, vì vậy giấy hút mực rất nhiều. Dùng giấy này, nếu viết quá chậm, mực sẽ loang mạnh tuy nhiên có nhiều thư pháp gia lợi dụng được điểm này, viết ra nhiều tác phẩm mang phong vị riêng như Bao Thế Thần, Tề Bạch Thạch. Hiện nay, độ hút mực của giấy Tuyên đã được giảm bớt tiện cho người viết hơn.
Ngoài giấy Dó và giấy Tuyên, Việt Nam hiện nay còn thịnh hành viết loại giấy Điệp vốn dùng làm tranh Đông Hồ. Giấy Điệp thực chất là một tờ giấy Dó, quét một lớp Điệp (Vỏ sò giã nát trộn với màu thiên nhiên và hồ) trên bề mặt. Giấy này ít hút mực, đặc tính tương tự giấy làm từ tre, bề mặt bóng, có ánh sáng của vỏ sò. Tuy nhiên, do phụ thuộc vào khổ giấy dó, nên giấy Điệp cũng không đa dạng về kích cỡ, đồng thời không giữ được lâu bởi màu Điệp mau phai, dễ gẫy mạch giấy.
Nghiên Mực
Đối với những nhà thư pháp và họa sĩ, nghiên có tầm ảnh hưởng quan trọng lên chất lượng mực. Nghiên tác động đến lượng và kết cấu của thứ mực được mài trên đó. Trung Quốc có bốn loại nghiên được đặc biệt chú ý.
Đoan nghiễn (giản thể: 端砚; phồn thể: 端硯; bính âm: Duānyàn) được sản xuất tại Triệu Khánh, Quảng Đông, có tên dựa theo tên của quận Đoan (quận trị sở thời nhà Đường). Đoan nghiễn làm từ đá núi lửa, thông thường có màu tím hoặc đỏ tím. Nghiên có nhiều loại vân đẹp do sự đa dạng của các loại vật liệu có trong đá, góp phần tạo nên những thiết kế độc đáo và những mắt đá (bao thể) được Trung Quốc thời xưa xem là có giá trị. Vào thời Tống người ta khai thác thêm đá màu xanh lá cây. Đoan nghiễn được phân loại rất cẩn thận theo từng nguồn gốc mỏ mà từ đó người ta khai thác đá. Một số mỏ chỉ mở ra để khai thác trong một số khoảng thời gian riêng biệt trong lịch sử. Chẳng hạn, mỏ đá Ma Tổ Khanh vốn chỉ được khai thác trong thời vua Càn Long trị vì, sau này đến thời hiện đại mới được mở trở lại.
Hấp nghiễn (giản thể: 歙砚; phồn thể: 歙硯; bính âm: Shèyàn): có nguồn gốc từ huyện Hấp (tỉnh An Huy) và huyện Vụ Nguyên (tỉnh Giang Tây), được chế tác lần đầu dưới thời nhà Đường. Vào thời Đường, cả hai huyện này đều nằm dưới quyền của huyện Hấp, Huy châu. Hấp nghiễn thường mang sắc đen, trên đó có những vân màu vàng. Cũng như Đoan nghiễn, chúng được phân loại dựa theo nguồn gốc mỏ đá.

Đặc điểm của nghiên mực huyện Hấp là mịn nhẵn như ngọc, lúc mài trơn như dầu, không nghe tiếng, sử dụng bền.
Thao (Hà) nghiễn (giản thể: 洮(河)砚; phồn thể: 洮(河)硯; bính âm: Táo(hé) yàn): được làm từ đá lấy từ đáy sông Thao ở tỉnh Cam Túc. Nghiên làm từ đá này được dùng lần đầu tiên dưới thời nhà Tống và nhanh chóng được người xưa ưa chuộng. Trên nghiên có những vân khác lạ có dạng những ruy băng gợn sóng mang các sắc thái khác nhau. Đá sông Thao là loại đá kết tinh và trông tựa như ngọc bích, ngày càng trở nên hiếm và khó tìm. Người ta dễ bị nhầm giữa đá sông Thao với đá xanh để làm Đoan nghiễn, tuy nhiên có thể phân biệt chúng dựa vào đặc tính kết tinh của đá sông Thao.
Trừng Nê nghiễn (giản thể: 澄泥砚; phồn thể: 澄泥硯; bính âm: Chéngníyàn) là loại nghiên làm từ gốm. Nghiên này có nguồn gốc từ Lạc Dương, Hà Nam và có từ thời Đường.
Ấn Triện – Dấu ấn riêng của Họa Gia
Ấn chương 印章 (con dấu, con triện) là một nét văn hóa rất độc đáo của Trung Quốc. Khắc ấn là một nghệ thuật, nghiên cứu và giám định ấn là một môn học được dạy trong nhà trường. Ấn có thể bằng vàng, đá quý, ngà, xương. Ấn dùng trong công văn giấy tờ đã đành, nhưng ấn có thể kết hợp với thư (thư pháp) và họa (tranh thủy mặc), chúng bổ túc nhau mà tương hỗ tương thành. Một bức họa có thư pháp và một hoặc nhiều ấn chương trở thành một chỉnh thể gọi là “kim thạch thư họa cộng nhất thể” 金石書畫共一體 (ấn triện bằng đá hay vàng, thư pháp, hội họa hợp nhất thành một thể).
Trong sinh hoạt hàng ngày, người Trung Quốc phân biệt hai loại ấn chương là công và tư. Ngoài ra tư ấn còn có danh chương 名章 (khắc tên, biệt hiệu tác giả) và nhàn chương 閑章 (có nội dung đa dạng). Chúng có hình vuông, tròn, chữ nhật, bầu dục, đa giác.
Ấn chương là một yếu tố quan trọng của một bức thư pháp hay một bức họa. Đặt đúng vị trí, ấn chương tôn thêm giá trị của tác phẩm; ngược lại, sẽ làm hỏng nó. Nghiên cứu kỹ ấn chương, người ta có thể giám định một bức thư họa là chính bản hay ngụy tạo.
Mỗi thư họa gia có không ít ấn chương, như Tề Bạch Thạch cả chục biệt hiệu nên số ấn chương cũng nhiều chẳng kém. Chuyên gia về ấn có thể xác định ấn được khắc vào khoảng thời gian nào trong cuộc đời tác giả.

Ấn chương là một yếu tố quan trọng của một bức thư pháp hay một bức họa.
Trên đây là những điều hết sức cơ bản về ấn chương. Ta cần nhớ mấy điểm chính về các loại ấn chương như sau:
1/ Nhàn chương 閑章: cũng gọi dẫn thủ chương 引首章 (vì đóng ở đầu tác phẩm) hoặc tùy hình chương 隨形章 (vì tùy theo hình dạng có sẵn của cục đá mà khắc ấn). Nội dung nhàn chương phải phù hợp nội dung tác phẩm. Nói chung, khi đem tác phẩm mừng tặng ai, nhàn chương với nội dung “như ý cát tường” là an toàn và bảo đảm nhất. Trong số nhàn chương cũng phân ra mấy loại:
a- Niên hiệu chương 年號章: Ghi giáp tý 甲子, ất sửu 乙丑, bính dần 丙寅, nhất cửu cửu bát niên 一九九八年, v.v.
b- Nguyệt hiệu chương 月號章: Ghi tên tháng như hoà nguyệt 和月, cốc vũ 谷雨, thịnh hạ 盛夏, v.v.
c- Trai hiệu chương 齋號章: Ghi tên hiệu của thư trai 書齋 (phòng đọc sách) của ta như Mặc Nhân Cư 默人居, Thụy Đức Thảo Đường 瑞德草堂, Tích Tự Các 積字閣, v.v.
d- Nhã thú chương 雅趣章: Nội dung loại này rất đa dạng, ghi nỗi lòng, hoài bão, ý chí, danh ngôn, phương châm v.v. Thí dụ: Lạc nhi khang 樂而康 (vui vẻ mạnh khoẻ), khổ trung lạc 苦中樂 (sướng trong cảnh khổ), thiên địa tâm 天地心 (lòng trời đất), mặc thú 墨趣 hay mặc lạc 墨樂 (thú vui thư pháp), thần công 神功, cần phấn 勤奮 (siêng năng cố gắng), khổ công 苦功 (công phu khổ luyện), trị học 治學 (chuyên học), tửu trung tiên 酒中仙 (tiên trong rượu), thanh thú 清趣 (thú vui thanh nhã), sư cổ bất nệ 師古不泥 (noi theo xưa mà không câu nệ), thư đức 書德 (đức viết chữ), tinh cần 靜勤 (tinh chuyên và cần mẫn), phúc thọ 福壽 , mặc hương 墨香 (hương thơm của mực), quan viễn 觀遠 (nhìn xa), v.v.
2/ Yêu chương 腰章: Đối với một bức trung đường (trực phúc, tức là tấm hình chữ nhật đứng) mà quá dài, dù có đóng dẫn thủ chương rồi thì vẫn cảm thấy trống trải. Ở ngang thắt lưng tác phẩm ta đóng thêm một ấn. Ấn chương đóng ở ngang lưng bức thư pháp gọi là yêu chương (yêu 腰: eo thắt ngang lưng). Yêu chương phải nhỏ hơn nhàn chương và danh chương, có thể hình chữ nhật, vuông, hoặc tròn.
3/ Danh chương 名章: Ấn chương khắc tên hoặc tự hiệu của tác giả, đóng dưới hạ khoản. Có thể đóng hai ấn chương nội dung khác nhau, nhưng tốt nhất là một ấn bạch văn và một ấn chu văn. Các chữ này khi đã in trên giấy phải theo thứ tự ngược chiều kim đồng hồ thì mới đúng quy cách.

Thư Họa Trung Hoa qua hàng nghìn năm phát triển quả thật là thể hiện đỉnh cao của trí tuệ và đạo đức của cổ nhân, qua đó thấy được rõ ràng nhất của trình độ văn hóa và nhân văn của một xã hội.
Nghệ thuật chính là biểu hiện của tinh thần con người, cũng là phần nhận thấy được rõ ràng nhất của trình độ văn hóa và nhân văn của một xã hội. Thông qua nghệ thuật ta có thể thấy được đạo đức và nhân văn của xã hội đó như thế nào. Thư Họa Trung Hoa qua hàng nghìn năm phát triển quả thật là thể hiện đỉnh cao của trí tuệ và đạo đức của cổ nhân, nó không những có thể giúp ta nâng cao nhận thức thẩm mỹ mà còn có thể làm bình yên tâm hồn vốn luôn xao động của con người hiện đại. Qua rèn luyện nghệ thuật cá nhân có thể đạt được sự tĩnh tâm hiếm có để cảm thụ được nét đẹp của cuộc sống và vũ trụ quanh mình đồng thời giảm đi những dục vọng cá nhân vốn có thể chôn vùi cả tuổi thanh xuân một cách vô ích. Thay vì vùi đầu vào điện thoại thông minh hay máy tính cả ngày thì việc thưởng thức vài bức thư họa để thư giãn tâm hồn có lẽ sẽ đem lại hiệu quả bất ngờ để cải thiện sức khỏe tâm hồn của bạn.
Tĩnh Thủy

5 tháng 10, 2017

Phim “Cuộc chiến Việt Nam”: Nước tràn miệng giếng

ReflectionSocialArt.jpg
Nguyễn Nhật Huy
 “Cuộc chiến Việt Nam” từ chối gọi bất cứ ai là người hùng, trừ chính những người bình thường, ở tất cả các phía”
 “Trở về từ Việt Nam cũng nhức nhối như chính cuộc chiến” –  Karl Marlantes, một cựu binh Mỹ mở đầu bộ sử thi truyền hình mới nhất của Ken Burns và Lynn Novick trình chiếu trên kênh PBS. Ở Mỹ, suốt nhiều năm sau chiến tranh, không ai nói về Việt Nam vì nó quá chia rẽ, giống như “sống trong một gia đình với ông bố nghiện rượu.” Cuộc chiến Việt Nam giống như một sang chấn tinh thần mà không ai muốn nhắc đến. Chỉ tới gần đây khi những người lính xưa đã trở thành ông bà thì “thế hệ babyboomers mới bắt đầu tự hỏi: điều gì đã xảy ra?”
Bộ phim sau đó chuyển sang những hình ảnh quen thuộc về Cuộc chiến Việt Nam nhưng được quay ngược lại: chiếc trực thăng nhô lên khỏi mặt biển và bay lên lại tàu sân bay, chiếc xe tăng của Giải phóng quân (GPQ) chạy lùi ra khỏi Dinh Độc Lập, bom bị hút từ mặt đất lên gầm máy bay, đám lửa từ mái nhà bị thu lại miếng ống, “Bé gái Napalm” – Phan Thị Kim Phúc – chạy giật lùi, viên đạn từ đầu Nguyễn Văn Lém bay lại về phía họng súng của Nguyễn Ngọc Loan. Trường đoạn kết thúc với hình ảnh lính Pháp đi lùi trên cánh đồng của người nông dân Việt Nam. Năm phút đầu tiên của bộ phim chính là cách đạo diễn khẳng định lý do và mục đích của bộ phim, đóng vai trò như chiếc cần gạt nước cho hơn 50 năm chia rẽ và im lặng, hướng tới xây dựng lại toàn bộ những gì chúng ta hiểu về cuộc chiến. Và để thực sự hiểu thì phải quay lại xa, rất xa.  
Trong tiếng đàn đá với giai điệu “Tình quân dân” thực hiện bởi dàn nhạc Con Đường Tơ Lụa, bộ phim đưa người xem trở lại Việt Nam của giữa thế kỷ 19 với phong cảnh rừng vàng, biển bạc, những người nông dân gánh mạ nhấp nhô trên đồng trước khi tái hiện gần 150 năm lịch sử của người Việt Nam từ khi quân đội Napoleon III nổ phát súng đầu tiên ở Đà Nẵng năm 1858 tới khi Tổng thống Obama phát biểu ở Hà Nội “Một tương lai khác biệt là hoàn toàn khả dĩ nếu chúng ta từ chối làm tù nhân cho quá khứ.” 
18 giờ của “Cuộc chiến Việt Nam” tái hiện lại bản thiên anh hùng ca nhưng cũng là trang bi kịch lớn nhất thế kỷ 20 của hai dân tộc. Bộ phim lý giải vì sao hai quốc gia nằm cách nhau tới 8,500 dặm, vì nhiều lý do địa chính trị khác nhau,lại rơi vào một cuộc xung đột đẫm máu cướp đi sinh mạng của hơn ba triệu người. Kéo dài cả bộ phim là sự vật lộn của người Mỹ để thoát khỏi đầm lầy Việt Nam nhưng mỗi quyết định lại kéo họ lún sâu hơn. Những nhà lãnh đạo Mỹ, vì sợ bị quy chụp là “yếu đuối trước cộng sản,” đã hết lần này tới lần khác đổ mạng sống, khí tài của nước Mỹ vào hố đen Việt Nam. Từ chính quyền Truman chi trả tới 80% chiến phí cho người Pháp tái chiếm Đông Dương tới, Eisenhower, Kennedy đặt hy vọng vào Ngô Đình Diệm và Johnson, Nixon đưa lính Mỹ vào Việt Nam, tất cả đều không tin mình có thể thắng nhưng liên tục lừa dối công chúng Mỹ và huỷ hoại Việt Nam. 
“Cuộc chiến Việt Nam” vẫn được trình bày theo những dấu mốc quen thuộc của hai cuộc chiến tranh Đông Dương từ Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 tới Hiệp định Geneva, từ khi chính quyền Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) hình thành tới khi Mỹ đưa quân tham chiến vào Nam Việt Nam, từ khi Everett Alvarez bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội tới khi xe tăng 390 húc đổ cổng dinh Độc Lập. Nhưng Ken Burns và Lynn Novick đã áp dụng một cách kể chuyện khác: kết hợp lịch sử học thuật đúc kết từ những nghiên cứu sâu với lịch sử truyền miệng từ chính những nhân chứng đã thật sự chịu đựng và trải qua chiến tranh để tạo nên một bức tranh toàn diện, sống động về cuộc chiến. 
Ngay từ những tập đầu tiên, phim đã tạo cho người xem ấn tượng thất bại của Mỹ và VNCH là không thể tránh khỏi. Về phía Mỹ, những quyết định sai lầm nối tiếp nhau, chi phối bởi nỗi sợ bành trướng của chủ nghĩa cộng sản và nỗi lo không tái cử của các tổng thống Mỹ. Người Mỹ không hiểu được rằng đối với người dân Việt Nam vào thời điểm đó, chủ nghĩa dân tộc mới là động lực chính của cuộc tranh đấu. Nhận định sai lầm cùng sự ngạo mạn đã cuốn quân đội Mỹ vào những trận đánh vô nghĩa nên mặc dù người Mỹ ít khi thua trong giao tranh nhưng lại kết thúc cuộc chiến trong thất bại. 
Bộ phim đã đưa ra hình ảnh chính quyền VNCH với những người lãnh đạo yếu đuối, bất tài, và tham nhũng trầm trọng. Ngay tới việc thu phục lòng dân của chính mình họ cũng uỷ thác cho người Mỹ. Trong khi ở miền Bắc, đội ngũ tuyên truyền đã xây dựng hình ảnh Hồ Chí Minh như một ông lão nông dân mặc áo nâu ngồi xổm câu cá thì ở miền Nam, Ngô Đình Diệm lại như một ông quan phong kiến bệ vệ, phải được kiệu qua chỗ nước ngập vì sợ ướt quần. Tới khi Trần Lệ Xuân gọi những vụ tự thiêu của giới Phật giáo miền Nam là “nướng thịt” lãng phí xăng nhập khẩu thì có lẽ ai cũng hiểu sự sụp đổ của miền Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. 
Nhưng không có nghĩa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH) và lực lượng Giải phóng quân (GPQ) là những đội quân thiên thần. Phim khẳng định không có bên nào hoàn toàn vô tội bằng những hé lộ mà có thể là cú sốc đối với nhiều người. Lực lượng Việt Minh và sau này là GPQ cũng hành động tàn bạo với các vụ thanh trừng, ám sát, giết hại thường dân, những vụ chôn sống để “khỏi tốn đạn” hay tra tấn tù binh chiến tranh. Lần đầu tiên trên sóng truyền hình, hai cựu chiến binh miền Bắc đã xác nhận vụ thảm sát có hệ thống ít nhất 2800 thường dân ở Huế năm 1968 bởi những người cộng sản trong đó có rất nhiều phụ nữ và trẻ em. Nhiều dân thường miền Nam thực sự đã sống cảnh “một cổ hai tròng” khi ban ngày thì bị Mỹ và VNCH sách nhiễu, ban đêm thì du kích cộng sản doạ nạt, thu thuế, cướp tài sản và giết hại. 
Có lẽ phim của Burns và Novick là bộ truyền hình đầu tiên đề cập Lê Duẩn một cách tương đối đầy đủ với vai trò là kiến trúc sư trưởng của cỗ máy chiến tranh. Cùng các đồng minh chính trị, Lê Duẩn đã xây dựng một nhà nước cảnh sát ở miền Bắc để làm cơ sở cho chiến lược diều hâu của mình ở miền Nam. Nắm quyền với quả đấm thép, ông đã loại bỏ dần Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp ra khỏi các vai trò quyết định và thanh trừng những người không đồng tình với canh bạc của mình. 
Bỏ ngoài tai sự phản đối không chỉ từ miền Bắc mà ngay cả những cán bộ miền Nam, Lê Duẩn kiên quyết tiến hành chiến dịch Mậu Thân 1968 với lời đảm bảo nhân dân miền Nam sẽ nổi dậy và binh lính VNCH sẽ chạy sang “phía ta.” Trên thực tế Mậu Thân là thất bại nặng nề cho những người cộng sản. Không mấy nơi người dân nổi dậy và không đơn vị nào của quân lực VNCH rời bỏ đội ngũ. 58,000 người, hơn một nửa tổng số quân của lực lượng cộng sản tử trận, bị thương hoặc bị bắt. Sai lầm lại tiếp diễn suốt nhiều năm sau đó, hy sinh tính mạng của hàng trăm ngàn binh lính và thường dân một cách vô ích. Giới lãnh đạo Hà Nội sẵn sàng “hy sinh tới người Việt Nam cuối cùng” để đánh Mỹ nhưng hầu hết lại cho con em mình ở hậu phương hoặc gửi đi nước ngoài. 
Bộ phim cũng cung cấp bằng chứng Hà Nội khó có thể tồn tại và kéo dài cuộc chiến nếu không có sự hậu thuẫn của Liên Xô và Trung Quốc. Từ 6/1965 tới 3/1968 Mao Trạch Đông đã điều tổng cộng 320,000 lính Trung Quốc đóng quân ở miền Bắc Việt Nam làm các nhiệm vụ kỹ thuật để quận đôi Việt Nam đi đánh Mỹ. 1,100 lính Trung Quốc đã chết và 4,200 bị thương trong khi đóng quân ở Việt Nam. Bắc Kinh ủng hộ VNDCCH đánh Mỹ nhưng cũng đánh tiếng với người Mỹ quân đội của Mao sẽ không tham chiến nếu Mỹ duy trì ở phía nam vĩ tuyến 17. Trong số các lãnh đạo cộng sản muốn hy sinh tới người Việt Nam cuối cùng thì có lẽ Mao là người hăng hái nhất. 
Điểm đáng chú ý và có lẽ là đáng xem nhất của bộ phim ở cách tái hiện cuộc chiến ở nhiều khía cạnh nhất. Trên dưới 80 người được phỏng vấn đại diện cho rất nhiều phía: một bà mẹ người Mỹ có con bị tử trận ở Việt Nam, một cô thanh niên xung phong trên đường Hồ Chí Minh, các cựu binh miền Bắc, cựu binh miền Nam, biệt động Sài Gòn, lính thuỷ đánh bộ Mỹ, tù binh chiến tranh, nhà hoạt động phản chiến. Đặc biệt, trong việc mô tả các trận đánh tiêu biểu như trận Ấp Bắc, Bình Giã, Ia Drang, Burns và Novick đã tận dụng triệt để cách dựng phim mà Burns gọi là “triangulation” khi xen giữa những thước phim tư liệu là những đoạn phỏng vấn với chính những người tham gia trận đánh đó ở tất cả các phía Mỹ, VNCH và lực lượng cộng sản. Lời kể của các nhân chứng đã từng đối đầu trực tiếp chỉ cách nhau vài thước trên chiến trường cùng hiệu ứng âm thanh, hình ảnh được dàn dựng công phu mang đến trải nghiệp thực tế rất kịch tích cho người xem. 
Khi xem phim khán giả sẽ trải qua những cung bậc cảm xúc mạnh mẽ: kinh hãi, ghê tởm, hoài nghi, sửng sốt, kinh nhạc, phấn chấn, tự hào. Có lẽ ít ai kìm được sự xúc động khi một cựu binh Mỹ nói về việc gần tự sát sau chiến tranh hay khi một cán bộ miền Bắc kể về trải nghiệm của cô trong ngôi nhà của người dân miền Nam bỏ lại với chiếc áo dài của người con gái còn đang vương trên máy khâu. Và người Việt Nam nói chung có lẽ sẽ cũng không khỏi cảm thấy tự hào khi một phi công Mỹ bày tỏ sự thán phục với các cô gái thanh niên xung phong trên đường Hồ Chí Minh trong khi ở Mỹ các cô gái “tuổi teen” chìm đắm trong cần sa và nhạc Rock N Roll ở Woodstock. “Cuộc chiến Việt Nam” từ chối gọi bất cứ ai là người hùng, trừ chính những người bình thường, ở tất cả các phía. 
Khách quan là một khái niệm rất chủ quan và 18 giờ phim không bao giờ là đủ để nói hết về một cuộc chiến dài 30 năm.Mặc dù Ken Burns và Lynn Novick đã cố gắng để tạo nên một bộ phim “công bằng nhất có thể” nhưng khuynh hướng phản chiến và thái độ phê phán chính quyền Mỹcó phần lấn át trong phim. Bộ phim cũng chưa hoàn toàn công bằng và khách quan khi khắc hoạ chính quyền hai miền, thể hiện rõ ở việc mô tả Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm. Nếu như Hồ Chí Minh được ưu ái thời lượng, kể nhiều về quá trình bôn ba của ông thì có rất ít thông tin về Ngô Đình Diệm trước 1954. Một chi tiết không được nhắc đến trong phim là sau khi thành lập nước VNDCCH, Hồ Chí Minh đã gặp mặt Ngô Đình Diệm ở Hà Nội năm 1945. Nhận thấy phẩm cách của Ngô Đình Diệm, Hồ Chí Minh đã mời ông làm Bộ trưởng Nội vụ nhưng vì bất đồng với quan điểm Cộng sản cộng them việc Việt Minh sát hại anh trai và cháu ruột mình nên ông từ chối. Ngoài ra, phục vụ trong chính quyền và quân đội VNCH cũng có rất nhiều người yêu nước và can đảm, sẵn sang chiến đấu bảo vệ lý tưởng của mình nhưng họ không được nhắc tới một cách xứng đáng trong phim.
18 giờ của “Cuộc chiến Việt Nam” cũng dài, ám ảnh và nhiều lúc mệt mỏi như chính cuộc chiến. Cây viết James Poniewozik của tờ Thời Báo New York cho rằng phim sẽ “làm tan vỡ trái tim và chinh phục khối óc của bạn” trong khi tờ Washington Post thì khẳng định đây là bộ sử thi “đáng xem đến từng phút.” “Cuộc chiến Việt Nam” được làm từ góc nhìn của người Mỹ và cho người Mỹ. Có lẽ đây sẽ là cố gắng cuối cùng để hiểu cuộc chiến và mang lại hoà giải cho một thế hệ người Mỹ nay đã là ông, bà. Những người trẻ Mỹ còn rất nhiều mối bận tâm khác như khủng bố 11/9, cuộc chiến Afghanistan, Iraq, Donald Trump. Nhưng trước khi người Việt Nam có thể làm một bộ phim cho chính mình thì bộ tài liệu của Burns và Novick là cơ hội tốt nhất để chúng ta, đặc biệt là người Việt trẻ, hiểu hơn về lịch sử viết bằng máu của dân tộc mình. Như Ken Burns đã nói “tiến bộ và hoà giải chỉ đến khi chúng ta ít quả quyết hơn về những gì mình biết,” hoà giải chỉ đến khi chúng ta dám thừa nhận những gì mình biết chỉ là khoảng trời gói gọn trong miệng giếng. Những nỗ lực như “Cuộc chiến Việt Nam” sẽ như nước mưa giải thoát chúng ta khỏi đáy giếng hiện thực của chính mình. 

30/09/2017
 Nguồn tham khảo:
http://www.neh.gov
Studying the Vietnam War
Westar, Odd Arne, 2017, The Cold War: A World History (Chapter 12: Encountering Vietnam)

Ken Burns, Lynn Novick và “Cuộc Chiến Việt Nam”

Vietnam-War-Ken-Burns-Lynn-Novick-FTR.jpg
Nguyễn Nhật Huy (Hoa Kỳ)
 “Đó là một sự xấu hổ thường nhật.” Ken Burns đã nói như vậy khi được hỏi về trải nghiệm sản xuất bộ phim tài liệu “Cuộc chiến Việt Nam” mà ông hợp tác cùng nữ đạo diễn Lynn Novick. Burns và Novick bắt đầu dự án với “một sự ngạo mạn” rằng họ hiểu cuộc chiến. Nhưng ngay khi bắt đầu quá trình nghiên cứu, họ nhận ra họ đã gần như không biết gì.

Những năm gần đây là thời gian nở rộ cho những nghiên cứu mới về Việt Nam, một chủ đề phần nào đánh mất sự hứng thú từ phía các học giả và công chúng vào những năm 90. Chiến tranh lạnh kết thúc với sự sụp đổ của hệ thống Cộng sản làm tăng sự tự tin về sức mạnh và làm giảm mối quan tâm tới những cuộc chiến thất bại của Mỹ. Nhưng sang thế kỷ 21, hai cuộc chiến Afghanistan và Iraq mà nhiều người gọi là “một Việt Nam khác” cùng các tài liệu được giải mật từ tàng thư của Mỹ, Đông Âu, một phần từ Trung Quốc và Việt Nam đã khiến Chiến Tranh Đông Dương lần thứ 2 thu hút những nghiên cứu mới. Một trong các công trình được mong đợi là bộ phim tài liệu “Cuộc chiến Việt Nam” bắt đầu phát sóng vào giữa tháng 09/2017 trên kênh PBS đồng đạo diễn bởi Ken Burns và Lynn Novick.

Ken Burns, 64 tuổi, nổi tiếng với kiểu tóc “úp nồi,” là một tượng đài về làm phim tài liệu ở Mỹ. Ông trở nên nổi tiếng sau khi hoàn thành bộ “Cuộc Nội Chiến” nói về Nội Chiến Hoa Kỳ phát sóng năm 1990. “Cuộc Nội Chiến” thu hút tới 40 triệu người xem, thiết lập kỷ lục cho chương trình có nhiều người xem nhất trong lịch sử của PBS. Sau thành công đó, Burns tạo cho mình danh tiếng như “người kể chuyện nước Mỹ” bằng loạt phim tài liệu về các câu chuyện kinh điển của Mỹ như “Bóng chày” (1994), “Jazz” (2001), “Luật cấm đồ cồn” (2011), và “Gia tộc Roosevelt” (2014). “Cuộc chiến Việt Nam” có lẽ cũng sẽ theo mạch đó, chỉ là một câu chuyện khác của nước Mỹ nếu không có Lynn Novick, người quả quyết rằng “Cuộc chiến Việt Nam” phải được thực hiện cả ở Việt Nam và kể những câu chuyện Việt Nam.

Lynn Novick sinh năm 1962, bà tốt nghiệp Đại học Yale và bắt đầu làm việc cho Burns khi bộ phim “Cuộc Nội Chiến” đang ở giai đoạn hậu kỳ. Ấn tượng với năng lực của Novick, Burns đã đề nghị bà làm nhà sản xuất cho phim tài liệu “Bóng Chày.” Tới bộ tài liệu về Frank Lloyd Wright, kiến trúc sư bậc thày của Mỹ thì Burns và Novick trở thành đồng đạo diễn và tiếp tục như vậy với hầu hết các phim về sau. Trong quá trình làm “Cuộc chiến Việt Nam,” Lynn Novick đã tới Việt Nam ba lần. Cùng nhà sản xuất Sarah Botstein, bà điều hành tất cả các hoạt động của dự án tại đây. Ken Burns do phải phẫu thuật thận đã không thể bay sang. Trong chuyến bay từ Mỹ tới Việt Nam tháng 08/2017, Novick đã tự nhủ đó sẽ là lần cuối cùng nhưng bà biết mình đã nhầm ngay khi đặt chân xuống mặt đất. Tuy dự án phim đã kết thúc nhưng một mối liên hệ cá nhân đã hình thành giữa bà và nhiều người bạn Việt. Sau những gì nhận được từ Việt Nam, bà cảm thấy mình có trách nhiệm phải làm cho bộ phim xem được ở Việt Nam thay vì chỉ mang nó về Mỹ như một sản phẩm thương mại. Lynn Novick mong rằng một ngày bà sẽ mang con trai và cả Ken Burns tới Việt Nam. Như vậy sẽ là lần đầu tiên bà giúp ông mở rộng tầm nhìn chứ không phải chiều ngược lại.
Có thể nói “Cuộc chiến Việt Nam” là một trong những dự án tham vọng nhất của Ken Burns và Novick. Bộ phim có độ dài 18 giờ chia làm 10 tập, được thực hiện trong 10 năm với kinh phí 30 triệu Đô-la Mỹ. Đội ngũ sản xuất đã thực hiện khối lượng nghiên cứu khổng lồ với 25,000 bức ảnh, hơn 15,000 giờ phim tư liệu, phỏng vấn trên dưới 80 nhân chứng, cung cấp nhiều tài liệu, thông tin mới được giải mật chưa từng được biết tới. Trent Reznor, nhạc sĩ từng đạt tượng vàng Oscar cho phần âm thanh của phim “Mạng xã hội” chịu trách nhiệm sản xuất âm thanh. 120 tác phẩm nổi tiếng của Bob Dylan, The Beatles và rất nhiều tên tuổi khác cũng được cấp quyền sử dụng để tái tạo không khí những năm 60, 70 của thế kỷ 20. Do tính chất nhạy cảm của đề tài này ở Việt Nam, Thomas Vallely, một cựu binh Mỹ, người có đóng góp lớn vào tiến trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, đã phải lên tiếng để Bộ Ngoại Giao và bộ Quốc Phòng Việt Nam đồng ý ngầm cho Novick phỏng vấn và quay phim. Đội ngũ cố vấn cũng tập hợp các chuyên gia hàng đầu về Việt Nam như nhà sử học Fredrik Logevall từ Đại học Harvard, hay nhà báo Huy Đức, tác giả cuốn “Bên Thắng Cuộc.”
Cả Ken Burns và Lynn Novick đều thừa nhận “Cuộc chiến Việt Nam” là chủ đề khó khăn và phức tạp nhất mà họ từng thực hiện khi có quá nhiều luồng quan điểm, quá nhiều cách nhìn nhận từ các đối tượng khác nhau. Khi được hỏi vì sao lựa chiến tranh Việt Nam, mở lại những hồi ức đau thương và tranh luận cay đắng không có hồi kết, hai đạo diễn cho rằng “Việt Nam” vẫn là công việc còn dang dở của nước Mỹ. Không có ai thực sự hiểu cuộc chiến đã xảy ra thế nào và những người trải qua nó phải chịu đựng ra sao. “Việt Nam” là chìa khoá để hiểu những vấn đề nội tại của nước Mỹ: chính quyền gian dối, chia rẽ trong xã hội và sự thiếu vắng những trao đổi mang tính xây dựng. Năm mươi năm sau đỉnh điểm của cuộc xung đột dường như là thời điểm lý tưởng cho một cách nhìn mới. Quãng thời gian đủ dài để bụi bặm chính trị lắng xuống nhưng cũng không quá dài để còn được nghe trực tiếp từ người đã thật sự trải qua nó. Burns và Novick cũng chia sẻ hy vọng bộ phim sẽ là một cơ hội để người Việt Nam hiểu hơn về cuộc nội chiến của chính mình cũng như “Cuộc Nội Chiến” của Burns đã làm cho người Mỹ vào năm 1990.
Ken Burns và Lynn Novick đặt ra một nguyên tắc khi bắt tay vào sản xuất “Cuộc chiến Việt Nam.” Đó là phim sẽ không có sự tham gia của những nhân vật cộm cán mà theo Burns là những người “sẽ lái lịch sử theo hướng mà họ muốn.” Không John Kerry hay John McCain, không Henry Kissinger hay Jane Fonda. Thay vào đó, bộ phim đã phỏng vấn những người “bình thường” từ tất cả các bên. Những người lính Mỹ, miền Bắc Việt Nam, Nam Việt Nam, giải phóng quân, gia đình tử sĩ Mỹ, liệt sĩ Việt Nam, thanh niên xung phong, người tị nạn, nhà hoạt động phản chiến…đã phơi bày cho công chúng một Cuộc chiến Việt Nam ở nhiều góc cạnh nhất và nhiều sự thật nhất, hơn tất cả những gì từng được biết. Một Cuộc chiến Việt Nam không phải từ lời lẽ của những người tiến hành nó mà từ câu chuyện của những người đã trực tiếp trải qua và chịu đựng nó một cách đau thương nhất và cũng hào hùng nhất.

 09/26/2017

Tổng hợp từ các nguồn: 
http://www.washingtonpost.com/sf/opinions/2017/09/18/why-ken-burns-and-lynn-novicks-vietnam-war-pbs-documentary-took-10-years-to-make/?utm_term=.58613f4ae037
https://www.washingtonpost.com/entertainment/tv/yes-america-pbss-the-vietnam-war-is-required-viewing–all-18-hours-of-it/2017/09/14/c89bd07a-94be-11e7-89fa-bb822a46da5b_story.html
http://www.washingtonpost.com/sf/opinions/2017/09/21/ken-burns-and-lynn-novick-directed-the-vietnam-war-together-why-is-only-one-of-them-famous/?utm_term=.88ea0a4db427
https://nyti.ms/2xCmpJQ
https://nyti.ms/2eXhMSx
http://www.npr.org/2017/09/21/552575164/in-vietnam-war-ken-burns-wrestles-with-the-conflict-s-contradictions

23 tháng 9, 2017

Kẻ đã ra lệnh giết Ngô Đình Diệm-Nhu


KẺ RA LỆNH GIẾT DIỆM-NHU
 
Tác giả bài viết dưới đây là Ông Đặng Kim Thu, cựu SVSQ/TVBDL/K19, cựu tùy viên của Đại Tướng Cao Văn Viên, cựu quận trưởng quận Chợ Gạo.
Tóm tắt, vụ 1-11-1963 hoàn toàn do Mỹ chỉ đạo. Nhưng Mỹ không chủ trương giết anh em ông Diệm-Nhu mà chính là tướng Dương Văn Minh.Từ đơn vị tác chiến (tiểu đòan 41 BĐQ), tôi được lệnh về làm Sĩ quan Tuỳ Viên cho Đại Tướng Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng vào cuối năm 1966. Vì tôi không có nhà ở Sài Gòn nên ông bà Đại Tướng cho tôi tạm ở trong tư dinh thời gian đầu.

Với công việc hoàn toàn mới lạ, nhiều bỡ ngỡ, cộng thêm sự gò bó ở trong dinh của Đại Tướng, mới đầu tôi hơi nản lòng, nhưng nhờ sự giúp đỡ, chỉ dẫn tận tình của người tiền nhiệm của tôi là Quách tinh Cần K20//TVBQGĐL, và sự cởi mở của ông bà Đại Tướng nên tôi cảm thấy an tâm đôi chút.
Những ngày đầu về ở trong dinh của Đại Tướng, cứ sau bữa cơm tối ông xuống phòng tùy viên chỉ rõ cách sinh hoạt trong nhà, cách tiếp nhận đìện thoại từ bên ngoài gọi vào, an ninh vòng ngoài, an ninh vòng trong, và v.v…
Ông bảo tôi:
– Thông thường các tướng lãnh khác tôi đều tiếp họ tại văn phòng, ngoài giờ làm việc tôi không tiếp ai ở nhà riêng cả, nếu có vị tuớng tá nào muốn gặp tôi ngoài giờ làm việc, mà không có hẹn, chú không được mở cổng, mà phải báo tôi trước để tôi quyết định có tiếp họ hay không, đặc biệt chú phải quan sát, xem vị tướng đó có đem theo lính hộ tống hay không. Trong mọi trường hợp chú đừng cho lính hộ tống vào bên trong dinh, cổng phải luôn luôn khóa chốt. Nhưng đặc biệt có hai vị cựu tướng lãnh khi tới nhà muốn gặp tôi bất cứ lúc nào, chú cũng mở cổng mời vào phòng khách rồi báo tôi ra tiếp, không cần phải hỏi tôi trước, hai vị đó là trung tướng Trần văn Đôn và trung tướng Tôn thất Đính. Mà chú có bao giờ thấy hai vị tướng đó chưa?
Tôi trả lời “dạ chỉ biết qua hình ảnh trên báo chí”. Ông bảo: “Cũng tốt, vậy thi ráng nhận diện nếu hai vị đó tới.”
Xong ông nhìn tôi thấy có vẻ như tôi muốn tìm hiểu lý do nào mà hai ông cựu tướng này được đại tướng ưu ái như vậy.? Ông nói thêm:”chú muốn biết tại sao tôi đối xử với hai ông đó đặc biệt như thế chứ gì, được rồi để mai tôi kể cho chú nghe vì mai là chúa nhật có nhiều giờ rảnh hơn”.
Hôm sau ăn cơm trưa xong ông xuống phòng tôi và bắt đầu kể:
Ngày 1 tháng 11 năm 1963 là ngày Lễ Các Thánh, quân nhân, công chức nghỉ buổi sáng khoảng 10 giờ sáng tôi được điện thoại của chánh văn phòng thiếu tướng Khiêm mời vào Bộ Tổng Tham Mưu họp ở phòng họp số 1, và phải có mặt trước 1 giờ. Tôi tới lúc 1 giờ kém 10 phút, thấy có đông các đơn vị trưởng sẵn đó rồi, nhìn mặt toàn là các sĩ quan thân tín của ông Diệm. Đúng 1 giờ. hai quân cảnh ở ngoài đóng cửa phòng họp và khoá lại, mọi người trong phòng ngơ ngác nhìn nhau, đại tá Lê Quang Tung nói lớn:
– Họp hành khỉ mẹ gì, ai chủ toạ phiên họp sao chưa tới mà họ khoá cửa nhốt mình rồi, chuyện gì đây!

Vài phút sau đó có tiếng mở cửa, đại úy Nhung cận vệ của trung tướng Dương văn Minh đứng ngoài cửa no'i với vào:
– Mời đại tá Lê quang Tung – Lực Lượng Đặc Biệt và đại tá Cao văn Viên Nhẩy Dù lên lầu gặp trung tướng Dương văn Minh.
Vì đại tá Tung ngồi gần cửa nên bước ra trước, tôi ở trong xa cửa hơn nên đi ra sau. Khi tôi ra khỏi phòng họp thì nhìn thấy đại tá Tung đã bị đại úy Nhung còng tay dẫn xuống xe, còn tôi cũng bị 1 sĩ quan khác còng nhưng mới vừa bị còng 1 tay thì tình cờ thiếu tướng Tôn thất Đính trên lầu đi xuống chợt thấy vậy, ông bảo tháo còng tôi ra, rồi sĩ quan đó cùng tướng Đính dẫn tôi lên lầu gặp trung tướng Minh .
Tướng Minh nói:
– Hôm nay “moi” và một số các tướng lãnh đảo chánh ông Diệm “toi” nghĩ sao?
Tôi trả lời:
– Chuyện quan trọng như vậy mà tới giờ này trung tướng mới cho tôi biết thì tôi đâu có quyết định được gì.
Lúc đó trung uý Trương ( hay Trần) Tự Lập sĩ quan tùy viên của trung tướng Minh lăm le khẩu súng carbine chĩa vào lưng tôi như sẵn sàng bắn tôi. anh ta hỏi tôi :
– Đại tá có theo Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng không?
Tôi đáp:
– Tinh thần của quân nhân thuộc binh chủng nhẩy dù không trả lời trước áp lực.
Thiếu tướng Đính thấy vậy bảo tên trung úy Lập đừng hỗn với cấp trên, rồi tướng Đính dẫn tôi về lại phòng s
1 đóng cửa lại.
Vài vị sĩ quan đang bị nhốt chung trong phòng tới hỏi tôi chuyện gì vậy? Tôi nói họ đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Có người hỏi: “còn đại tá Tung đâu? tôi nói “bị còng dẫn đi chỗ khác rồi”.
Khoảng 15 phút sau tôi lại bị dẫn lên gặp Trung tướng Minh lần nữa, lần này Trung tướng Minh nói với tôi:
– Có 1 tiểu đoàn nhẩy dù theo “Chiến Đoàn Vạn Kiếp” của trung tá Vĩnh Lộc từ Bà Rịa về tới Sài Gòn, nhưng không chịu tấn công vào Dinh Gia Long, đòi phải được liên lạc trực tiếp với “toi”, vậy nếu “toi” chịu làm 2 việc như sau: Thứ nhất tuyên bố theo Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, thứ hai ra lệnh cho tiểu đoàn nhẩy dù ở Bà Rịa về tấn công vào Dinh Gia Long, khi thành công “moi” gắn lon thiếu tướng cho “toi” liền.

Tôi trả lời rằng chuyện của trung tướng làm, tôi không chống đối, nhưng bảo tôi phản lai “thầy” tôi thì tôi không làm, trung tướng thông cảm cho tôi (lời người viết: xin nói rõ thêm, trước khi chỉ huy lực lượng nhẩy dù, đại tá Viên là chánh Võ Phòng rồi Tham Mưu Trưởng Biệt Bộ Phủ Tổng Thống);
Tôi được dẫn trả lại phòng họp số 1, các vị sĩ quan trong phòng lại hỏi, tôi trả lời chưa hết thì chánh văn phòng của thiếu tướng Khiêm xuống dẫn tôi lên văn phòng giữ riêng tôi ở đó.
Sau khi đảo chánh thành công tôi được cho về nhà, rồi hằng ngày tôi phải lên Bộ Tổng Tham Mưu chờ lệnh . Độ 5,6 ngày sau trung tướng Khiêm “lên trung tướng ngày 2 tháng 11 năm 1963” tự ý quyết định cho tôi trở về chỉ huy Lữ đoàn nhẩy dù như cũ, còn các vị sĩ quan bị nhốt chung với tôi đa số bị giải ngũ hoặc bị hạ tầng công tác.
Rồi sau đó không lâu tôi được trung tướng Đôn cho biết: sau khi tôi từ chối lời yêu cầu của trung tướng Minh thì trung tướng Minh bàn với trung tướng Đôn định đưa tôi theo số phận của đại tá Lê quang Tung, nhưng trung tướng Đôn không đồng ý và nói rằng:
– Trước khi tiến hành cuộc “cách mạng” anh” (ông Minh) có hứa với chúng tôi hạn chế tối đa vìệc gây đổ máu các sĩ quan cấp tá không ủng hộ chúng ta, anh đã cho giết đại tá Hồ tấn Quyền, giết đại tá Lê quang Tung, bây giờ anh muốn giết luôn đại tá Viên nữa sao? Hơn nữa dù “lui” không hợp tác với mình nhưng “lui” đâu có chống mình mà giết “lui”.
Tôi nghĩ dường như tướng Khiêm cũng biết ý định đó của tướng Minh nên mới ra lệnh đem tôi lên văn phòng của ông giao cho chánh văn phòng là đại úy Phạm Bá Hoa giữ riêng tôi ơ đó, rồi ông Khiêm bảo:”Ai muốn kêu đại tá Viên đi đâu phải có lệnh của tôi mới cho đi”
Đấy là 3 người ơn cứu tử tôi đó !”

VAI TRÒ CỦA ĐẠI TÁ CAO VĂN VIÊN
TRONG CUỘC CHỈNH LÝ NGÀY 30-1-1964

Một lần tôi theo Đại Tướng Viên ra Đà Nẵng thăm các đơn vị thuộc Quân Đoàn I. Tối lại, ngủ ở Tòa Thị Chính Đà Nẵng, lúc đó trung tá Lê chí Cường gốc nhẩy dù làm Thị Trưởng.
Đầu hôm thời tiết còn nóng, thầy trò tôi chưa ngủ được nên Đại Tưóng kể chuyện Đảo Chánh, chỉnh lý cho tôi nghe. Giờ đây thì chuyện dù đã xa xưa, nhưng thiết tưởng còn nhiều người chưa biết rõ, hoặc biết không chính xác, không đầy đủ, nên tôi mạo muội thuật lại những gì Đại Tá Viên kể cho tôi nghe với ước mong giúp quí vị độc giả đánh giá được 1 phần sự thực của 1 giai đoạn của Đất Nước.
Nguyên nhân đưa đến cuộc chỉnh lý 30-1-1964
Đại Tướng Viên kể rằng :
“ Trong nội bộ các tướng lãnh: sau ngày Đảo Chánh 1-11-1963 thành công, trong hàng tướng lãnh trụ cột của cuộc đảo chánh có những bất đồng ý kiến về việc thành lập chính phủ mới, về việc sắp xếp nhân sự và quan trọng hơn là sự tranh công tranh quyền giữa các tướng với nhau, cho nên dẫn tới sự chia rẽ.
Ngoài ra trung tướng Minh ỷ quyền là chủ tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng nên tỏ ra độc đoán trong mọi quyết định.
“ Chẳng hạn như ông Minh muốn đưa ông Nguyễn ngọc Thơ nguyên Phó Tổng Thống của ông Ngô Đình Diệm ra làm thủ tướng, nhìều tướng lãnh không đồng ý, vì cho rằng nguyên Phó Tổng Thống của chính phủ vừa bị lật đổ ra làm thủ tướng của chính phủ mới thì thật là vô lý, nhưng ông Minh cứ làm theo ý ông.
“Về phía Tòa Đại Sứ Mỹ thì ông Đăi Sứ đề nghị với ông Minh nên cử ông Trần quốc Bửu Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Công ra lập chính phủ với lý do ông Bửu có nhiều uy tín trong giới bình dân và hiện trong tay ông Bửu có hơn 20 ngàn doàn viên của Tổng Liên Đoàn Lao dộng là lực lượng hùng hậu sẽ hỗ trợ cho chính phủ. Ông Dương văn Minh chẳng những không nghe mà còn ra lệnh cho thìếu tướng Đỗ Mậu bắt giam ông Trần quốc Bửu với lý do rất mơ hồ.
Thêm nữa, ông Minh lại gọi 2 người đã rời khỏi quân đội hồi năm 1955 đang lưu vong bên Pháp( vì chống ông Ngô đình Diệm) trở về hợp tác, đó là thiếu tướng Nguyễn văn Vỹ và đại tá Trần đình Lan (phòng2) trong quân đội Liên Hiệp Pháp; đìều này có vài tướng trẻ mới được thăng cấp như thếu tưóng Nguyễn hữu Có, Đỗ Mậu, thiếu tướng Dương ngọc Lắm, trung tướng Trần thiện Khiêm đều không đồng ý, bởi các vị này cho rằng ông Nguyễn văn Vỹ và ông Lan đã lỗi thời và đã rời khỏi quân đội lâu rồi, không còn thích hợp với quân đội hiện giờ nữa. Các ông Khiêm, Có, Lắm cho ràng, hiện nay trong quân đội có nhiều cấp tá trẻ có nhiều năng lực và được đào tạo chánh quy, cứ mạnh dạn giao việc cho họ, chứ cần gì phải gọi 2 người đó về hợp tác.
Ông Dương văn Minh chẳng thèm nghe mà vẫn cứ hành xử theo ý riêng mình dựa trên tình cảm cá nhân.
“Phần tôi (đại tá Cao văn Viên) thì mỗi ngày trình diện ở Bộ Tổng Tham Mưu, nghe nói ông Minh định cho tôi giải ngũ, nhưng nhờ trung tướng Khiêm tự ý cho tôi trở về nhẩy dù ngày 6-11-1963 mà không hội ý với ông Minh, vì việc này nằm trong thảm quyền của ông Khiêm.
Về sau mới biết, sở dĩ ông Khiêm hành động như vậy vì ngày 5-11-1963, ông Minh nói với ông Khiêm rằng đại tá Nguyễn chánh Thi ở Campuchia sắp về, ông Minh sẽ cho ông Thi chỉ huy lại Lực Lượng Nhẩy Dù, diều này chính ông Khiêm không muốn, nên hành động trước một bước, vì nếu để ông Nguyễn chánh Thi chỉ huy nhẩy dù thì khi ông Khiêm muốn mưu đồ gì cũng không thể xử dụng lực lượng nhẩy dù được vì ông Khiêm với ông Thi không thân nhau, vả lại cũng còn ngờ vực không biết ông Thi còn ôm mối hận ngàỳ 11-11-1960 cách 3 năm trước hay không.
Ngày 8-11-1963 đại tá Nguyễn chánh Thi từ Nam Vang đi đường xe về tới Gò Dầu Hạ, được ông Khiêm cho trực thăng đi đón về Tổng Tham Mưu, sau đó ông Khiêm cử ông Thi làm chủ tịch Ủy Ban Điều Tra tài sản và tội ác của ông Ngô đình Cẩn, thế là ông Thi trở ra miền Trung làm việc.
Từ những việc như vậy đưa đến những xích mích giữa ông Khiêm và ông Minh, rồi một ngày vào hạ tuần tháng 12-1963, ông Minh cử ông Khiêm đi công du qua Nhật và Đài Loan, ở nhà ông Minh giao cho Trung tướng Lê văn Kim thay thế trung tướng Khiêm giữ chức vụ Tham Mưư Trưởng Liên Quân ( không làm lễ bàn giao), đến khi ông Khiêm trở về thì ông Minh chỉ định ông Khiêm làm tư Lệnh Quân Đoàn III chia bớt nhiệm vụ của trung tướng Đính đang kiêm nhiệm Bộ An Ninh. Thời gian này Quân Đoàn III còn nằm trong trại Lê văn Duyệt Sài Gòn chưa dời lên Biên Hoà. Vậy là ông Khiêm bị hạ tầng công tác nên ông Khiêm trở nên bất mãn.
Nguyên nhân bên ngoài
Ông Dương văn Minh gây cho Đại Sứ Mỹ cú “sốc” đầu tiên là không nghe theo đề nghị của Đại Sứ Mỹ đề cử ông Trần quốc Bửu làm thủ tướng mà ông Bửu còn bị bắt giam với tội danh mơ hồ.
Sau khi đảo chánh thành công, ông Minh thường liên lạc với đại sứ Pháp ờ Sài Gòn, hơn là đại sứ Mỹ, và có vài lần ông Minh mời Đại Sứ Pháp đến dinh “Hoa lan” của ông Minh dùng cơm tối, có sự hiện diện của ông Đôn, ông Kim, ông Xuân …mà không có sự hìện diện của viên chức Mỹ nào cả. Việc này không qua khỏi cặp mắt “cú vọ” của cơ quan CIA ở Sài Gòn khiến họ đâm ra hoài nghi. Ngoài ra mỗi khi có việc phải giao tiếp với viên chức của toà đại sứ Mỹ và Bộ Tư Lệnh M.A.C.V, các ông Minh, Đôn, Xuân, Kim …chỉ nói toàn tiếng Pháp mà không nói 1 câu tiếng Anh nào, điều này cũng gây khó chịu và tự ái đối với các viên chức Mỹ không ít, và họ nghĩ là các tướng có khuynh hướng thân Pháp.
Tổng hợp những chuyện kể trên đưa đến cuộc chỉnh lý ngày 30-1-1964.
Chỉnh lý ngày 30-1-1964
Chiều ngày 29-1-1964 tướng Khiêm mời tướng Khánh ở Đà Nẵng về Sài Gòn, nói có chuyện cần bàn với tướng Khánh, rồi tướng Khiêm gặp tôi (Đại tá Viên) chỉ thị cho tôi chuẩn bị lực lượng nhẩy dù đi bắt 5 vị tướng: Đôn, Kim, Xuân, Đính,Vỹ và người thứ 6 là thìếu tá Nhung (người đã giết ông Ngô đình Diệm và ông Ngô đình Nhu), thiếu tá Nhung đang ở trong nhà trung tướng Dương văn Minh.
Tôi đề nghị với trung tướng Khiêm nên giao người khác đi bắt ông Đôn và ông Đính, chứ tôi rất khó xử nếu phải đi bắt 2 người mà cách đây 3 tháng đã là ân nhân cứu tử tôi. Trung tướng Khiêm thấy đề nghị của tôi hợp lý nên giao cho tiểu đoàn 2 TQLC lúc đó do thiếu tá Cổ Tấn Tinh Châu làm TĐT đi bắt tướng Đôn và tướng Đính.
Lệnh tổng quát của trung tướng Khiêm cho 2 tôi và thiếu tá Châu là không được liên lạc hoặc tiếp xúc với bắt cứ ai cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ.
Thời gian này tất cả mọi đơn vị muốn vào lãnh thổ Biệt Khu Thủ Đô phải có lệnh của Tư Lệnh QĐIII, và riêng TĐ2/TQLC vì đang đóng quân bên ngoài lãnh thổ Biệt Khu Thủ Đô nên tr/t Khiêm ký sự vụ lệnh giao cho 1 đại úy thuộc QĐIII đem đến cho TĐT/TĐ2/TQLC để di chuyển tiểu đoàn vào BKTĐ mà không bị ngăn cản.
Tr/t Khiêm ra lệnh cho thiếu tá Phạm bá Hoa chuẩn bị 1 xe dodge truyền tin để theo dõi việc đi bắt 5 ông tướng mà chính t/t Hoa phải trực máy truyền tin.
Giờ xuất phát đi bắt là 23 giờ và các đường giây điện thoại ở nhà 5 ông tướng đã bị ông Khiêm cho lệnh cắt đứt hết rồi, không liên lạc được với ai cả.
Đúng 23 giờ tôi được lẹnh xuất phát để bắt 3 ông tướng : Mai hữu Xuân, Lê văn Kim và Nguyễn văn Vỹ, rồi sau cùng đến bắt th/t Nguyễn văn Nhung tại nhà của ông Dương văn Minh.
Tiểu đoàn 2/TQLC được giao nhiệm vụ đi bắt 2 ông tướng Tôn thất Đính và Trần văn Đôn , cả 2 đơn vị xuất phá cùng một lúc.
Đến khoảng 2 giờ sáng 5 vị tướng : Đôn, Kim, Xuân, Đính, Vỹ được đưa vô Bộ Tổng Tham Mưu, riêng th/t Nhung thì tôi đưa về trại Hoàng Hoa Thám bản doanh của lữ đoàn nhẩy dù.
Trung tướng Nguyễn Khánh ở Đà Nẵng được trung tướng Khiêm mời về Sài Gòn từ chiều, đang ở nhà chờ, đến bấy giờ mới được tướng Khiêm mời vào BTTM cho biết:”Nhiệm vụ của tôi(tướng Khiêm) tới đây đã xong, phần còn lại tôi giao cho anh (tướng Khánh).chuẩn bị sáng mai anh họp báo.
Tướng Khánh nói:”công của anh thì anh làm luôn đi”. Tướng Khiêm vẫn khước từ và gợi ý với tướng Khánh, khi họp báo cứ nói các ông đó cớ ý định “trung lập thân Pháp” nên mình phải ra tay ngăn chặn.
Trung tướng Khánh liền gọi ra Quân Đoàn I Đà Nẵng dặn dò chuyện gì đó, rồi dại tá Thi nghe được lièn bay vô Sài Gòn kịp sáng sớm vào TTM ngồi họp báo chung với tướng Khánh, điều này khiến báo chí và dân chúng tưởng rằng ông Khánh và ông Thi làm cuộc chỉnh lý, chứ không biết rằng trong đêm 1 mình tướng Khiêm đích thân chỉ huy 2 vị sĩ quan cấp tá là tôi và thiếu tá Cổ tấn tinh Châu đi bắt 5 ông tướng và thiếu tá Nhung, xong rồi mới giao cho ông Khánh.
Tóm lại ông Khiêm dọn sẵn “mâm cỗ” cho ông Khánh hưởng.
Hôm saụ 5 vị tướng bị chỉnh lý được phi cơ chở ra Đà Nẵng rồi vài ngày sau lại chở vô quản thúc ở Đà Lạt. Ông Khánh lên làm thủ Tướng từ lúc đó.
Số phận của th/t Nhung
Đại Tướng viên kể lại rằng:
“Khi tới nhà ông Minh để bắt t/t Nhung thì tôi gặp ngay tướng Minh, ông hỏi lệnh của ai biểu bắt,
Tôi (đại tá Viên) trả lời: lệnh của tr/t Trần thiện Khiêm.
Ông Minh hỏi : ông Khiêm hiện giờ ở đâu?
Tôi trả lời: thưa trung tướng tôi không biết.
Ông Minh lại hỏi tiếp:vậy đại tá nhận lệnh của ông Khiêm từ lúc nào? lý do nào bắt cận vệ của tôi.
“Tôi đáp: xin tr/t hỏi ngay tr/t Khiêm, còn tôi chỉ thi hành lệnh.
Liền đó tướng Minh bốc điện thoại gọi ai đó, nhưng gọi không được, bèn dằn mạnh điện thoại xuống bàn, thấy vậy tôi nói :”điện thoại bị cắt giây rồi, trung tướng không gọi được ai đâu”, tôi chào tr/t Minh rồi dẫn th/t Nhung ra xe đưa về trại Hoàng Hoa Thám.
Tại đây tôi giao th/t Nhung cho sĩ quan an ninh nhẩy dù hỏi cung th/t Nhung, chủ yếu ở điểm: ai ra lệnh giết Tổng Thống Ngô đình Diệm và ông cố vấn Nhu? Sĩ quan an ninh nhẩy dù đưa giấy, viết bắt ông ta tự viết lời khai để làm chứng cớ. Sau khi lấy lời khai xong, khuya ngày hôm sau sĩ quan an ninh ( cấp bậc trung úy)cho người vô phòng giam bóp cổ Nguyễn Nhung chết rồi lấy giây giầy”saut” của chính ông Nhung thắt vòng treo cổ Nguyễn Nhung lên trần nhà.
Đêm đó tôi về nhà ngủ, sáng sớm hôm sau, sĩ quan trực ở trại Hoàng Hoa Thám đìện thoại báo cáo tôi: th/t Nhung thắt cổ tự tử chết rồi, tôi bảo sĩ quan trực gọi bác sĩ Văn văn Của, lúc ấy là th/t y si trưởng ND ráng cứu chữa ông ta coi có thể sống lại được không? .
Sau đó y sĩ thiếu tá Văn văn Của điện thoại báo tôi: “Thưa đại tá hết phương cứu chữa rồi” và ông Của làm bản báo cáo, y chứng xác nhận, thiếu tá Nhung đã chết do thắt cổ tự tử”. Cuộc điện đàm này tôi có cài máy ghi âm để thủ thân về sau này.
Trong lời tự khai của th/t Nhung, ông ta nói răng ông Dương văn Minh ra lệnh cho ông ta giết ông Nhu trướckhi đoàn xe về tới Bộ TTM, ngoài ra trên đường di chuyển nếu có sự bất trắc gì xẩy ra thì chỉ nghe theo lệnh của thiếu tướng Mai hữu Xuân mà thôi, khi ông Nhung đâm ông cố vấn Nhu thì bị ông Diệm chống cự quyết liệt nên buộc lòng ông Nhung phải giết luôn ông Diệm
Ngoài ra khi khám tử thi của t/t Nhung, sĩ quan an ninh lấy ra được một mẩu giấy viết sẵn giấu trong quần, định tìm cách gửi về nhà, nhưng chưa gửi được. Nội dung như sau:”Em ơi! Bọn Diệm , Nhu sống lại rồi, chắc anh phải chết, nếu anh có mệnh hệ gì,em phải ráng nuôi các con cho khôn lớn, anh đang bị nhốt trong lữ đoàn nhẩy dù”.
Lời tự khai và cái thơ riêng gửi cho vợ của t/t Nhung được đưa cho trung tướng Khánh giữ.”
Nhận định riêng của người viết:
Về cái chết của thiếu tá Nhung,tôi nghĩ rằng vị sĩ quan an ninh nhẩy dù không dám tự ý hành động, mà phải có lệnh của 1 trong 3 vị: tuớng Khánh, tướng Khiêm hoặc đại tá Viên? Nhiều lần tôi muốn hỏi đại tướng Viên nhưng lại rụt rè không giám hỏi vì sợ tướng Viên giận và cho rằng tôi tò mò.,
Theo tôi cuộc chỉnh lỷ 30-1-1964 chắc chắn phải có bàn tay “phù thủy” của Mỹ thúc dẩy cho tướng Khiêm thực hiện, mà nguyên nhân chánh là do trung tướng Dương văn Minh làm phật lòng người Mỹ, nhưng ông Minh không bị loại vì lúc bấy giờ dân chúng và khối phật giáo Ấn Quang vẫn còn xem ông Minh như người hùng ”cách mạng” nếu loại hẳn ông Minh sợ e có xáo trộn xã hội và sợ thượng toạ Thích trí Quang sách động Phật tử “xuống đường”ủng hộ ông Minh . Còn 5 ông tướng bị chỉnh lý vì thân tín với ông Minh nên bị làm vật tế thần, bị chụp lên đầu cái mũ”trung lập thân Pháp”, để chặt hết tay chân của ông Minh, biến ông Minh thành “con cua bị gẫy càng” ngồi đó nhìn ông Khánh tung hoành
Phụ chú;
Những điều tôi thuật lại cho quý độc giả trên đây là tôi được nghe đại tướng Viên kể lại lúc tôi đang là sĩ quan tùy viên của ông,
Sau này vào tháng 8 năm 2004, tôi từ Cali qua Virginia thăm đại tướng Viên trong 1 nursing home, tình cờ có đại tướng Khiêm tới, ông Viên, ông Khiêm và tôi cùng ngồi nói chuyện chung, đây là dịp may hiếm có, tôi hỏi đại tướng Khiêm vài điều mà tôi ấp ủ từ lâu vì không biết hỏi ai cho chính xác.
Tôi hỏi:
-Thưa đại tướng, em nghe nói ngày đảo chánh 1-11-1963 có 1 người Mỹ ở trong phòng của đại tướng ngay từ giờ phút đầu để theo dõi cuộc đảo chánh, em muốn biết lời đồn đó co đúng không?
Đại tướng Khiêm nói:
– Lời đồn đó đúng, người Mỹ đó là trung tá Conein, ông ta ở trong 1 phòng nhỏ sát phòng làm việc của tôi sau tấm vách ngăn mà không hề bước qua phòng tôi trong thời gian tiến hành đảo chánh. Tôi cho chú biết thêm, ông Conein này là 1 sĩ quan trưởng của 1 toán tình báo Mỹ đã từng nhẩy dù xuống vùng Việt Minh kiểm soát ở miền Bắc, Việt Nam năm1945 để giúp Hồ chí Minh đánh Nhật, ông ta là người biết nhiều về Hồ chí Minh và mặt trận Việt Minh.
Tôi hỏi tiếp :
– Thưa đại tướng, em được biết, sau khi đại tướng làm cuộc chỉnh lý ngày 30-1-1964 thiếu tá Nhung đã khai, ông Minh ra lệnh cho ông ta giết ông Diệm, ông Nhu , lời khai đó chân thật không? Liệu sau lưng ông Minh có 1 thế lực nào khác thúc đẩy ông Minh làm chuyện đó không?
Đại tướng Khiêm trả lới:
– Chú nghe kỹ tôi nói đây:”trước ngày đảo chánh (1-11-1963) tôi đưa ra 1 điều kiện tiên quyết với ông Minh, liên quan đến Tổng Thống Diệm như sau : phải bảo đảm sinh mạng Tổng Thống Diệm và để T/T Diệm bình an xuất ngoại. Ông Minh và ông Kim đều đồng ý, sở dĩ có ông Kim vì mới đầu ông Kim có 1 nhóm riêng cũng âm mưu đảo chánh, về sau 2 nhóm mới kết hợp lại.
Khi biết ông Diệm , ông Nhu bị giết, lúc ấy tôi mới biết luôn đại tá Quyền, đại tá Tung và em của đại tá Tung là Lê quang Triệu cũng bị giết, còn ông này (ông Khiêm vừa nói vừa nhìn qua ôngViên) cũng bị còng tay, may mà ông Đính thấy kip chứ không thì cũng theo Hồ tấn Quyền và Lê quang Tung rồi (ông Viên và ông Khiêm cùng cười).
Ông Khiêm nói tiếp:
– Tôi ở văn phòng của tôi trên lầu. Còn ông Minh, ông Kim, ông Đôn ngồi ở phòng của đại tướng Tỵ, lúc đó đại tướng Tỵ đang dưỡng bệnh, nên ông Đôn làm quyền Tổng Tham Mưu Trưởng. Họ hành động lén lút, giấu không cho tôi biết rồi họ quyết định với nhau tôi có hay biết gì đâu.
Chú nghĩ coi: ông Diệm đã gọi đìện thoại bảo cho xe đến đón ông về TTM, như vậy nghĩa là ông đã đầu hàng rồi, tại sao lại giết người đầu hàng. Ông Minh, ông Kim độc ác quá! Cho nên tôi bất mãn với 2 ông ấy từ lúc đó.
Còn chú hỏi liệu có thế lực nào khác thúc đẩy ông Minh giết ông Diệm, tôi cho chú biết thêm chi tiết này: khi ông Conein ở trong phòng nhỏ bước ra phòng tôi, trung tướng Minh cho ông ta biết ông Diệm và ông Nhu chết rồi, ông Conein tỏ ra tức giận không nói với ông Minh một lời,ông quay trở vào phòng và thốt lên một câu:”Do a terrible thing”rồì một lúc sau ông Conein bỏ ra về. Thế đó chú tự suy nghĩ”
Tôi cám ơn đại tướng Khìêm, rồi chúng tôi tiếp tục nói chuyện linh tinh khác suốt cả buổi sáng hôm đó.
Thân phận của một Quốc Gia nhược tiểu là như vậy.
 
Cựu Sĩ quan tùy viên Đặng kim Thu