3 tháng 10, 2019

Nguyễn Trường Tộ - theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


Nguyễn Trường Tộ
Sinh1830 ?
Nghệ An, Việt Nam
Mất1871
Nghệ An, Việt Nam
Công việcNhà văn, kiến trúc sư, nhà cải cách xã hội
Nguyễn Trường Tộ (chữ Hán: 阮長祚, 1830 ? [1]1871), còn được gọi là Thầy Lân [2]; là một danh sĩ, kiến trúc sư [3], và là nhà cải cách xã hội Việt Namthế kỷ 19.

Thân thế và sự nghiệp

Ông sinh trong một gia đình theo Công giáo Rôma từ nhiều đời tại làng Bùi Chu[4], thuộc huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
Cha là Nguyễn Quốc Thư, một thầy thuốc Đông y, nhưng mất sớm[5].

Những năm học tập

Thuở thiếu thời, Nguyễn Trường Tộ học chữ Hán với cha và các thầy ở trong vùng: Tú Giai ở Bùi Ngõa, Cống Hữu ở Kim Khê và quan huyện Địa Linh về hưu ở Tân Lộc. Ông thông minh, học giỏi nên được truyền tụng là "Trạng Tộ" [6]
Sau khi thôi học, ông mở trường dạy chữ Hán tại nhà, rồi được mời dạy chữ Hán trong Nhà chung Xã Đoài (nay thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Tại đây, ông được Giám mục người Pháp tên là Gauthier (tên Việt là Ngô Gia Hậu, về Xã Đoài nhận nhiệm vụ từ năm 1846) dạy cho học tiếng Pháp và giúp cho có một số hiểu biết về các môn khoa học thường thức của phương Tây[7].
Cuối năm 1858, ông đi cùng Giám mục Gauthier vào Đà Nẵng tránh nạn "phân tháp" (sáp nhập hai ba gia đình Công giáo vào trong một làng không Công giáo, chứ không cho ở tập trung như trước)[8].
Đầu năm 1859, Giám mục Gauthier đưa ông sang Hương Cảng (Hồng Kông)[9] và một số nơi khác...[10]

Làm phiên dịch cho quân Pháp

Đầu tháng 2 năm 1861, sau khi chiến tranh ở Ý và ở Trung Quốc kết thúc, Đô đốc Léonard Charner được lệnh gom quân ở Trung Quốc đem về Sài Gòn mở rộng vùng chiếm đóng. Với quyết tâm này, Charner đã thuyết phục được một số giáo sĩ Pháp đang lánh nạn ở Hồng Kông, trong số đó có Giám mục Gauthier, về Sài Gòn cộng tác. Nhận lời, Giám mục Gauthier dẫn Nguyễn Trường Tộ cùng về với mình. Sau đó, ông Tộ nhận làm "từ dịch" (phiên dịch các tài liệu chữ Hán) cho thực dân Pháp.
Trong bài "Trần tình" (viết xong ngày 7 tháng 5 năm 1863), Nguyễn Trường Tộ phân trần rằng: lúc bắt đầu khởi hấn (đầu năm 1859, tức lúc quân Pháp chuẩn bị tấn công thành Gia Định), quân Pháp có mời ông cộng tác. Sau khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ (tháng 2 năm 1861), ông thấy rằng phải tạm hòa theo đề nghị của Pháp, để dưỡng quân và củng cố lực lượng. Chính vì thế mà Nguyễn Trường Tộ đã nhận làm từ dịch cho Pháp để mong góp phần vào việc hòa đàm...[11]
Ngày 29 tháng 11 năm 1861, Đô đốc Louis-Adolphe Bonard lên thay Đô đốc Léonard Charner, và ông này liền xua quân mở rộng cuộc chiến. Thấy vậy, Nguyễn Trường Tộ không trông mong gì ở cuộc "nghị hòa" nên xin thôi việc.

Hết lòng vì đất nước

Sau khi thôi việc, Nguyễn Trường Tộ đã dồn hết tâm trí vào việc thảo kế hoạch giúp nước. Nhờ sự hiểu biết sâu rộng về các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật...[12]; đến đầu tháng 5 năm 1863, thì ông đã thảo xong ba bản điều trần gửi lên Triều đình Huế là: "Tế cấp luận", "Giáo môn luận" và "Thiên hạ phân hợp đại thế luận".
Nhận thức được bối cảnh và khuynh hướng vận động chung của thế giới thời bấy giờ, Nguyễn Trường Tộ có những nhận định:
Ngày nay các nước phương Tây đã bao chiếm suốt từ Tây Nam cho đến Đông Bắc, toàn lãnh thổ châu Phi cho tới Thiên Phương, Thiên Trúc, Miến Điện, Xiêm La, Tô Môn Đáp Lạp, Trảo Oa, Lữ Tống, Cao Ly, Nhật Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài biển, kể cả Tây châu, không đâu là không bị chẹn họng bám lưng. Nước Nga thì từ Tây Bắc đến Đông Nam gồm tất cả các nước Đại Uyển, Cốt Lợi Cán, Mông Cổ và các xứ ở Bắc Mãn Châu, không đâu là không chiếm đất và nô dịch dân những nơi đó. Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời, mặt trăng soi chiếu, sương mù thấm đọng thì người Âu đều đặt chân đến, như tằm ăn cá nuốt, ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa; ai hòa với họ thì được yên, ai cự lại thì dùng binh lực giao tranh; trong thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ [13] Song tất cả đều không được phúc đáp. Đầu năm 1864, ông lại gửi cho đại thần Trần Tiễn Thành một bản điều trần nữa (hiện thất lạc)[14] để thuyết phục Triều đình Huế nên tạm hòa với Pháp và mở rộng bang giao.
Trong thời gian phái bộ Phan Thanh Giản ở Pháp về Sài Gòn chờ tàu để đi Huế (từ ngày 18 đến 24 tháng 3 năm 1864), ông đã đến tiếp xúc với các chánh phó sứ để thảo luận nhiều vấn đề liên quan đến việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Sau đó, ông viết "Lục lợi từ" (còn có tên "Dụ tài tế cấp bẩm từ", tháng 6 năm 1864) rồi gửi lên Triều đình, nhưng sau đó cũng không được phúc đáp. Ông đã viết bài tấu lên vua " Người da trắng nếu ta đối xử tốt với họ, họ cũng sẽ đối xử tốt với mình. Còn nếu không, họ sẽ chiếm nước ta thành thuộc địa, giống như người da đen ". Tuy nhiên, bài tấu của ông bị họ Phạm ngăn không cho dân. Từ đó xảy ra chiến tranh Việt Nam.
Trong quãng thời gian đó, năm 1862-1864, bằng sự hiểu biết của mình, ông đã thiết kế và chỉ đạo việc xây cất tu viện Dòng Thánh Phaolô Sài Gòn (nay ở số 4 đường Tôn Đức Thắng). Đây là một công trình kiến trúc theo kiểu châu Âu có quy mô và có giá trị bền vững cho đến tận ngày nay [15].
Thành công ấy đã làm cho tiếng tăm Nguyễn Trường Tộ lan rộng. Khoảng năm 1864, ông được người Anh mời sang dự một hội nghị khoa học ở Anh, nhưng bị họ Phạm ngăn cản không cho liên lạc với người Anh [16].
Khoảng cuối năm 1864 cho đến đầu năm 1865, Nguyễn Trường Tộ đã gửi liên tiếp một số văn bản gửi lên vua và triều đình. Ông nói rằng: " Những người phương Tây nếu được đối đãi tử tế cũng sẽ đối đãi tử tế với mình, còn nếu không họ sẽ chiếm làm thuộc địa giống như các nước ở châu Phi", nhưng chưa kịp gửi lên triều đình thì bị họ Phạm ngăn cản. Còn ba văn bản gởi cho ông Thành, thì có thể là các bài: "Góp ý về việc mua và đóng thuyền máy" (cuối 1864), "Góp ý về việc đào tạo người điều khiển và sửa chữa thuyền máy" (tháng 2 năm 1865) và "Khai hoang từ" (tháng 2, 1866)[17].
Sau đó, Nguyễn Trường Tộ được triệu ra Huế để giải quyết vụ tàu London. Về vụ việc này, sách Đại Nam thực lục kể đại ý như sau: "Trước đây, Hoàng Văn Xưởng đi Hương Cảng có đặt mua tàu London. Không ngờ bị Phô Na (chủ hãng tàu) lừa dối, tàu đã cũ nát, chưa đi tới nơi thì đã bị sóng gió làm hư hại. Sau khi sửa chữa ở Gia Định, họ đưa tàu đến cửa Thuận An (Huế) bắt phải mua [18]. Nhưng sau khi đệ trình lên cách giải quyết, thì không được thi hành nên ông có lẽ chán nản, và xin về Nghệ An (ngày 10 tháng 4 năm 1866) [19]. Trong bức thư gửi Trần Tiễn Thành (viết từ Nghệ An đề ngày 15 tháng 6 năm 1866), thì tâm trạng của ông lúc bấy giờ khá u uất. Một phần vì ông nóng lòng việc canh tân đất nước, một phần vì thấy vua và một số quan lại bảo thủ hãy còn nghi kỵ mình...[20]
Mặc dù vậy, Nguyễn Trường Tộ vẫn không nản chí. Về tới Nghệ An, việc đầu tiên ông làm là viết thư cho Triều đình để báo tin về việc Giám mục Gauthier nhận lời đi Pháp để mua các thứ cần thiết về mở trường kỹ thuật ở Huế. Sau đó, ông được lệnh đi cùng Giám mục Gauthier ra Huế để chuẩn bị đi Pháp. Khi ấy là giữa tháng 8 năm 1866.
Trong khoảng 3 tháng ở quê nhà, ông giúp Tổng đốc Nghệ An Hoàng Tá Viêm đào kênh Sắt ở Hưng Nguyên. Truyện "Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ" kể:
Năm Tự Đức 19, Bính Dần (1866), ngũ nguyệt (tháng 5), Bộ sai quan Tổng đốc Nghệ An là Hoàng Tá Viêm ra đào Kênh Sắt...Người viết thư cậy ông Tộ đi khám xem hình đất, thế đất, chỉ lối cho mà đào... Kênh hoàn thành, ông Tộ có làm bài thơ mừng Kênh Sắt [21].
Ngày 17 tháng 8 năm 1866, Nguyễn Trường Tộ cùng với Giám mục Gauthier và Linh mục Nguyễn Điều tới Huế. Lần này, Nguyễn Trường Tộ được vua Tự Đức tiếp kiến ở nhà Tả Vu trong Tử Cấm thành (Huế), được hỏi han nhiều điều, và được nhà vua nghe theo.
Ngày 15 tháng 9 năm đó, phái đoàn Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ đi tàu của nhà vua vào Sài Gòn, và ở đó chờ tàu. Trong thời gian lưu lại, hai ông đã có những cuộc tiếp xúc với Đô đốc Lagrandière và Lãnh sự Tây Ban Nha để nắm tình hình theo yêu cầu của Triều đình. Sau đó, Nguyễn Trường Tộ đã có sáu bản báo cáo gởi về Huế. Qua các văn bản này, ông trình bày cho Triều đình thấy là có một khác nhau giữa ý đồ của Pháp soái (tức Đô đốc Lagrandière) ở Sài Gòn và chính sách của chính phủ ở Pháp. Pháp soái thì muốn bằng mọi cách thôn tính hoàn toàn sáu tỉnh Nam Kỳ và áp đặt trên phần đất còn lại của Việt Nam một hiệp ước bảo hộ; trong khi ấy ở chính quốc, thì có nhiều dư luận chống đối các cuộc phiêu lưu quân sự ở các vùng đất xa xôi...[22].
Ngày 10 tháng 1 năm 1867, phái đoàn đáp tàu L’orne đi Pháp. Trong 8 tháng ở đây, họ đã mua sách vở, dụng cụ, máy móc...để lập trường học kỹ thuật ở Huế. Ngoài ra, Giám mục Gauthier cũng đã tới Bộ Ngoại giao Pháp, Bộ Hàng hải và Thuộc địa Pháp để xin tài trợ cho các chương trình của mình; đồng thời tiếp xúc với một số thương gia và kỹ nghệ gia người Pháp. Ngày 25 tháng 11 năm 1867, phái đoàn trở về Việt Nam.
Theo Linh mục Trương Bá Cần (tác giả sách Nguyễn Trường Tộ: Con người và di thảo), thì có lẽ Nguyễn Trường Tộ đã theo Giám mục Gauthier sang Rôma (Ý), rồi được vào chầu Giáo hoàng Piô IX nhân chuyến đi này [22].
Ngày 29 tháng 2 năm 1868, phái đoàn Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ về tới Huế. Cùng theo về còn có hai Linh mục, một giáo dân (bác sĩ Hemaiz) và một người thợ máy (tất cả đều là người Pháp, và đều do Giám mục Gauthier vận động được). Sau khi xem xét các thứ mua về cho trường học và các thứ mà Bộ Hàng hải Pháp gửi tặng, vua Tự Đức cho phép Giám mục Sohier được xây trường học kỹ thuật trên mảnh đất đã đề nghị (nằm giữa nhà thờ Kim Long và Tòa Giám mục Huế)...[23]. Theo tờ tấu của Viện Cơ mật đề ngày 4 tháng 3 năm 1868, thì sau đó các thành viên trong đoàn đều được nhà vua ban thưởng tiền và lụa...
Đi Pháp về, trong thời gian từ cuối tháng 2 cho tới cuối tháng 4 năm 1868, Nguyễn Trường Tộ đã gởi cho Triều đình, ít nhất là 9 văn bản. Ngoài văn bản đầu tiên (sau khi về tới Huế), còn nói về việc mở trường và phát triển đất nước, hầu hết các văn bản khác đều xoay chung quanh vấn đề sứ bộ đi Pháp. Bởi Triều đình vua Tự Đức lúc bấy giờ chỉ quan tâm tới việc làm sao lấy lại được 6 tỉnh Nam Kỳ đã mất vào tay Pháp. Sau những cuộc thương thuyết không thành công giữa Trần Tiễn Thành và Đô đốc Lagrandière tại Sài Gòn cuối tháng 1 năm 1868, vua Tự Đức nhất định cử một phái bộ sang Pháp để điều đình với chính phủ Pháp. Đối với vấn đề quan trọng này, quan điểm trước sau như một của Nguyễn Trường Tộ là phải tự lực tự cường để lấy lại phần đất đã mất, chứ không thể van xin nài nỉ. Tuy nhiên, ông vẫn sẵn sàng đi theo sứ bộ và đã có những kiến nghị rất cụ thể cho chuyến đi.
Khoảng giữa tháng 3 năm 1868, Nguyễn Trường Tộ được cấp phát ngựa và chi phí về Nghệ An thăm mẹ già trước lúc lên đường sang Pháp. Tuy nhiên, sau khi trở lại Huế, ông đổi ý, kiến nghị với Triều đình là không nên sai sứ bộ sang Pháp điều đình mà chỉ nên gởi sứ bộ vào Sài Gòn thương thuyết.
Việc đi Pháp vì thế phải đình hoãn không thời hạn. Ngày 18 tháng 4 năm 1868, Bộ Lễ lại cấp phép cho Nguyễn Trường Tộ trở về Nghệ An. Trước đó, ngày 7 tháng 4 năm 1868, Giám mục Gauthier cũng đã lên đường trở về Xã Đoài vì thấy việc mở trường kỹ thuật không được nói tới nữa [24].
Về lại Nghệ An, Nguyễn Trường Tộ bắt tay vào việc vận động dân vùng Xuân Mỹ (Nghệ An) thường xuyên bị úng lụt đến nơi ở mới [25], đồng thời xây cất Nhà Chung Xã Đoài[26]. Trong những năm này, ông vẫn đều đặn gửi lên triều đình Huế các bản điều trần về thời sự.
Tháng 10 (âm lịch) năm Tự Đức thứ 23 (1870), Nguyễn Trường Tộ gửi thư lên Triều đình đề nghị lập lãnh sự ở Sài Gòn và sứ quán ở Pháp để nắm tình hình. Đầu tháng 11 năm đó, ông lại xin được vào Nam tổ chức đánh úp quân Pháp để thu hồi 6 tỉnh Nam Kỳ, nhân lúc Pháp đang thua Phổ (Đức) và Cách mạng Pháp đang nổi dậy.
Ngày 28 tháng 12 năm 1870, trong bản tấu của Viện Cơ mật dâng lên vua Tự Đức có đoạn:
..."Bọn thần tuân phụng xét duyệt các khoản mật trần của Nguyễn Trường Tộ thấy y cũng có lòng với ta và chính lúc này là lúc có thể thừa cơ hội được. Ý kiến của bọn thần cũng đồng với các lý lẽ của thần Trần Tiễn Thành tâu xin. Nhưng xét vì đây là việc quân quốc trọng sự cần phải bàn thảo kín đáo kỹ lưỡng mới bảo đảm không nguy hiểm trở ngại sau này. Nay bọn thần chưa giáp mặt y bàn tính mà đã nội giao cho y qua các nước thám sát những việc cần phải làm, lỡ ra có chỗ nào chưa được chu đáo, sợ sẽ sinh trở ngại. Vậy xin cho Bộ Lễ lấy lý do phái đem người qua Tây học tập, khẩn tư cho tỉnh thần Nghệ An lập tức cấp ngựa, sức y lên kinh ngay để bọn thần ở Viện Cơ mật và Tòa Thương Bạc đối diện hỏi bọn y xem suy tính cơ nghi như thế nào cho được chu thỏa. Bọn thần sẽ suy nghĩ chín chắn đôi ba lần và phúc tâu đầy đủ. Vậy dám xin có lời tâu bày, đợi chỉ tuân hành."
Đầu năm 1871, ông nhận được lệnh cấp tốc ra Huế với lý do "đưa học sinh đi Pháp", nhưng kỳ thực là để bàn bạc với vua Tự Đức về phương lược quân sự và ngoại giao mà ông đã trình bày trong các văn bản gởi cho Triều đình cuối năm 1870. Nhưng Triều đình Huế bàn đi tính lại mà không đi đến được một quyết định nào: Sứ bộ không được cử đi các nước, kế hoạch đánh úp Pháp để thu hồi 6 tỉnh ở Nam Kỳ cũng không được thực hiện...

Qua đời

Sau mấy tháng ở Huế, có thể là vì không có việc gì để làm, hoặc có thể vì bệnh cũ tái phát, Nguyễn Trường Tộ đã xin phép trở về Xã Đoài (Nghệ An). Đến ngày 22 tháng 11 năm 1871 thì ông đột ngột từ trần. Lúc ấy, ông chỉ mới 41 tuổi.
Con ông là Nguyễn Trường Cửu, trong Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ chỉ nói ngắn gọn rằng: "Qua năm sau, Tự Đức 24 (1871), ngày 10 tháng 10, ông Tộ làm câu thơ rằng: "Nhất thất túc thành thiên cổ hận / Tái hồi đầu thị bách niên cơ" (Một kiếp sa chân, muôn kiếp hận / Ngoảnh đầu cơ nghiệp ấy trăm năm) đoạn thì qua đời. Thọ 41 tuổi".
Nhiều chứng cứ cho thấy ông mất vì bệnh xuất huyết bao tử[27]. Riêng Giám mục Gauthier cho rằng ông bị đầu độc. Trong một thư đề ngày 1 tháng 11 năm 1871, vị Giám mục này viết: "Người Giáo hữu Việt Nam mà tôi đem theo năm 1867 và người ta gọi là Kiến trúc sư (...) đã là nạn nhân của một âm mưu đầu độc"[28].
Sau khi qua đời, di hài của ông được an táng tại thôn Bùi Chu (nay ở xóm 1, làng Bùi Chu, xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An). Ban đầu, phần mộ của ông chỉ là một nấm mộ đất thấp, tại một bãi đá mài bên sông của làng Bùi Chu. Sau được cải táng về phía tây, trên một gò đất cao giữa khu đất bằng phẳng, gần đường chính, cách vị trí mộ cũ khoảng 300 m. Năm 1943, giáo sư Từ Ngọc Nguyễn Lân đã đứng ra tổ chức, kêu gọi các cá nhân, tổ chức đóng góp công của để xây dựng lăng mộ cho Nguyễn Trường Tộ. Bản thân giáo sư Nguyễn Lân đã gửi số tiền 133 đồng [29] cho linh mục địa phận Xã Đoài là Laygue để xây lại mộ Nguyễn Trường Tộ[30][31]. Trong đó bao gồm 110 đồng là tiền bán 900 quyển " Nguyễn Trường Tộ" của ông, còn 23 đồng là tiền của những người bạn của giáo sư đóng góp vào. Nhờ đó ngôi mộ của Nguyễn Trường Tộ được xây lại bằng đá cẩm thạch Thanh Hóa cùng với những họa tiết tương đối hoàn chỉnh. Ngày 21 tháng 1 năm 1992, Bộ Văn hóa đã xếp hạng di tích cấp quốc gia. Năm 1996 huyện Hưng Nguyên đã đầu tư kinh phí xây dựng, nâng cấp khu di tích với diện tích 1062m², gồm 2 phần: phần mộ và phần vườn mộ, xung quanh được xây hàng rào bảo vệ, bên trong trồng hoa và cây cảnh, trở thành một khu lăng mộ hoàn chỉnh.

Vợ, con

Không biết chắc Nguyễn Trường Tộ đã lập gia đình lúc nào. Có thể là trong khoảng thời gian ông trở về Nghệ An, sau khi các dự án canh tân của ông gởi vua Tự Đức bị chống đối nên bị bỏ dở (sau tháng 4 năm 1868). Con ông gồm một trai, một gái. Người con gái lấy chồng ở một làng kế cận. Người con trai là Nguyễn Trường Cửu (ông mất khi Trường Cửu mới được 18 tháng), có tư chất thông minh, được học hành, thường được gọi là "Đồ Cửu". Ông Cửu mất vào khoảng năm 1942, và đã để lại tác phẩm Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ.

Tác phẩm

Kể từ khi về nước (khoảng 1861) cho đến năm cuối đời (1871), Nguyễn Trường Tộ đã đều đặn gửi lên vua Tự Đức và triều đình Huế các bản điều trần và phúc trình về thời sự. Đáng chú ý có:
  • Hòa từ (Bàn về hòa) gửi tướng Nguyễn Bá Nghi (1861)
  • Tế cấp luận (Bàn về những việc khẩn cấp, tháng 3 - 4 năm 1863, hiện chưa tìm thấy)
  • Giáo môn luận (Bàn về việc tự do tôn giáo, 26 tháng 3 năm 1863)
  • Thiên hạ phân họp đại thế luận (Bàn về những thế lớn phân và hợp trong thiên hạ). Đây là bài "Hòa từ" được sửa chữa lại (1863)
  • Điều trần (7 tháng 5 năm 1863)
  • Lục lợi từ (Kế hoạch làm cho dân giàu, tháng 6 năm 1864)
  • Khai hoang từ (Bàn về việc khai hoang, tháng 2 năm 1865)
  • Điều trần khả năng lấy lại ba tỉnh miền Đông [Nam Kỳ] (1866)
  • Kế hoạch vận động ở Pháp để giữ ba tỉnh miền Tây [Nam Kỳ] (1866)
  • Báo cáo về việc gặp viên Lãnh sự Tây Ban Nha (1866)
  • Kế ly gián giữa Anh và Pháp (1866)
  • Điều trần về hội nước ngoài (1866)
  • Phúc trình về việc ký hợp đồng với các hội nước ngoài (gửi về khi sang Pháp năm 1867)
  • Về tám điều cần bàn gấp (gửi về khi sang Pháp năm 1867)
  • Điều trần về việc tiễu trần giặc biển (tháng 8 năm 1868)
  • Điều trần về việc tái tu võ bị (1869)
  • Kế hoạch nội công ngoại kích thu hồi sáu tỉnh Nam Kỳ (tháng 11 năm 1870)
  • Bổ sung kế hoạch sai sứ đi Tây và đánh úp Gia Định (tháng 11 năm 1870)
  • Bàn về việc cho Pháp thông thương để đổi lại sáu tỉnh (tháng 2 năm 1871)
  • Kế hoạch thương nghị với Pháp và vận động sự giúp đỡ của các nước khác (tháng 2 năm 1871)
  • Kế hoạch vay tiền để dùng vào việc binh (tháng 2 năm 1871)
  • Về việc gửi học sinh sang Singapore học sinh ngữ (tháng 2 năm 1871)
  • Về việc nhờ Giám mục Hòa giúp lấy lại 6 tỉnh (tháng 3 năm 1871)
  • Tu võ bị (bàn về việc chỉnh đốn quân đội và quốc phòng, tháng 5 năm 1871)
  • Về việc cần canh tân, quảng giao để giữ nước (tháng 8 năm 1871)
  • Về việc nông chính (tháng 8 năm 1871), v.v...
Ngoài ra, Nguyễn Trường Tộ còn để lại một số di cảo thơ.

Tóm tắt nội dung các bản điều trần

Nguyễn Trường Tộ đã liên tiếp gửi lên triều đình Huế 58 bản điều trần (theo tập họp của Linh mục Trương Bá Cần) đề xuất canh tân xây dựng đất nước. Nội dung các bản điều trần đề cập đủ mọi lĩnh vực. Tóm tắt các mặt chủ yếu:
  • Về chính trị:
Ông trình bày những chiến lược cơ bản, về những thế lớn phân và hợp trong thiên hạ ("Thiên hạ phân hợp đại thế luận", 1863) và đề xuất "Kế ly gián giữa Anh và Pháp" (1866). Không hề ảo tưởng về dã tâm của thực dân Pháp, nhưng ông rất sáng suốt chủ trương tạm hòa hoãn với Pháp, gợi ý với nhà vua về lợi ích lớn của việc "Mở rộng quan hệ với Pháp và các nước khác" (1871)...
  • Về nội chính:
Ông đề nghị triều đình tinh giản bộ máy chính quyền để đỡ hao tốn công quỹ, xác định rõ chức năng công việc của từng loại quan lại để khỏi phải có rất nhiều người ăn lương mà không biết làm gì. Mặt khác, nên có chính sách đối với những nho sinh để họ không thể dựa vào chút chữ nghĩa, trốn tránh nghĩa vụ đối với nước nhà. Ngoài ra, muốn cho đội ngũ viên chức giữ được thanh liêm thì phải tạo điều kiện cho họ làm giàu chính đáng...
  • Về tài chính:
Ông đề nghị sắp đặt lại hệ thống thuế khóa cho thật công bằng hợp lý. Muốn thế phải đo đạc lại ruộng đất, kê khai nhân khẩu, tăng thuế người giàu và hàng xa xỉ ngoại nhập, đánh thuế thật nặng vào những tệ nạn như cờ bạc, rượu chè,...Ngoài ra, còn phải khuyến khích nhà giàu bỏ tiền ra cho vay, và vay tiền của nước ngoài...
  • Về kinh tế:
Ông đề nghị chấn hưng "nông, công, thương nghiệp" để làm cho dân giàu nước thịnh, bằng những hành động cụ thể như: tổ chức khai hoang, bảo vệ rừng, thành lập các đoàn tàu đem hàng nông sản đi bán, cử người thăm dò tài nguyên, khai thác mỏ, thành lập các cơ sở sản xuất công nghệ và đào tạo thợ kỹ thuật…Và để nền kinh tế cả nước có thể giao thông dễ dàng, thì phải chú ý đến việc làm mới và tu bổ đường bộ và đường thủy....
  • Về học thuật:
Ông đề nghị cải cách "việc học, việc thi" để chọn được nhân tài hữu ích. Không nên tiếp tục lối học "máy móc, tín điều" kiểu Trung Hoa. Đáng chú ý là việc ông đề nghị đem các môn khoa học vào trong chương trình học, nhất quyết phải dùng quốc văn (chữ Nôm) để dạy học và soạn sách, kể cả trong các giấy tờ hành chính...
  • Về ngoại giao:
Ông chủ trương quan hệ mềm mỏng với Pháp, và không chỉ có Pháp mà còn phải đặt ngoại giao với nhiều nước khác như Anh, Tây Ban Nha... Phải biết lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước này để có lợi cho mình. Phải đào tạo được các thông dịch viên giỏi công việc và tiếng nước ngoài...
  • Về võ bị:
Ông đề nghị cải tu võ bị nhằm tăng chất lượng của quân đội, như tổ chức lại đội ngũ, cho quân lính được học tập các binh pháp mới, mua sắm tàu thuyền và vũ khí[32], xây dựng phòng tuyến cả ở thành thị lẫn nông thôn, đề phòng quân Pháp xâm lược lan ra cả nước...
Bên cạnh đó, ông còn đề nghị cải cách về các mặt khác như văn hóa, tôn giáo[33], bảo tồn di tích lịch sử, v.v...Tuy nhiên, phần lớn những đề nghị của ông đã không được triều đình nhà Nguyễn nghe theo do tầm nhìn hạn hẹp của họ và hạn chế của thời đại [34].

Nhận xét (sơ lược)

Giám mục Gauthier:
"Tên Trường Tộ trước là linh mục. Từ khi thuyền Tây đến Gia Định thì phần nhiều kém đạo hạnh, lệch lạc ra ngoài phạm vi đạo trưởng, năng lui tới Tây soái tìm vui."[35]
Vũ Ngự Chiêu, Tiến sĩ sử học:
"...Cuộc đời Nguyễn Trường Tộ phần lớn gồm những mẩu truyền kể khó kiểm chứng... Điều có thể kiểm chứng là Nguyễn Trường Tộ từng theo hầu Giám mục Gauthier (Ngô Gia Hậu), người cai quản giáo phận Xã Đoài (Nghệ An). Chi tiết thứ hai là Nguyễn Trường Tộ đã theo Gauthier lưu lạc qua Hong Kong, rồi trở lại Sài-gòn năm 1861 trên hạm đội của Charner."[36]
Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, thì:
Các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ đã nói lên rất rõ tấm lòng yêu nước thiết tha của ông. Ông tin tưởng vào triển vọng canh tân của Nhật Bản, đặt hết hy vọng vào thế hệ trẻ được đào tạo bằng thực nghiệp có thể làm mạnh thế nước... Tuy chưa có ý thức thay thế thể chế phong kiến bằng một thể chế dân chủ, bởi tình thế đất nước chưa có phép làm điều đó, nhưng tư tưởng của ông đã tiến rất gần các nhà tư tưởng tiến hóa luận của phương Tây. Có thể nói, ông đã gợi ra cho người lãnh đạo đất nước những cách nghĩ, cách nhìn cởi mở và táo bạo mà hàng thế kỷ về sau vẫn đáng để suy gẫm. Tóm lại, ông quả là một con người có trí thông minh, nhìn xa thấy rộng, có khả năng ứng dụng vào thực tế vốn liếng tri thức uyên bác cũng như những điều mình sở đắc. Tiếc thay, ông lại "sinh không gặp thời", do đó ông đã không thực sự đóng một vai trò nào trong lịch sử, ngoài vai trò "làm chứng về tấm lòng của một con người, về vận hội của một đất nước".
Về đóng góp cho văn học Việt, ông đã để lại một lối văn mang phong cách "chính luận - trữ tình": vừa phải đảm bảo sự chặt chẽ, sắt bén, khúc chiết trong phân tích (chịu ảnh hưởng khá rõ tư duy lôgic phương Tây); nhưng cũng vừa thấm đẫm cảm hứng trữ tình của tác giả (vì ông phơi trải hết lòng mình), nên có sức thuyết rất mạnh. Ngoài ra, ông còn để lại một số di cảo thơ. Nhìn chung thơ ông mang phong cách trữ tình khoáng đạt, và có thể chia thành hai mảng: những bài "tức cảnh, sinh tình" và những bài "Ngôn chí, tự tình"...[37]
Trích thêm ý kiến của nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng:
...Tôi không đi vào khía cạnh "đổi mới tư duy" mà ông kiên trì, tôi chỉ muốn nhấn mạnh những kiến nghị vì lợi ích của đất nước, mà với tư cách một tín đồ đạo Công giáo đang bị Triều đình ngược đãi, dân chúng nghi kỵ, ông không ngần ngại trình bày, hy vọng nhà vua đảo ngược thế cờ, chuyển nguy thành an, chuyển yếu thành mạnh, chuyển lạc hậu thành tiên tiến cho cả quốc gia, bấy giờ, đứng trước khả năng sụp đổ không phải khó thấy.
Nguyễn Trường Tộ là một trí thức - theo nghĩa gần với hiện đại. Phân tích kỹ các "điều trần", chúng ta dễ dàng phát hiện tính "không tưởng" ở một số chủ trương của Nguyễn Trường Tộ - Ông nóng vội và nhất là ông không biết cơ chế của triều Tự Đức không bao giờ cho phép suy nghĩ của ông trở thành hiện thực bởi chúng đụng đến bức tường lạc hậu kinh khủng về học vấn, về khoa học, sự mụ mẫm trong đầu các quan lại cao cấp, kể cả đấng chí tôn - nhưng ông vẫn không mệt mỏi. Tấm lòng yêu nước thúc đẩy ông. Ta quý Nguyễn Trường Tộ ở chỗ đó....[38]
Và của GS. Nguyễn Hữu Tá:
...Ở tuổi 30, Nguyễn Trường Tộ đã có một vốn kiến thức rộng và sâu cả về phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật. Với tiềm lực chất xám rất quý như thế, nếu ông được tin dùng, được tạo điều kiện để hoạt động, tình thế có thể sẽ rất khác. Bi kịch của Nguyễn Trường Tộ, ngẫm ra là một nghịch lý khó tin nhưng có thật. Yêu nước nhưng không được giúp nước vượt qua đại họa ngoại xâm; thực sự có tài năng xuất chúng nhưng vấp phải vật cản quá lớn – sự trì trệ bảo thủ, dị ứng với chủ trương duy tân, tự cường của triều đình Tự Đức và sự nghi ngờ dai dẳng của họ với những người tin theo Công giáo.
Bi kịch lớn lao ấy bình thường ra có thể nhấn sâu những con người nặng lòng với đất nước vào tình trạng trầm cảm, u uất, bế tắc. Nhưng với Nguyễn Trường Tộ thì không. Ông đã bộc lộ một phẩm chất đáng tôn trọng: sự kiên trì nhẫn nại – nhẫn nại đến mức phi thường. Trong vòng 10 năm (1861 – 1871), Nguyễn Trường Tộ liên tục gửi đến vua Tự Đức và triều đình Huế rất nhiều bản điều trần. Riêng Linh mục Trương Bá Cần đã tập hợp được 58 bản và công bố trong tập Nguyễn Trường Tộ – con người và di thảo. Gửi mà không có hồi âm, nhưng lại tiếp tục gửi nữa. Đề tài không lặp lại, nội dung hết sức phong phú đề cập đến hầu hết những vấn đề chiến lược ở tầm "quốc sách"...[39]
Vinh danh Nguyễn Tường Tộ, tên ông được đặt cho nhiều trường học và đường phố tại Việt Nam.

Văn Nguyễn Trường Tộ

Giới thiệu hai đoạn văn, để hiểu phần nào lối văn nghị luận và tấm lòng yêu nước của ông.
  • Trần tình (trích):
...Vì tôi là kẻ tự biết rõ mình, thấy mình một cách chính xác, bao nhiêu những việc thế tình nham hiểm, hoạn hải ba đào không việc gì không biết nên mới cam tâm chịu ba tội ấy (tức là tội thân phận hèn mọn dám nói việc cao xa, tội "ở trong vòng của quân địch mà lại ôm chí khác" và tội bị nghi kị mà vẫn hiến dâng ý kiến) chuốc lấy mối lo không phải phận sự của mình, ôm lấy những việc khó làm, chỉ đó mới có thể giữ được. Người xưa xét người không xét ở thành bại mà xét ở chỗ có hay không có tấm lòng. Có lòng mà gặp thời đắc dụng là điều may. Có lòng mà gặp thời không tốt, đến phải cô quạnh không chỗ nương thân lại còn mắc tội là điều rất không may. Nhưng nếu lấy điều khoan dung nhân hậu mà xét, thì nhìn vào lầm lỗi của một người có thể biết được lòng nhân hậu của người đó. Huống chi tôi nay như con cá voi ở giữa bể, trong gia đình không hệ luỵ vợ con, ngoài xã hội không lo bị cấm chế, thế mà biết nhớ về cố đô căm giận quân thù (…) việc đời được mất vinh nhục tôi đều xem như ngoại vật, chỉ cần bảo toàn lấy cái điều rất quý ở nơi mình là đủ rồi, nhưng thấy người có việc bất bình cũng phải tuốt gươm cứu giúp, mà bản tâm không mong người báo ơn. Chỉ khi nào không mong người báo đáp, người ta mới làm được những việc phi thường, khẳng khái. Tôi xin dâng mấy bài "Thiên hạ phân hợp đại thế luận", "Tế cấp luận", "Giáo môn luận"… để cho ngụm nước nơi vũng chân trâu nhờ sông ngòi có thể chảy thấu ra biển cả. Được thế thì nước đổ qua trăm dặm may ra có thể giúp ích được ít nhiều. Như thế, tôi dẫu chết vùi nơi nơi chốn mường mọi cũng tỏ được tấm lòng không quên nguồn gốc...
  • Thiên hạ đại thế luận (trích):
...Hiện nay tình hình trong nước rối loạn...tiền của sức lực của dân đã kiệt quệ, việc cung ứng cho quân binh đã mệt mỏi, trong Triều đình quần thần chỉ làm trò hề cho vui lòng vua, che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền tài, chia đảng lập phái khuynh loát nhau, những việc như vậy cũng đã nhiều; ngoài các tỉnh thì quan tham lại nhũng xưng hùng xưng bá tác phúc tác oai, áp bức tàn nhẫn kẻ cô thế, bòn rút mỡ dân, đục khoét tuỷ nước, việc đó đã xảy ra từ lâu rồi. Những kẻ hận đời ghét kẻ gian tà, những kẻ thất chí vong mạng, phần nhiều ẩn núp nơi thao dã, chính là lúc Thắng, Quảng [40] sẽ thừa cơ nổi dậy. Thế mà sao đối ngoại thì không có cách nào để động đến một mảy may lông của quân Pháp, cũng chẳng thuyết phục được ai để giải vây cho, lại đi tàn sát dân mình, giận cá chém thớt, khiến cho dân bị cái hại "cháy nhà vạ lây". Thật đúng như câu nói: "đào ao đuổi cá", "nối giáo cho giặc". Cây cối trước hết tự nó hủ mục sau mới bị sâu đục; nước mình trước hết không biết tự giữ thể diện thì người ta mới khinh mình; dân loạn bên trong, rồi kẻ địch mới nhân đó mà vào. Như thế loạn không phải chỉ từ bên ngoài mà ở ngay trong nước vậy. Than ôi! Dân chúng phụng sự quan trên, đóng thuế nạp tô, để mong được sống yên thân, thế mà bây giờ lại lấy những thứ nuôi sống người đó để làm hại người, nỡ khiến dân chúng vấp phải họa binh đao, nỡ tranh giành cái nhỏ mà bỏ cái lớn, cũng như muốn bảo tồn cành lá mà lại đem đẵn cả cội gốc. Cho nên mới nói: không sợ thế giặc ngang tàng mà sợ lòng người rời rạc. Lòng người đã rời rạc, đã muốn chóng mất, thì dù có thành trì bằng kim loại, có ao nước sôi cũng phải bỏ mà chạy, ai ở đó chịu chết mà giữ cho!...

Sách tham khảo

  • Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ – con người và di thảo. Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh, 2002.
  • Nguyễn Huệ Chi, mục từ: "Nguyễn Trường Tộ" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
  • Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1992.
  • Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ-Điển tích-Danh nhân từ điển (quyển 2). Nhà xuất bản Hồng Thiêng, Sài Gòn, 1967.
  • Nhóm Nhân văn Trẻ, Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (tập 4). Nhà xuất bản Trẻ, 2007.

Chú thích

  1. ^ Về năm sinh của Nguyễn Trường Tộ, theo GS. Lê Thước trong bài "Nguyễn Trường Tộ tiên sinh tiểu sử" đăng trên Nam Phong tạp chí số 102, và hầu hết các tác giả tiếp sau đó, đều nói: "ông sinh năm Minh Mạng năm thứ 9 (1828)". Tuy nhiên, trong "Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ" do Nguyễn Trường Cửu (con trai của Nguyễn Trường Tộ) viết, mặc dù không nói năm sinh, nhưng nói: "mất ngày 10 tháng 10 năm Tự Đức 24 (1871)... thọ 41 tuổi", tức sinh năm 1830 hoặc 1831 (thường thì tuổi thọ tính theo tuổi ta). Hiện nay, theo Linh mục Trương Bá Cần, thì vẫn chưa có đủ tài liệu để xác định một cách chắc chắn về năm sinh của ông (sách ở mục tham khảo, phần I: "Nguyễn Trường Tộ - Con người". Bản điện tử trang 1).
  2. ^ Tên "Thầy Lân" từng được nói tới trong các thư của các thừa sai người Pháp lúc bấy giờ. Trong tờ tấu của Cơ mật viện (Huế) đề ngày 14 tháng 5 năm 1867, cũng thấy nói: "Nguyễn Trường Tộ, tức tên Thầy Lân" (dẫn theo Trương Bá Cần, bản điện tử trang 1).
  3. ^ Giám mục Gauthier và người dân lúc ấy thường gọi Nguyễn Trường Tộ bằng danh hiệu "Kiến trúc sư", mặc dù ông chưa học qua chuyên ngành. Như trong thư gửi Hội Truyền giáo Nước ngoài ở Paris (đề ngày 1 tháng 1 năm 1870), Giám mục Gauthier viết: "...Người ta quen gọi là Kiến trúc sư vì ông ta (chỉ ông Tộ) đã xây ngôi nhà ba tầng của các nữ tu Sài Gòn, một nhà nguyện và một ngọn tháp cao nổi bật..." (dẫn lại theo Trương Bá Cần, bản điện tử trang 2).
  4. ^ Có tài liệu nói ông sinh ở làng Bùi Ngõa, hoặc làng Đoài Giáp tức Xã Đoài (ghi chú của GS. Nguyễn Huệ Chi, tr. 1207).
  5. ^ Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, tr. 676.
  6. ^ Tác giả Đinh Văn Chấp viết: "Lúc nhỏ Tộ cũng giỏi về lối học khoa cử, thời bấy giờ có tên là Trạng Tộ" (dẫn lại theo Trương Bá Cần, bản điện tử trang 1).
  7. ^ GS. Đào Duy Anh viết: "...Tiên sinh (Nguyễn Trường Tộ) đã được Giám mục Gauthier, giáo phận Xã Đoài dạy cho tiếng Pháp, cung cấp cho các bản dịch chữ Hán của các sách Tây phương và cho đi du lịch ở Hong KongSingapore" (Bulletin des Amis du Vieux Hue số 2 tháng 4 - 6 năm 1944, tr. 135).
  8. ^ Đầu tháng 9 năm 1858, quân Pháp bắt đầu đánh chiếm cảng Đà Nẵng. Để kiểm soát và ngăn chặn người Công giáo có thể tiếp tay với họ, Triều đình Huế cho bắt giam các giáo sĩ và trùm trưởng, đồng thời ra lệnh "phân tháp" giáo dân. Nghĩa là phân tán người Công giáo bằng cách tháp nhập (sáp nhập) hai ba gia đình Công giáo vào trong một làng không Công giáo, chứ không cho ở tập trung. Đây là một biện pháp gây nhiều thiệt hại và đau khổ cho đồng bào Công giáo lúc bấy giờ (theo Trương Bá Cần, bản điện tử trang 1).
  9. ^ Sau khi quân Pháp bị cầm chân ở Đà Nẵng (xem: Trận Đà Nẵng (1858-1859)), theo Trương Bá Cần (sách đã dẫn, bản điện tử trang 1), thì các giáo sĩ Pháp ở Đà Nẵng, đứng đầu là Giám mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp lực để quân Pháp đánh kinh đô Huế. Nhưng bộ chỉ huy quân sự Pháp đánh giá là không thể đánh Huế mà phải chuyển hướng về Sài Gòn. Do đó, trước khi đem quân vào Nam, Đô đốc Rigault de Genouilly đã tìm cách bắt buộc các giáo sĩ Pháp, hoặc trở về nhiệm sở hoặc đi tạm lánh ở Hương Cảng. Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn Trường Tộ đã đi sang nơi đó trong hoàn cảnh như thế.
  10. ^ Hầu hết các tác giả, kể cả Nguyễn Trường Cửu (con trai của Nguyễn Trường Tộ) đều nói là từ Hồng Kông, Giám mục Gauthier đã đem Nguyễn Trường Tộ sang Pháp, sang Roma (Ý) vào chầu Giáo hoàng Piô IX. Nhưng nay thì biết rõ rằng trong những năm 1859-1860, Giám mục Gauthier không về Pháp. GS. Đào Duy Anh nói là "Giám mục Gauthier đưa Nguyễn Trường Tộ sang Hồng Kông rồi để cho Nguyễn Trường Tộ một mình đi Pháp"...Sự thực là với tài liệu hiện có, không biết chắc được là trước năm 1861, Nguyễn Trường Tộ có đi sang các nước phương Tây để tìm tòi học hỏi hay chỉ quanh quẩn ở các nước Đông Nam Á như Hồng Kông, Mã Lai... là những nơi có cơ sở hậu cần lớn của Hội Truyền giáo Nước ngoài của Paris...(theo Trương Bá Cần, bản điện tử trang 1. Cũng theo ông Cần thì ông Tộ có lẽ sang Ý nhân chuyến đi Pháp năm 1867).
  11. ^ Dẫn lại theo Trương Bá Cần (bản điện tử trang 1). Các chữ trong ngoặc là của người soạn.
  12. ^ Nhờ có lòng ham học hỏi và ý thức học tập một cách nghiêm túc, Nguyễn Trường Tộ đã có được sự hiểu biết ấy. Trong bản "Trần tình" (7 tháng 5 năm 1863), Nguyễn Trường Tộ viết: "...cái cao của thiên văn, cái sâu của địa lý, cái phiền toái của nhân sự, cho đến luật lịch, binh quyền, tạp giáo, dị nghệ, các môn cách trí, thuật số, không môn nào tôi không khảo cứu..."
  13. ^ Nguyễn Trường Tộ, Thiên hạ đại thế luận, Di thảo số 1, tháng 3 – 4 năm 1863, in trong Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ: Con người và di thảo, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, tr. 107.
  14. ^ Nhờ Nguyễn Trường Tộ có nhắc tới văn bản này trong thư gửi cho đại thần Phan Thanh Giản vào tháng 3 năm 1864, mà biết được nội dung chủ yếu của nó.
  15. ^ Đánh giá của GS. Nguyễn Huệ Chi (tr. 1207). Tu viện Dòng Thánh Phaolô Sài Gòn được khởi công từ tháng 9 năm 1862 và hoàn tất ngày 18 tháng 7 năm 1864. Linh mục Le Mée (thừa sai Paris) trong một bức thư đăng trên tập san Missions Catholiques năm 1876, có nói về công việc ấy như sau: "Đức Giám mục Gauthier và Linh mục Croc đã đem theo một nho sĩ Bắc Kỳ, tên là Lân (tức Nguyễn Trường Tộ). Với trí thông minh hiếm có, lại được gợi ý và được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và tận tụy của Giám mục Gauthier, nho sĩ Bắc Kỳ này, vì tình yêu Thiên Chúa, đã nhận đứng ra đốc suất công việc. Trước kia, ông có ở Hồng Kông ít lâu và trong thời gian ngắn ngủi tại thuộc địa này của người Anh, ông đã thấy được cách thức và thể loại kiến trúc của châu Âu. Thời đó ở Sài Gòn, chưa có một công trình nào làm kiểu mẫu. Với đề án của tu viện và nhà nguyện do Nữ tu Benjamin cung cấp, ông ta đã phác họa được một họa đồ phối cảnh chung và thực hiện công trình nhờ sự cộng tác của các công nhân người Việt. Chính ông đã phải vẽ sơ đồ của tháp chuông và tự mình trông nom công việc một cách rất cẩn thận, và chính ông đã hoàn thành nhiều phần khác của công trình. Mỗi ngày người ta thấy ông có mặt ở công trường và để ý tới từng chi tiết. Phải thú nhận là nếu không có ông thì không thể thực hiện được một công trình như vậy vào một thời điểm mà ở Sài Gòn chưa có thợ cũng như chưa có nhà thầu...". Như thế, cơ sở của Dòng Thánh Phaolô do Nguyễn Trường Tộ (từng được Giám mục Gauthier gọi là "Kiến trúc sư") xây cất nổi lên giữa Sài Gòn năm 1864 như một công trình kiên cố có tầm cỡ (theo Trương Bá Cần, bản điện tử trang 2). Thông tin về dòng nữ tu này xem: [1].
  16. ^ Theo Trương Bá Cần, sách đã dẫn.
  17. ^ "Khai hoang từ" là một bản trình bày kế hoạch phát triển đất nước một cách tương đối rõ ràng và dễ thực hiện, làm cho nhà vua phải lưu tâm. Có lẽ vì thế mà ông đã được triệu về kinh để giúp giải quyết vấn đề tàu London (ý kiến của Trương Bá Cần, bản điện tử: trang 2).
  18. ^ Đại Nam thực lục, phần "Chính biên". Bản dịch của Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1974, trang 35-36.
  19. ^ Xem "Di thảo số 11" in trong sách Nguyễn Trường Tộ: Con người và di thảo của Trương Bá Cần.
  20. ^ Dẫn lại theo Trương Bá Cần, bản điện tử trang 2.
  21. ^ Nguyễn Trường Tộ đã khai thông được con đường thủy từ Sông Cấm cho tới sông Vinh, xóa bỏ được Thiết Cảng (Cửa Sắt), để làm thành Kênh Sắt, mà ngày nay gọi là Kênh Gai hay kênh Nguyễn Trường Tộ. Công việc đào có lẽ hoàn thành trong những ngày Nguyễn Trường Tộ còn ở Nghệ An, tức giữa năm 1866, và ông đã làm bài bạt "Mừng đào xong Thiết Cảng" (theo Trương Bá Cần, bản điện tử trang 2).
  22. ^ a ă Theo Trương Bá Cần, bản điện tử trang 2.
  23. ^ Theo nội dung bức thư Giám mục Gauthier gởi cho Hội Truyền bá Đức tin ở Pháp đề ngày 31 tháng 1 năm 1868.
  24. ^ Trong một bức thư gởi Hội Truyền giáo Paris, đề ngày 31 tháng 3 năm 1868, Giám mục Gauthier viết: "...Công việc sẽ tiến triển nhanh hơn nếu không có việc cử sứ bộ đi Pháp và những sự chậm chạp của xứ này... Trong các quan thượng thư, có hai vị cựu trào tìm cách cản trở quyết tâm của nhà vua...". Hai vị "cựu trào" trong thư là Nguyễn Tri PhươngVõ Trọng Bình. Nhưng, theo Trương Bá Cần (bản điện tử: tr. 3) có lẽ không phải chỉ có hai vị đại quan ấy, mà có cả một luồng dư luận khá rộng rãi, trong Triều đình cũng như ở các tỉnh, tỏ ra dè dặt, lo sợ trước ảnh hưởng của các giáo sĩ người Pháp: Một trường đào tạo nhân tài đầu tiên hoàn toàn do các thầy người Pháp, đặt ngay bên cạnh Tòa Giám mục, dưới sự giám sát của Giám mục.
  25. ^ Trước kia dân Xuân Mỹ ở vùng dưới chân đồi thấp, tới mùa mưa thì lầy lội, bẩn thỉu. Nguyễn Trường Tộ đã khuyên dân dời cư lên triền đồi cách chỗ ở hiện nay khoảng 400 mét về phía Tây. Chính ông đã vẽ đường, chia ô cho các hộ.
  26. ^ Trong số các công trình do Nguyễn Trường Tộ xây cất ở Xã Đoài, nay chỉ còn lại nhà tràng Latinh (tức tiểu chủng viện) ba tầng, hình chữ thập gọi là "nhà Tây", chứ Tòa Giám mục và các nhà phụ thuộc đều đã bị bom Mỹ đánh sập (theo Trương Bá Cần).
  27. ^ Nguồn: Trương Bá Cần, bản điện tử trang 3.
  28. ^ Kho lưu trữ MEP. Dẫn lại theo Trương Bá Cần, bản điện tử trang 3.
  29. ^ trích số tiền theo nguyên văn bài báo "Về việc xây mộ cụ Nguyễn Trường Tộ", đăng trên báo Tràng An
  30. ^ [2], Về việc xây mộ cụ Nguyễn Trường Tộ, Báo Tràng An, ngày 21/05.1942
  31. ^ [3] Ký ức về người cha suốt một đời học tập để con cháu noi theo của Chuyên gia Nông nghiệp Nguyễn Lân Hùng
  32. ^ Theo Nguyễn Trường Tộ, trong hoàn cảnh đất nước còn nghèo, triều đình nếu cho mua những sản phẩm kỹ thuật hiện đại như tàu biển, máy móc, vũ khí... thì chỉ cần mua mỗi thứ một đơn vị để nghiên cứu. Ông tin có thể căn cứ vào mẫu mã đó sẽ chế tạo mới, không những chất lượng không thua sút mà còn có những cải tiến tốt hơn.
  33. ^ Ở bản "Giáo môn luận", Nguyễn Trường Tộ đã dùng những lý lẽ của trời đất và các chứng cớ lịch sử để kêu gọi triều đình phải có chính sách bao dung, nhân ái đối với những tín đồ Công giáo.
  34. ^ Xem thêm chương 5: Những đề nghi cải cách của Nguyễn Trường Tộ in trong sách Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo của Trương Bá Cần.
  35. ^ Nguyễn Trường Tộ: Con người và Di Thảo của LM Trương Bá Cần
  36. ^ Các Vua cuối Nhà Nguyễn, Tập I.
  37. ^ Nguồn: Nguyễn Huệ Chi, Từ điển văn học (bộ mới), tr. 1208-1209.
  38. ^ Trần Bạch Đằng, trích trong Lời tựa đề ở đầu bộ sách Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo của Linh mục Trương Bá Cần, bản điện tử trang 1.
  39. ^ GS. Trần Hữu Tá, bài viết về Nguyễn Trường Tộ. Bản điện tử: [4].
  40. ^ Trần ThắngNgô Quảng đều là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại Tần Thủy Hoàng.


Chuyện hai đặc công Việt Nam đánh chìm tàu sân bay Mỹ

Hai đặc công Việt Nam bí mật xâm nhập vào cảng Sài Gòn, mỗi người mang theo 40kg thuốc nổ và các bộ phận cần thiết để tạo nên hai quả bom hẹn giờ


Chuyện hai đặc công Việt Nam đánh chìm tàu sân bay Mỹ - 1
Tàu sân bay USNS Card neo tại cảng Sài Gòn.
Tạp chí Mỹ National Interest mới đây đã đăng bài về sự kiện hai đặc công Việt nam đánh chìm tàu sân bay Mỹ ngày 2.5.1964. Chúng tôi xin lược dịch bài viết này.
Theo National Interest, mục tiêu của hai đặc công Việt Nam chính là tàu sân bay lớn nhất của Mỹ neo tại cảng Sài Gòn vào ngày 2.5.1964.
Tàu sân bay USNS Card vốn là tàu hộ tống chuyên chở máy bay săn ngầm hoạt động ở Bắc Đại Tây Dương trong Thế Chiến 2. Tàu được cải tiến trở thành tàu sân bay chuyên chở máy bay chiến đấu, trực thăng.
USNS Card dài 151 mét, rộng 34 mét, lượng giãn nước tối đa 16.500 tấn. Tàu neo tại cảng Sài Gòn khi đó chở theo 39 máy bay và nhiều trang thiết bị vũ khí khác.
Sự xuất hiện của tàu sân bay USNS Card được coi là cam kết của Mỹ trong việc leo thang Chiến tranh Việt Nam sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1961.
Theo National Interest, chiến sỹ đặc công Ba náo (Lâm Sơn Náo) từng là nhân viên bảo trì tại cảng Sài Gòn ở thời điểm vụ tấn công xảy ra. Công việc này thực chất chỉ là vỏ bọc để ông thu thập thông tin tình báo, che giấu khối thuốc nổ và chuẩn bị phương án tấn công.
Theo kế hoạch, Ba Náo đưa một chiến sĩ trẻ đi cùng vào tối ngày 1.5. Hai người chèo xuồng từ Kinh Tẻ băng sông Sài Gòn về phía Thủ Thiêm, từ đó vượt sông hướng về phía cảng Sài Gòn.
Trải qua nhiều khó khăn để tới được cảng Sài Gòn, trong đó có cả việc bị lính địch chặn hỏi, hai người lính đặc công khéo léo vượt qua và chèo xuồng vào đường cống. Đi được khoảng 300 mét thì nước cạn, hai người nhảy xuống vác thuốc nổ đi về phía chiếc tàu sân bay Mỹ đang cập ở bờ cảng.
Chuyện hai đặc công Việt Nam đánh chìm tàu sân bay Mỹ - 2
USNS Card thuộc lớp tàu sân bay Bogue. Ảnh minh họa.
Tại đây, hai chiến sỹ đặc công dành khoảng một giờ dưới nước để lắp đặt hai quả bom hẹn giờ nặng 40kg. Vị trí đặc bom được tính toán kỹ lưỡng để nước có thể tràn ngập vào khoang động cơ.
2 giờ sáng ngày 2.5.1964, quả bom phát nổ khiến tàu USNS Card chìm dần xuống sông Sài Gòn. Vụ nổ tạo ra hố rộng ở khoang động cơ, nhấn chìm con tàu từng sống sót qua đợt tấn công của tàu ngầm U-boat Đức trong Thế chiến 2.
Nhiều nhân viên quân sự Mỹ trên tàu thiệt mạng và 24 máy bay chìm theo tàu. Mỹ coi USNS Card tàu sân bay cuối cùng bị đánh đắm trong một cuộc chiến tranh cho đến nay.
Sau chiến công lịch sử này, Lâm Sơn Náo được tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba. Hai chiến sỹ giúp vận chuyển thuốc nổ vào thành phố được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.
USS Card sau này được “vinh danh” trên con tem của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với tên gọi “Hàng không mẫu hạm Mỹ bị đánh”.
Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson khi đó muốn sự kiện tàu sân bay Mỹ bị đánh chìm nhanh chóng chìm vào quên lãng. Chính phủ Mỹ phủ nhận thông tin có tàu chìm ở cảng Sài Gòn và nói với công chúng rằng tàu sân bay USNS Card chỉ bị hư hỏng nhẹ.
Chính vì lý do này mà hải quân Mỹ đã huy động toàn lực trục vớt tàu sân bay chìm dưới mặt nước khoảng 15 mét. Mỹ điều hai tàu cứu hộ USS Reclaimer và USS Tawakoni đến cảng Sài Gòn để bơm nước ra khỏi tàu sân bay.
Chuyện hai đặc công Việt Nam đánh chìm tàu sân bay Mỹ - 3
USNS Card mang theo máy bay chiến đấu.
17 ngày sau, USNS Card được trục vớt thành công trong tình trạng tồi tệ và nhiều trang thiết bị hư hỏng nặng. 6 tháng sau, con tàu phục vụ trở lại trong 6 năm nữa trước khi được đem rã sắt vụn.
Vụ đánh chìm tàu sân bay Mỹ cho thấy các tàu chiến dễ bị tổn thương như thế nào trước đối phương sử dụng vũ khí thô sơ.
Giới chuyên gia quân sự nhận định, tàu sân bay được coi là “biểu tượng sức mạnh” của một quốc gia. Nhưng con tàu cỡ lớn chở theo hàng chục máy bay này lại rất dễ bị tấn công.
Đó là lý do vì sao tàu sân bay cần đội tàu hộ tống hùng hậu, bao gồm tàu khu trục, tàu tuần dương tên lửa và thậm chí cả tàu ngầm.
James Holmes, chuyên gia lịch sử hải quân tại Đại học Hải chiến Mỹ nói: “Vụ đặc công Việt Nam đánh chìm tàu USNS Card khiến người Mỹ không còn gọi tàu sân bay là ‘pháo đài bằng thép’”.
“Pháo đài có lớp tường dày bảo vệ nhưng tàu chiến hiện đại chỉ có lớp giáp mỏng. Một ai đó mang theo quả bom là đủ để tạo ra thiệt hại lớn”, ông Holmes nói.

51 năm trước, căn cứ tối mật Mỹ thất thủ bởi đặc công Việt Nam

(Dân Việt) 50 năm trước, một căn cứ tối mật của Mỹ trên đỉnh núi ở Lào bị đặc công tinh nhuệ Việt Nam tấn công. Chỉ 6 trong tổng số 18 nhân viên CIA và lính không quân trốn thoát thành công trong vụ việc bị Mỹ giấu kín suốt 3 thập kỷ.

 50 nam truoc, can cu toi mat my that thu boi dac cong viet nam hinh anh 1
Các chiến sĩ đặc công Việt Nam ngày nay. Ảnh: Tiền phong.
Theo National Interest, sở dĩ vụ việc bị giấu kín bởi quân đội Mỹ khi đó lẽ ra không được hoạt động ở Lào. Hiệp định Genève về Lào năm 1962 được ký, trong đó có điều khoản yêu cầu các thế lực bên ngoài rút quân khỏi Lào.
Nhưng các chiến dịch quân sự vẫn được bí mật thực hiện khi đó. Lính đánh thuê Mỹ do CIA đào tạo và lính không quân đưa máy bay cất và hạ cánh tại căn cứ Mỹ ở Lào.
CIA cũng chiêu mộ những người dân tộc sống trong khu vực để chiến đấu chống lực lượng Việt Nam và Lào. Căn cứ của CIA được đặt trên đỉnh núi Phou Pha Thi, nơi linh thiêng của người Mông và nằm trong khu vực chiến lược giáp biên giới Việt Nam.
Để vận chuyển nhu yếu phẩm và thay thế nhân viên quân sự làm nhiệm vụ, Mỹ sử dụng các trực thăng CH-3 thuộc phi đội trực thăng số 20. Các chuyến bay được thực hiện hàng tuần.
Vào mùa hè năm 1966, không quan Mỹ chuyển đổi mục đích sử dụng căn cứ sang thành trạm radar định hướng (TACAN). Ở thời điểm trước khi GPS xuất hiện, TACAN đóng vai trò quan trọng giúp chiến đấu cơ xác định mục tiêu, đặc biệt khi bay trong điều kiện quan sát hạn chế hoặc vào ban đêm.
Năm 1967, căn cứ này được nâng cấp sang sử dụng ăng ten TSQ-81 và hệ thống ném bom từ xa, giúp người ngồi trong căn cứ kiểm soát máy bay ném bom Mỹ.
 50 nam truoc, can cu toi mat my that thu boi dac cong viet nam hinh anh 2
Đỉnh núi Phou Pha Thi, nơi từng diễn ra trận đánh lớn ngày 10.3.1968.
Căn cứ được coi là nơi cung cấp mục tiêu oanh tạc chính xác, trong chiến dịch ném bom của Mỹ nhằm vào thủ đô Việt Nam.
Vì hoàng tử Lào Souvanna không cho phép binh sĩ Mỹ hoạt động trong lãnh thổ nước này, nên những người phục vụ ở căn cứ Lima 85 đều phải ký giấy tạm thời rời quân ngũ.
Căn cứ được bảo vệ bởi các đơn vị đặc nhiệm Mỹ và dân quân địa phương. Công chúng Mỹ hoàn toàn không biết đến hoạt động của căn cứ Lima 85, nhưng điều này không qua được mắt Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Các hoạt động trinh sát căn cứ diễn ra từ tháng 12.1967. Giao tranh nhỏ lẻ diễn ra vào đầu năm 1968, phía Việt Nam tấn công căn cứ bằng súng cối và các máy bay An-2 trang bị rocket 57mm và đạn súng cối 120mm.
Giới chức quân sự Mỹ khi đó hiểu rằng căn cứ đang bị một lực lượng lớn hơn nhiều bao vây. Nhưng không muốn bỏ căn cứ trang bị hệ thống radar hiện đại, lại không thể tăng cường phòng thủ, Mỹ quyết định giáng hàng trăm đợt không kích để ngăn quân đội Việt Nam chiếm các cứ điểm xung quanh.
 50 nam truoc, can cu toi mat my that thu boi dac cong viet nam hinh anh 3
Sơ đồ căn cứ Lima 85 của Mỹ trên đỉnh núi Phou Pha Thi.
Đó là lúc đặc công tinh nhuệ Việt Nam tìm ra đường lên núi Phou Pha Thi mà không bị phát hiện. Đầu tháng 3.1968, 30 đặc công Việt Nam cùng 9 lính công binh bắt đầu đợt tấn công căn cứ Mỹ. Các đặc công được trang bị súng trường AK-47, súng SKS, thuốc nổ, lựu đạn và 3 ống phóng lựu.
6 giờ tối ngày 11.3, đợt pháo kích hỗ trợ cho nhóm đặc công dọn mìn và mở đường đến căn cứ Lima 85. Đến 9 giờ tối, các đặc công chia làm 5 nhóm đồng thời tấn công.
Nhóm 1 và 2 tấn công trung tâm chỉ huy. Nhóm 3 và 4 tìm cách chiếm các trang thiết bị của hệ thống TACAN và bãi đáp cho trực thăng. Nhóm 5 đóng vai trò dự bị.
Phía Mỹ khi đó tỏ ra chủ quan, cương quyết không rút lực lượng đóng tại căn cứ cho đến 8 giờ sáng ngày hôm sau.
Nhưng như vậy là quá muộn, các đặc công Việt Nam đã vào vị trí vào lúc 3 giờ sáng, vô hiệu hóa lính gác và trạm radar TSQ-81 bằng các ống phóng lựu.
Khi thiếu tá Clarence Barton và lính không quân Mỹ đến kiểm tra thiệt hại, họ bị các đặc công Việt Nam phục kích, tiêu diệt. Đến 4 giờ sáng, 3 nhóm đặc công đã hoàn thành xong nhiệm vụ. Nhóm 4 phải từ bỏ việc chiếm bãi đáp trực thăng vì lực lượng Mông canh gác quá cẩn mật và đông đảo.
Những binh sĩ và nhân viên quân sự Mỹ sống sót bị dồn tới bên kia của sườn núi, nơi họ rơi vào ổ phục kích của đặc công Việt Nam.
Đến khi Mặt trời mọc, trực thăng vận tải Mỹ được yểm trợ bởi trực thăng tấn công A-1 và đơn vị Mông giao tranh quyết liệt nhằm chiếm lại thiết bị của hệ thống TACAN cũng như sơ tán các nhân viên quân sự còn sống sót.
Thượng sĩ Richard Etchberger, một trong những người mắc kẹt kiên quyết không rời đi cho đến khi đưa 3 đồng đội bị thương lên trực thăng. Bản thân Etchberger sau đó cũng bị thương nặng.
 50 nam truoc, can cu toi mat my that thu boi dac cong viet nam hinh anh 4
Bức hoa của CIA mô phỏng cảnh trực thăng Mỹ đụng độ với máy bay AN-2 của Việt Nam trong trận đánh ở Phou Pha Thi.
Lực lượng Việt Nam sau đó yểm trợ cho nhóm đặc công, đẩy lùi đợt phản công của đơn vị người Mông.
Chiến dịch của đặc công Việt Nam tại căn cứ Lima 85 làm suy yếu rõ rệt năng lực oanh tạc bằng máy bay B-52 của Mỹ ở miền bắc Việt Nam và Lào. Theo các tài liệu của Việt Nam, nhóm đặc công chỉ tổn thất 1 người trong khi tiêu diệt ít nhất 42 quân địch, bao gồm lực lượng Thái  Lan, Mông và nhân viên quân sự Mỹ.
Nhưng phía Mỹ cho rằng nhóm đặc công cũng mắc sai sót khi phá hủy nhiều trang thiết bị liên lạc giá trị và không bắt sống được kỹ sư liên lạc Mỹ.
Sau này, cả Washington và Hà Nội đều không tiết lộ về các hoạt động quân sự ở Lào. Phía Việt Nam kiên quyết duy trì tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trong khi Mỹ cố gắng ngăn chặn.
Trở về quê nhà, thượng sĩ Etchberger lẽ ra được trao huân chương danh dự, nhưng bị không quân Mỹ từ chối vì cần phải giữ bí mật về hoạt động chiến tranh ở Lào.
Dưới thời chính quyền Nixon, Mỹ tăng cường ném bom miền bắc Việt Nam và Lào, nhưng không ngăn cản được chiến thắng quyết định, giải phóng miền nam năm 1975 của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
30 năm sau sự kiện năm 1968, Mỹ mới chính thức thừa nhận trận đánh thất bại ê chề ở căn cứ Lima 85. Etchberger chính thức được trao huân chương danh dự vào ngày 1.9.2010.
Trong những năm 2000, các cựu binh Việt Nam hỗ trợ nhân viên quân sự Mỹ thu thập hài cốt những người thiệt mạng, bao gồm cả thiếu tá Barton.
*Bài viết thể hiện quan điểm của chuyên gia quân sự Mỹ Sébastien Roblin, thạc sĩ về giải quyết xung đột của Đại học Georgetown, đăng tải trên tạp chí National Interest.

Huyền thoại về người chiến sĩ đặc công trên đỉnh Pha Thí



(Công lý) - Trong căn nhà cấp 4 thông thống bốn bề là gió, nằm dưới chân đồi Tiên Lăng (Cẩm Vân, Cẩm Thủy, Thanh Hóa), ông kể cho tôi nghe về những tháng năm binh lửa, về Đại đội đặc công C23 đầy gan dạ. Gần 40 năm sau chiến tranh, cả đại đội oai hùng đó có nguy cơ chìm vào quên lãng, hài cốt hàng trăm chiến sĩ sẽ vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất Triệu Voi...
Ông Nguyễn Hồng Hà

Những hồi ức chiến tranh…

Sinh ra và lớn lên ở một làng quê nghèo nằm ven bờ sông Mã, ông Nguyễn Hồng Hà sớm phải chứng kiến cảnh đau thương mất mát do chiến tranh gây nên ngay trên mảnh đất quê hương mình. Tháng 3-1965, ông lên đường nhập ngũ khi vừa tròn 19 tuổi. Tình hình chiến sự khi đó vô cùng ác liệt, Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc và tập trung quân đội viễn chinh trên chiến trường Lào để thực hiện kế hoạch “Chiến tranh cục bộ”, nên sau ít ngày huấn luyện cấp tốc, ông được bổ sung vào đơn vị đặc công C23, Bộ Tư lệnh 959, chiến đấu trên chiến trường Sầm Nưa (tỉnh Hủa Phăn, Lào).

Nhiệm vụ chính của C23 lúc bấy giờ được Bộ Chính trị giao là phải giữ vững những cứ điểm quan trọng, đi đầu trong các trận đánh vào cơ quan đầu não, tiêu hủy vũ khí và sinh lực của địch. Hầu hết chiến sĩ trong đại đội đều tinh nhuệ, quả cảm, thiện chiến, phù hợp cho lối đánh “mật tập”, lấy ít địch nhiều. Từ giữa năm 1965, ông Hà có vinh dự được cấp trên tin tưởng giao chức vụ Trung đội trưởng đặc công, trực tiếp chỉ huy mũi xung kích mở màn các chiến dịch lớn.

Chỉ sau vài tháng, đơn vị C23 (trong đó Trung đội do ông Hà chỉ huy làm mũi nhọn) đã liên tiếp mở cuộc công kích vào các cứ điểm Mường Hàm, Mường Sàm, Na Mường, sân bay Hồng Nuôn…, gây bao nỗi kinh hoàng cho lính Ma - Ky (lính đánh thuê Thái Lan), phỉ Vàng Pao. Chỉ cần nghe danh Đại đội C23 với những trinh sát mình trần đen trũi, thoắt ẩn, thoắt hiện giữa trùng vây đồn bốt, bất ngờ quét AK, ném lựu đạn đã khiến quân địch “hồn xiêu phách lạc”.

Sau những thành công vang dội đó, Đại đội C23 được giao đánh chiếm Pha Thí, cứ điểm quan trọng án ngữ trên tuyến đường 217 và đường số 6, được coi như “pháo đài bất khả xâm phạm” của địch. Cụm cứ điểm này được xây dựng trên một quả đồi cao, có chiều dài khoảng 6km, rộng 1km. Tại đây, quân địch thiết lập “vành đai thép”, trang bị hệ thống ra đa phòng thủ hiện đại, có cả sân bay và nhiều vũ khí tối tân. Đích thân Đại tướng Võ Nguyên Giáp truyền chỉ thị: “Phải giành bằng được Pha Thí, bởi nếu nắm được cứ điểm này, đồng nghĩa với việc khống chế Thượng Lào, chặn đứng âm mưu tấn công bằng không lực từ phía Thái Lan…”.

Nhiệm vụ hết sức khó khăn, nặng nề, tương quan lực lượng giữa hai bên quá chênh lệch. Bởi, quân địch cũng hết sức coi trọng Pha Thí nên chúng tập trung số lượng rất lớn, trang thiết bị vũ khí hiện đại, trong khi đó, cả Đại đội C23 chỉ vẻn vẹn 90 chiến sĩ, lương thực, vũ khí, thuốc men đều thiếu. Nếu không có kế sách, có thể cả Đại đội hy sinh vô ích.

Sau nhiều buổi họp bàn kế hoạch tác chiến, Đại đội quyết định dùng cách đánh tỉa. Ta lần lượt diệt các mục tiêu chân rết, chặt đứt mọi tiếp viện về hỏa lực của địch cho Pha Thí. Mở màn trận Xáp Xưa (tháng 9-1965), hai bên giành giật nhau từng mét đất, từng quả đồi, bom và pháo 12 ly 7 ngày đêm cày xới. Nhiều lúc, bộ đội ta phải hứng từng giọt sương, gạn từng chén nước dưới hố bom chứa đầy xác chết để chống chọi lại cơn khát. Địch vẫn chống trả quyết liệt, liên tục tăng cường quân số, khiến việc đánh chiếm Pha Thí hết sức khó khăn, kéo dài gần 2 năm.

Năm 1967, trực tiếp Hoàng thân Xu - va - nu - vong cùng với Bộ Chính trị Việt Nam có mặt tại Mường Ngà giao nhiệm vụ cho Đại đội C23 phải “đánh chiếm Pha Thí bằng mọi cách”. Đồng thời, Bộ Chính trị vạch ra chiến lược “dương đông, kích tây”, dùng máy ủi của đơn vị công binh 217 ngụy trang thành C23, còn lực lượng C23 “xịn” thì được chia thành nhiều mũi tấn công vào Pha No, Khu D, Khu Cầu Thang… Sau nhiều ngày chiến đấu kiên cường trong lằn ranh giữa cái sống và cái chết, đầu năm 1968, C23 đã hoàn thành nhiệm vụ, chiếm giữ Pha Thí.

Cũng trong trận đánh này, ông Hà bị một mảnh đạn găm vào đầu, thân thể vùi sâu trong lòng đất, may mắn ông được đồng đội phát hiện cứu sống. Rất nhiều chiến sĩ Đại đội C23 hy sinh, nằm ngổn ngang ở chiến trường, mọi người phải chờ đêm xuống mới đi nhặt xác về chôn cất. Vì lập thành tích xuất sắc, ông Hà được phong danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, và sau này được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng 3. Thay mặt Bộ Chính trị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi thư biểu dương thành tích của toàn Đại đội, đồng thời cũng ra chỉ thị phải giữ trọn Pha Thí, bởi nguy cơ quân địch tái đánh chiếm rất cao.

Đúng như Bộ Chính trị nhận định, cuối năm 1968, địch đã phản công nhằm tái chiếm Pha Thí. Hơn 40 ngày đêm, địch cho máy bay oanh tạc dữ dội, trận địa mù khói súng, đạn pháo, tên lửa. Suốt từ năm 1969 đến năm 1973, Đại đội C23 đã bẻ gãy không biết bao đợt tấn công của địch. Để giữ trọn Pha Thí, hàng trăm chiến sĩ hy sinh nằm lại “vùng đất thép” này.
Năm 1973, sau gần 10 năm chiến đấu bên nước bạn Lào, ông Hà được điều động về tham gia chiến dịch đánh vào Buôn Mê Thuột, Sài Gòn… Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, ông lại được điều về Nghệ An làm công tác huấn luyện. Đến tháng 8-1975, đơn vị C23 chính thức giải thể, ông nhận quyết định phục viên, trở về xây dựng quê hương.

Và hành trình 30 năm đi chứng minh mình là … bộ đội

Trên chuyến xe “định mệnh” trở về với mảnh đất Cẩm Thủy này, ông Hà bị mất cắp, trong đó có toàn bộ tư trang, giấy tờ. Không được công nhận quân nhân phục viên, ông không được hưởng bất cứ một chế độ gì. Nỗi đau vì thương tật bởi viên đạn chưa được lấy ra dày vò ông, nhưng nó cũng không lớn bằng nỗi đau không được thừa nhận. Bao năm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, sống trong cái lằn ranh mong manh sống và chết, vậy mà giờ đây, ông phải nhận những ánh mắt nhìn thương hại của mọi người khi thấy ông nói mình là bộ đội. Mà lại là bộ đội đặc công!

Gia cảnh nhà ông vốn đã nghèo lại càng nghèo, người vợ tảo tần, làm lụng vất vả lo mấy miệng ăn. Giờ lại phải còng lưng gánh thêm ông, và cũng gánh luôn cả cái mảnh đạn găm trong đầu chồng. Thỉnh thoảng trở trời, ông lên cơn co giật, có khi ốm nằm liệt giường cả tháng. Bà con lối xóm thương tình, thỉnh thoảng qua thăm hỏi, cho ông dăm củ sắn, của khoai. Đã vậy, mỗi khi đặt mình nằm xuống, lời đồng đội trăn trối khi hấp hối “nếu sống sót, nhớ đưa mình về quê nhé” cứ ám ảnh ông trong những cơn mộng mị.

Ông Hà tự nhủ, bằng giá nào cũng phải tìm cách thực hiện lời hứa, bởi đó vừa là trách nhiệm, vừa là nghĩa tình với đồng đội cùng vào sinh ra tử. Và cũng để tự cứu mình. Từ đó, ông lần giở trí nhớ, vẽ lại toàn bộ sơ đồ trận địa năm xưa, từng vị trí chôn cất được ông đánh dấu tỉ mỉ. Nhờ trí nhớ siêu việt của người lính đặc công C23, tấm bản đồ ông vẽ sau này khi đem ra so sánh với bản đồ quân sự thì gần như trùng khớp.

Năm 2003, ông Hà gửi tấm bản đồ đó cho Tỉnh đội Thanh Hóa. Sau khi nghe ông kể vanh vách về những trận đánh và vị trí chôn cất đồng đội năm xưa, Tỉnh đội Thanh Hóa đã cử Đội quy tập mộ liệt sĩ phối hợp với ông để tìm hài cốt bên nước bạn Lào, công việc mà sau 6 lần họ tìm kiếm trước đây không có kết quả. Nhờ vào tấm bản đồ đó, trong năm 2004, đã có gần 130 bộ hài cốt liệt sĩ được tìm thấy mang về an táng tại nghĩa trang Hàm Rồng. Đích thân Trung tướng Lê Hân biểu dương ông như một tấm gương sáng thời bình. Hàng trăm gia đình gửi thư cảm ơn, nhờ tấm bản đồ ông vẽ đã giúp họ tìm được hài cốt thân nhân của mình. Đặc biệt, năm 2008, ông Đinh Công Thắng, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam, đã về tận Cẩm Thủy để cảm ơn ông Hà đã giúp tìm hài cốt anh trai mình là liệt sĩ Đinh Công Trưởng.

Và bây giờ, gần 30 năm sau chiến tranh, ông mới được công nhận quân nhân phục viên, công nhận là bộ đội, cộng thêm phần thưởng một chiếc ti vi, một quạt điện. Ông được đưa đi giám định thương tật ở Quân khu 4, với tỉ lệ thương tật 38%, hưởng trợ cấp thương binh ¼. Tuy số tiền không đủ để trang trải thuốc men, nhưng ông cũng cảm thấy yên lòng. Bởi với ông, cái chuyện có được đi giám định tiếp thương tật ở não, để hưởng mức trợ cấp cao hơn cũng không quan trọng, cái chính là ông đã tìm lại được “thân phận” của mình. Chỉ duy nhất một điều ông mong muốn, một dịp nào đó được đi thăm lại chiến trường Pha Thí năm xưa, vừa để tìm nốt những di hài đồng đội còn lại. Bởi, ông vẫn đau đáu một điều, với hơn 340 bộ hài cốt tìm thấy trong mấy năm qua, có lẽ vẫn còn sót ai đó!?
Thành Dương
congly.com.vn

trận đánh của đặc công trên đỉnh Pa Thí của Lào triệt hạ trung tâm radar...

VietTimes -- Dựa vào các tài liệu giải mật của Lầu Năm Góc, tác giả Sébastien Roblin một nhà nghiên cứu thuộc đại học Georgetown đã viết về trận đánh của đặc công trên đỉnh Pa Thí của Lào triệt hạ trung tâm radar, làm suy yếu chiến lược không kích của Mỹ tại Việt Nam và Lào, National Interest thuật lại.

50 năm trước vào 12.3.1968, một căn cứ quân sự siêu bí mật trên một đỉnh núi tại Lào đã bị một nhóm đặc công tinh nhuệ của Việt Nam diệt gọn. Chỉ có 6 trong 18 nhân viên CIA và phi công có vị trí ở một tiền đồn phía xa là sống sót trong sự kiện được giấu nhẹm trong suốt 3 thập kỷ.
 
Đó là bởi vì quân đội Mỹ đã hoạt động trái phép trên đất Lào. Đất nước này đã bị tàn phá trong cuộc nội chiến giữa những người cực hữu theo chủ nghĩa bảo hoàng với đảng Pathet Lào được Việt Nam ủng hộ. Khi đó, Việt Nam cũng chi viện và hành quân vào miền Nam thông qua đường mòn Hồ Chí Minh (có một phần đi qua lãnh thổ nước Lào). Năm 1962, Washington, Hà Nội và các đảng phái Lào đã ký kết một hiệp định hòa bình trong đó các lực lượng quân sự nước ngoài nhất trí rút quân ra khỏi lãnh thổ nước Lào.
Đỉnh Pa Thí tại Lào.Đỉnh Pa Thí tại Lào.
Nhưng tại Lào, Mỹ tiếp tục tăng viện trợ quân sự cho phe bảo hoàng và thực tế bắt đầu thực hiện một chiến dịch đánh bom bí mật trên diện rộng được gọi là Chiến dịch không kích Ống xoắn. Các máy bay tại miền Nam Việt Nam và Thái Lan bay tới Lào để thưục hiện nhiệm vụ. Đồng thời các nhà thầu quân sự tư nhân của CIA và những "công ty hàng không" như Air America có các chuyến bay theo dõi và vận chuyển từ các căn cứ tại Lào.
CIA cũng tuyển mộ những người dân tộc địa phương để đánh du kích bộ đội Pathet Lào. CIA cũng thiết lập một căn cứ trên vách đá dốc đứng của núi Pa Thí - một đỉnh núi thiêng của người Mông tạo ra một vị trí chiến lược gần biên giới Việt Nam. Căn cứ này là một trong nhiều căn cứ được đặt mã hiệu là "Lima" tại Lào để tạo điều kiện cho những cuộc không vận cho các lực lượng đồng minh của Mỹ. Cơ sở chính được đặt trên độ cao 1.700m được bao quanh bởi các vách đá. Có một con đường dốc xuống tới một bãi đáp dài 700m được sử dụng để luân chuyển nhân viên và cung cấp hậu cần với những chuyến bay hàng tuần bằng máy bay trực thăng CH-3 của phi đội trực thăng số 20 thuộc không lực Mỹ. 
Chi tiết căn cứ Lima 85.Chi tiết căn cứ Lima 85.
Hè năm 1966, không quân Mỹ quyết định trang bị cho căn cứ hệ thống radar chiến thuật TACAN bằng cách triển khai hệ thống phát điện và một bộ thu phát tín hiệu. Thời tiền GPS, TACAN giúp cho các máy bay dò tìm mục tiêu, đặc biệt là bay trong điều kiện có tầm quan sát hạn chế hay bay đêm (hệ thống theo dõi bằng sóng radio đầu tiên là Knickebein được phát triển bởi phát xít Đức với mục đích nâng cao độ chính xác những cuộc đánh bom đêm tại Anh). Vào năm 1967, hệ thống này được nâng cấp với ăngten TSQ-81 và hệ thống đánh bom từ xa cho phép căn cứ điều khiển các cuộc đánh bom từ xa của Mỹ.
Hà Nội chỉ cách căn cứ Lima 85 khoảng 217km về phía đông bắc vì thế căn cứ bí mật này có thể điều khiển chính xác các cuộc đánh bom vào thủ đô Việt Nam. Những cuộc tấn công có thể bằng bất cứ loại máy bay nào từ những chiếc F-105 tới B-52 nên căn cứ này là một địa điểm chết chóc. Chỉ trong 6 tháng, Lima 85 đã chỉ huy khoảng từ 25 tới 55% các cuộc tấn công vào những mục tiêu tại miền bắc Việt Nam và Lào.
Vì thái tử Lào Souvana từ chối cho Mỹ hiện diện quân sự tại Lào nên các binh sĩ thuộc không lực Mỹ trước khi được triển khai tới Lima phải ký đơn tạm thời giải ngũ khỏi quân đội Mỹ, một trò khôi hài được đặt tên là "tắm cho cừu". Những nhân viên kỹ thuật này được coi như là không có vũ khí dù họ được trang bị đầy đủ những loại vũ khí nhỏ. Nhưng an ninh của căn cứ được bảo đảm bởi một tiểu đoàn quân người địa phương do CIA chỉ đạo và lực lượng quân cảnh biên giới Thái Lan triển khai xung quanh căn cứ trên núi.
Máy bay trực thăng Bell đối đầu máy bay 2 tầng cánh Antonov-2.Máy bay trực thăng Bell đối đầu máy bay 2 tầng cánh Antonov-2.
Căn cứ Lima 85 được giữ bí mật với công chúng Mỹ nhưng sự hiện diện và mục đích của nó không phải là bí mật với bộ đội Pathet Lào và Việt Nam. Những trinh sát đã thăm dò khả năng phòng thủ của căn cứ vào tháng 12.1967. Vào ngày 12.1.1968, phía Mỹ thông tin rằng Việt Nam điều 4 chiếc máy bay vận chuyển 2 tầng cánh Antonov-2 tấn công Lima 85 bằng súng 57mm và súng cối 120mm về phía cửa phụ tiêu diệt 4 lính địch. Một chiếc trực thăng Mỹ UH-1 được tung ra để ngăn chặn những chiếc máy bay vận chuyển vốn bay rất chậm...
Sau đó, căn cứ bị bắn bằng pháo cao xạ vào ngày 30.1. Tiếp theo đó vào 18.2, một nhóm 18 lính địa phương đã mai phục một tốp trinh sát pháo binh đối phương gần ngọn núi và tìm thấy kế hoạch tấn công căn cứ. Những lãnh đạo quân đội Mỹ biết căn cứ đã bị bao vây bởi một lực lượng mạnh hơn và sẽ bị tấn công nhưng sự hỗ trợ của hệ thống radar TACAN có giá trị đến mức ông đại sứ William Sullivan từ chối di tản căn cứ. Không thể triển khai việc phòng thủ thích hợp, những nhân viên kỹ thuật tại đây bắt đầu triển khai hàng trăm cuộc không kích vào những nhóm quân sự gần đó để bảo vệ vị trí của họ. 
Đặc công Việt Nam thời hiện đại đang tập luyện.Đặc công Việt Nam thời hiện đại đang tập luyện.
Ngày 22.1, những lính đặc công tinh nhuệ thuộc tiểu đoàn đặc công 41 của Việt Nam đã trèo lên những vách đá dựng đứng tưởng như không thể vượt qua tại phía bắc của đỉnh Pa Thí mà không bị phát hiện và phát hiện ra những con đường thâm nhập dễ dàng nhất. Vào đầu tháng 3, trung đội 33 người dưới sự chỉ huy của trung úy Trương Mực đã tập hợp gần ngọn núi cùng với 9 công binh. Nhóm đặc công được trang bị AK-74, súng cạcbin SKS, thuốc nổ, lựu đạn cầm tay và 3 khẩu súng phóng lựu.
Ngày 11.3, vào lúc 6h tối một đợt pháo kích đã giúp dọn mìn và đảm bảo an toàn cho những tuyến thâm nhập của đặc công Việt Nam vào Lima 85. Vài giờ sau, bộ đội thuộc trung đoàn 766 và Pathet Lào tấn công vào quân địch ở thung lũng xung quanh núi. Cuối cùng gần 9h tối, trung đội của trung úy Trương Mực đã trèo lên vách đá, chia làm 5 nhóm khác nhau để tấn công theo nhiều hướng. 
Nhóm 1 và 2 tập trung tại trung tâm chỉ huy, nhóm 3 và 4 sẽ chiếm các thiết bị của TACAN và khu vực hạ cánh, nhóm 5 dự bị sẵn sàng. Các nhân viên căn cứ đã thông tin về vụ pháo kích nhưng đại sứ Sullivan quyết định không di tản trừ phi cuộc tấn công trở nên quá mạnh. Chỉ tới 8h sáng hôm sau ông mới điều trực thăng và hỗ trợ không quân để giúp các nhân viên tại căn cứ thoát ra.

Cuộc tấn công kéo dài. Bộ đội đặc công theo chỉ huy của trung úy Trương Mực đã thâm nhập vào 3h sáng hôm đó và hạ các lính ở vị trí canh gác và phá hệ thống TSQ-81 cùng máy phát điện bằng súng phóng lựu. Khi chỉ huy căn cứ thiếu tá Clarence Barton và nhiều nhân vân kỹ thuật của không lực Mỹ xô ra để xem xét tình huống, họ đã bị đặc công Việt Nam hạ gục.
Tới 4h sáng, 3 nhóm đặc công đã chiếm được tất cả các mục tiêu. Trung úy Trương Mực đã ra lệnh lấy một số thiết bị và quăng chúng qua vách đá. Chỉ có nhóm 4 bị buộc phải từ bỏ mục tiêu do không thể đánh bật 2 nhóm trung đội và một đội pháo binh được triển khai tại khu vực hạ cánh. Những lính Mỹ đã trốn tới rìa bên kia vách đá nơi họ bị mai phục bằng lựu đạn và những vũ khí hạng nhẹ. Lính Mỹ đánh trả bằng súng trường đồng thời cố gắng gọi hỗ trợ không kích vào vị trí phía trên nơi họ trốn.
Máy bay chiến đấu A-1 Skyraider.Máy bay chiến đấu A-1 Skyraider.
Cuối cùng vào lúc bình minh, những chiếc trực thăng được bảo vệ bởi máy bay chiến đấu A-1 Skyraider đã đột kích vào ngọn núi. Quân Mỹ được chỉ huy bởi 2 nhân viên CIA và hỗ trợ của máy bay chiến đấu đã tấn công dữ dội hòng đánh bật nhóm đặc công ra khỏi khu vực đặt radar TACAN. Mặc dù, nhóm đặc công vẫn chiếm giữ được khu vực nhưng các tiếng ồn đã gây xao nhãng khiến 5 nhân viên không lực và 2 điệp viên CIA đào thoát. Lực lượng đặc công đã nắm quyền kiểm soát Pa Thí và sau đó một nhóm quân người Lào tấn công hòng chiếm lại căn cứ.
Cuộc tập kích của đặc công Việt Nam dưới sự chỉ huy của trung úy Trương Mực vào Lima 85 đã làm suy yếu chiến lược không kích của Mỹ vào Việt Nam và Lào. Theo nhiều nguồn tin, trung đội đặc công chỉ mất 1 lính và đã tiêu diệt được ít nhất là 42 lính Thái, lính địa phương và khoảng 1 tá lính Mỹ. Nhưng cuộc chiến được giữ kín trong nhiều năm do sự cần thiết phải giữ bí mật về đường mòn Hồ Chí Minh và Mỹ lại cần đánh bom con đường trên đất Lào một cách bí mật.
Thượng sĩ Richard Etchberger.Thượng sĩ Richard Etchberger có mặt tại Pa Thí.
Cuộc chiến leo thang vào thời chính quyền tổng thống Nixon và đã lộ ra khi Lầu Năm Góc giải mật các giấy tờ. Tính trung bình Mỹ đã ném xuống đầu mỗi người Lào 1 tấn bom, cho tới khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975.
Mãi tới 33 năm sau, người Mỹ mới chính thức biết tới cuộc chiến tại căn cứ bí mật. Đầu những năm 2000, những cựu binh Việt Nam cũng giúp quân đội Mỹ tìm lại hài cốt của những người lính Mỹ đã tử thương trên vách núi.
Nhắc lại cuộc chiến tại Lima 85 sẽ không giúp chữa lành vết thương quá khứ nhưng nó giúp tổng kết những sai lầm và đưa ra bài học kinh nghiệm để tránh lặp lại chúng trong tương lai. 

#ComCom | Đặc công Việt Nam phá hủy đài radar pháo binh 10 triệu đô của TQ


Radar Cymbeline được đưa vào biên chế trang bị của quân đội Anh và Liên bang Đức từ những năm 70 của thế kỷ 20, dựa trên quỹ đạn bay của đầu đạn, có khả năng xác định toạ độ của đạn cối trong cự ly 10km, đạn pháo 120mm trong phạm vi 14km, đồng thời có thể theo dõi 20 mục tiêu.
Bộ trưởng quốc phòng Mỹ khi đó là Casper Weinberger đã trao đổi với phía TQ rằng, loại rada này được rút ra từ trang bị hiện có của quân đội Mỹ, có tính năng ưu việt, và do đó có giá thành khá cao, khoảng trên 10 triệu USD một hệ thống.

Hoạt động của radar này đòi hỏi phía TQ phải cung cấp cho phía Mỹ các thông số bản đồ quân sự khu vực tác chiến để nhập vào chương trình của hệ thống. Phía TQ sau khi cân nhắc, đã quyết định cung cấp cho phía Mỹ thông số mật về hệ thống toạ độ khu vực biên giới TQ- VN bao gồm khu vực bố trí sau này thuộc tỉnh Vân Nam và khu vực liên quan trên lãnh thổ VN.

Thời điểm diễn ra trận đánh theo tư liệu phía TQ vẫn còn nhiều mâu thuẫn, có tài liệu nói rằng đó là vào thời điểm ngày 10.6.1984, lực lượng đặc công VN, biên chế 01 tiểu đội, thuộc trung đội 7, tiểu đoàn 406, trung đoàn 821 trực thuộc Bộ tư lệnh đặc công, (tài liệu khác lại cho rằng lực lượng tham gia thuộc trung đoàn 198 đặc công). Vạch kế hoạch cho hoạt động xâm nhập lần này là Phó Trung đoàn trưởng thiếu tá Trần Minh Hưng (sau được phong trung tá, Trung đoàn trưởng). Hoạt động của tiểu đội đặc công diễn ra cùng với thời điểm trấn tiến công của trung đoàn 14 (sư 313) vào điểm cao 662,6. Lực lượng xâm nhập lợi dụng khu vực tiếp giáp giữa đội hình phòng ngự của Sư 40 và trung đoàn 15 biên phòng TQ, đã tấn công vô hiệu hoá trận địa radar, trận địa cối 160 và ban chỉ huy trung đội 9 thuộc trung đoàn 122 bố trí tại Ba Tiêu Bình (Đông Sơn, Bát Lý Hà) phía cánh trái Lão Sơn (tên VN là Núi Đất?). Trận tập kích diễn ra trong khoảng 10 phút.

Tài liệu thứ 2 cho rằng: lúc 23 ngày 04.7.1984, một tiểu đội thuộc trung đội 7, tiểu đoàn 406, đoàn đặc công 821 VN, xâm nhập vào đất TQ qua khu vực gần điểm cao 1134, ngày 05 đã đến địa điểm tập kết là hang núi Bạch Thạch (sau trận tập kích, khi điều tra đã lính TQ đã tìm thấy điểm tập kết này), tiểu đội đã trụ lại thực hiện quan sát trong một ngày đêm. Khoảng 0h30 ngày 06.4, tiểu đội để lại một tổ trụ lại cảnh giới, tiếp ứng, số còn lại chia làm 4 mũi tiếp cận mục tiêu; hướng tiến công thứ nhất: tập kích vào trận địa cối 160, và trận địa của tiểu đội 3, thuộc trung đội 9, trung đoàn 122, sư 41; trên hướng thứ hai: từ cánh trái tập kích vào trận địa rada. Lúc 02h30, hiệp đồng cùng nổ súng, lúc 02h40 trận chiến kết thúc. Phía TQ: chết 10, bị thương 49; phía VN: hy sinh 1, bị thương 10 (?).

Đặc công VN sau đó rút lui theo đường cũ. Kết quả điều tra sau này của phía TQ cho thấy, lính TQ hoàn toàn bị động trước đòn tấn công, một phát hiện nữa là trong đêm hôm đó, 1 lính TQ sau khi hết ca gác đã gọi người gác ca sau, người này ậm ừ nhưng lại không dậy gác tiếp, bị trí gác bỏ trống…
TQ cho rằng trong trận tập kích này lực lượng đặc công VN sử dụng vũ khí là lựu đạn, mìn định hướng, tên lửa cá nhân, các trận địa quân TQ gần đó cứ ngỡ rằng tiếng nổ ban đêm là do pháo VN tập kích…Bình luận về trận chiến, phía TQ nhận xét: “Trận tập kích này, từ hoạt động chuẩn bị chiến đấu, chiến thuật vận dụng cho tới sử dụng vũ khí, đáng được gọi là tác phẩm kinh điển về nghệ thuật tập kích, gây thiệt hại nặng cho đối phương, đồng thời đã che giấu được ý đồ tác chiến, đến sáng ngày mồng 6, binh lính ở trận địa bên cạnh vẫn cho là bị VN bắn pháo trong đêm”

Sau trận tập kích, phía TQ ráo riết tìm cách xác định lực lượng tấn công, từ kết quả chặn thu liên lạc vô tuyến điện của VN, TQ đưa ra kết luận vụ tập kích diễn ra khá tình cờ, minh chứng là trên liên lạc vô tuyến điện phía VN báo cáo lên cấp trên đã phá huỷ một trạm thông tin liên lạc của quân TQ, không biết là đã phá huỷ 1 hệ thống radar hiện đại bậc nhất lúc bấy giờ.

Một số phản ứng của TQ sau trận tập kích:
Sau khi hệ thống rada này bị phá huỷ, với mức độ nghiêm trọng của sự vụ, chỉ huy mặt trận đã phải trực tiếp báo cáo lên Đặng Tiểu Bình (Chủ tịch Quân uỷ Trung ương). Kinh ngạc trước khả năng xâm nhập tác chiến của đặc công Việt Nam, Bình "lùn" đã nhấn mạnh với viên chỉ huy mặt trận: Đặc công VN ghê gớm vậy sao ? Vậy đặc công của ta thì sao ? Đặc công của ta thì làm gì?
Phòng tác chiến Bộ tổng tham mưu ngay trong đêm đã phải bàn bạc, vạch kế hoạch tổ chức lực lượng trinh sát đối phó với đặc công VN.

Một số thay đổi sau đó là:
(1) Rada chỉ thị pháo dự bị được đưa vào thay thế;
(2) Bắt đầu từ tháng 7.1984, TQ chọn lựa lực lượng tinh nhuệ từ quân khu Vũ Hán (sau sát nhập vào quân khu Quảng Châu), quân khu Quảng Châu, QK Thành Đô, QK Tế Nam, lực lượng lính đổ bộ đường không, QK Tân Cương, QK Lan Châu, ĐQK Bắc Kinh, QK Thẩm Dương để thành lập 5 đợt bao gồm tổng cộng 15 đại đội trinh sát cấp trung đoàn đưa lên biên giới Trung- Việt hoạt động, hoạt động của lực lượng này diễn ra liên tục trong 5 năm sau đó. Lực lượng ban đầu tổng số khoảng trên 1000 lính. Trong số này có Tham mưu trưởng đại đội trinh sát thuộc Quân đoàn 54, sau này được phong Trung đoàn trưởng Trung đoàn 483, được cho là có rất nhiều thành tích trên chiến trường VN.
Nguồn: Diễn đàn dựng nước giữ nước VMH
-Lt-