2 tháng 8, 2020

Kết quả cuộc chiến Mông Cổ - Đại Việt 1257-1258: bên nào thắng???

Kết quả cuộc chiến Mông Cổ - Đại Việt 1257-1258: bên nào thắng???
 
Gần đây có ý kiến (với những lý lẽ hơi buồn cười) cho rằng trong cuộc chiến lần 1 với Mông Cổ, phía Đại Việt là bên thua cuộc. Tuy nhiên, dù sao thì đây cũng là một chủ đề rất hay. Và để làm rõ việc bên nào thắng bên nào thua thì ta cần phải xem lại diễn biến của cuộc chiến trong các sử liệu mà ta hiện có được.
Đại Việt sử ký toàn thư: "Mùa thu, tháng 8, chủ trại Quy Hóa là Hà Khuất sai chạy trạm tâu [vua] là có sứ Nguyên sang. Tháng 9, xuống chiếu, lệnh tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới, theo sự tiết chế của Quốc Tuấn. Mùa đông, tháng 11, lệnh truyền cả nước sắm sửa vũ khí.
Tháng 12, ngày 12, tướng Nguyên Ngột Lương Hợp Thai xâm phạm Bình Lệ Nguyên. Vua thân hành đốc chiến, xông pha tên đạn. Quan quân hơi núng, vua ngoảnh trông tả hữu, chỉ có Lê Phụ Trần (tức Lê Tần) một mình một ngựa, ra vào trận giặc, sắc mặt bình thản như không. Lúc ấy, có người khuyên vua dừng lại để chỉ huy chiến đấu. Phụ Trần cố sức can vua:
"Nay thì bệ hạ chỉ đánh một ván dốc túi thôi! Hãy nên tạm lánh chúng, sao lại có thể dễ dàng tin lời người ta thế!".
Bấy giờ, vua mới lui quân đóng ở sông Lô. Phụ Trần giữ phía sau. Quân giặc bắn loạn xạ, Phụ Trrần lấy ván thuyền che cho vua khỏi trúng tên giặc. Thế giặc rất mạnh, [vua] lại phải lui giữ sông Thiên Mạc. Phụ Trần theo vua bàn những việc cơ mật, rất ít người biết được đều đó. Vua ngự thuyền nhỏ đến thuyền Thái úy Nhật Hiệu hỏi kế sách (chống giặc). Nhật Hiệu đương dựa mạn thuyền, cứ ngồi chứ không đứng dậy nổi, chỉ lấy ngón tay chấm nước viết hai chỉ "nhập Tống" lên mạn thuyền. Vua hỏi quân Tinh Cương ở đâu? (Tinh Cương là quân do Nhật Hiệu chỉ huy). Nhật Hiệu trả lời:
"Không gọi được chúng đến"
Vua lập tức dời thuyền đến hỏi Thái sư Trần Thủ Độ, Thủ Độ trả lời:
"Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác"...
Ngày 24, vua và Thái Tử ngự lâu thuyền, tiến quân đến Đông Bộ Đầu, đón đánh, cả phá được quân giặc. Quân Nguyên chạy trốn về, đến trại Quy Hóa, chủ trại là Hà Bổng chiêu tập người Man ra tập kích, lại cả phá bọn chúng."
Một đoạn khác trong Toàn thư: "Khi vua thân hành thống lĩnh sáu quân đi chống giặc, quan giữ ấn vội vàng giấu ấn báu lên rường điện Đại Minh, chỉ đem ấn nội mật đi theo. Giữa đường, ấn ấy lại mất. Giấy tờ trong quân không có ấn. Vua sai thợ khắc gỗ làm ấn. Đến khi xa giá về kinh, lại có người đem dâng con ấn bị mất, ấn báu giấu đi vẫn còn nguyên ở chổ cũ."
Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng chép tương tự như Toàn thư.
Nguyên sử, An Nam truyện: "Nguyên Hiến Tông (tức Mông Kha) năm thứ 3, Quý Sửu (1253), Ngột Lương Hợp Thai theo Thế Tổ (tức Hốt Tất Liệt) bình định nước Đại Lý. Thế Tổ quay về, lưu Ngột Lương Hợp Thai lại để đi đánh các tộc Di chưa thần phục. 
 
Năm thứ 7, Đinh Tỵ (1257), quân Ngột Lương Hợp Thai tiến đến phía Bắc Giao Chỉ, trước tiên sai sứ giả hai người đến dụ, không thấy quay về, bèn sai bọn Triệt Triệt Đô, mỗi người chỉ huy một nghìn quân chia đường tiến binh. Đến bờ sông Thao phía bắc kinh thành An Nam, lại sai con là A Truật đi chi viện, rồi xem An Nam thực hư ra sao. Người Giao cũng dàn quân đông đúc phòng vệ, A Truật sai người quay về báo tin. Ngột Lương Hợp Thai chia quân làm hai đạo cùng tiến, lệnh Triệt Triệt Đô làm tiên phong, A Truật ở phía sau làm hậu quân. 
 
Tháng 12, hai quân hội hợp, người Giao kinh hãi. A Truật thừa cơ đánh bại thủy quân người Giao, bắt được thuyền chiến rồi về. Ngột Lương Hợp Thai cũng phá được quân bộ, cùng A Truật phối hợp đánh, địch đại bại, rồi tiến vào kinh thành chúng. Nhật Cảnh (tức Trần Thái Tông) chạy trốn ra hải đảo. Trong ngục tìm thấy hai sứ giả đã sai đi từ trước, đều bị trói bởi dây thừng tre, hằn sâu vào da thịt, lúc cởi trói thì một người đã chết. Vì vậy nên giết sạch dân trong thành. Quân Nguyên lưu lại ở đó 9 ngày, vì khí hậu uất nghiệt nên đem quân về. Lại sai hai sứ giả đến dụ cho quy hàng. Nhật Cảnh quay về, thấy quốc đô đều đã bị hủy hoại, rất căm phẫn, bắt trói hai sứ giả đuổi về."
Nguyên sử, Ngột Lương Hợp Thai truyện: "Mùa thu tháng 9, sai sứ giả chiếu hàng Giao Chỉ, không thấy báo lại. Mùa đông tháng 10, tiến binh đến sát biên cảnh. Quốc vương Trần Nhật Cảnh bày trận bên kia sông, quân tượng, kỵ, bộ rất đông. Ngột Lương Hợp Thai phân binh làm ba đội vượt sông, Triệt Triệt Đô theo hạ lưu sang sông trước, đại súy (tức Ngột Lương Hợp Thai) đi giữa, phò mã Hoài đô và A Truật ở phía sau, còn bày kế lược cho Triệt Triệt Đô rằng: "Quân nhà ngươi sang sông rồi, chớ đánh chúng vội, chúng tất đến chống lại ta, phò mã theo sau cắt hậu quân của chúng, ngươi rình cướp lấy thuyền, quân Man nếu tan vỡ chạy ra sông mà không có thuyền tất đều bị ta bắt." Quân vừa lên bờ, lập tức xông vào giáp chiến, Triệt Triệt Đô trái mệnh, quân Man tuy đại bại, nhưng lại leo lên thuyền trốn mất. Ngột Lương Hợp Thai giận nói: "Quân tiên phong không nghe theo sự sắp xếp của ta, ngươi chắc chắn phải chịu hình pháp." Triệt Triệt Đô sợ, uống thuốc độc tự tử. Ngột Lương Hợp Thai tiến vào Giao Chỉ, định trú lại lâu dài, quân lệnh nghiêm túc, không hề xâm phạm dân chúng. Quá 7 ngày, Nhật Cảnh xin nội phụ, vậy nên đặt tiệc rượu đại khao quân sĩ, đem quân quay về thành Áp Xích."
 
An Nam chí lược, quyển 4, Chinh thảo vận hướng: "Đời Hiến Tông Hoàng Đế, năm Canh Thân (1260), Thế Tổ lên ngôi, bàn bạc việc đánh Vân Nam, lưu Thái soái là Ngột Lương Hiệp Giải lại đặng kinh lược. Mùa đông năm Đinh Tỵ (1257), lệnh Thái soái xuất quân từ đường Vân Nam qua đến biên giới An Nam, muốn ra Ung Châu và Quế Châu , họp đại binh tại Ngạc Châu để đánh nhà Tống. Tháng 12, đại quân đóng tại Nỗ Nguyên, vua Trần sai quân lính cưỡi voi ra nghênh chiến. Lúc ấy có người con Thái soái tên A Truật, mới 18 tuổi, suất lính bắn giỏi ra bắn voi, voi kinh hoảng bỏ chạy, quay lại chà đạp quân lính, khiến cho quân Trần tan rã. Đến sáng ngày mai, vua Trần cắt đứt cầu Phù Lỗ, rồi thiết trận tại một bên bờ sông. Quân Nguyên muốn lội qua sông, nhưng không biết sâu cạn, mới đi dọc theo bờ sông mà bắn tên lên trời, tên rơi cắm xuống nước mà không nổi lên, biết là chỗ ấy cạn, bèn sai kỵ binh qua sông, ngựa nhạy lên đất, đánh tan rã cánh quân An Nam, tiếp đó, đại quân giết hàng muôn người, chém tôn tử An Nam là Phú Lương Hầu, vua Trần bèn chịu hàng, rồi quan quân lui về."
Rashid al-Din, Hốt Tất Liệt Truyện: "[...] Trước đó (năm 1259), Mông Kha đã phái một đội quân gồm 3 tumen vòng qua phía bên kia của Nam Tống, chỉ huy bởi Ngột Lương Hợp Thai, con trai của Tốc Bất Đài, cùng với y là Abishqa, cháu của Chagatai và 50 vương hầu, [...] đường xá khó khăn, thành trì khó lấy, chúng phải liên tục giao chiến [...] khí hậu không ổn [...] mất (hoặc chỉ còn lại) 5000 quân."
Xem xét các nguồn sử liệu trên, ta được rằng chắc chắn quân đội nhà Trần đã thua 2 trận đầu tiên và phải bỏ kinh thành Thăng Long, quân Mông Cổ chiếm được Thăng Long được khoảng 9 ngày thì phải rút. Tuy nhiên, lý do rút lui của chúng lại không thống nhất. Tổng hợp lại, có thể có 4 lý do như sau:
1. Quân Mông Cổ hết lương: có ý kiến cho rằng quân Mông Cổ không mang theo nhiều lương thực, lại gặp phải cảnh "vườn không nhà trống" nên bị đói ăn, phải rút về.
2. Khí hậu nóng bức: Nguyên sử, An Nam truyện ghi là quân Mông rút do khí hậu uất nghiệt.
3. Quân Mông Cổ đã đạt được mục đích: theo Nguyên sử, Ngột Lương Hợp Thai truyện và An Nam chí lược thì phía nhà Trần đã đầu hàng, xin nội phụ Mông Cổ. Như vậy thì Ngột Lương Hợp Thai có lý do rất hợp lý để tuyên bố chiến thắng và rút quân về.
4. Thất bại về quân sự: Các nguồn sử liệu của ta cho rằng ta đã đánh bại đối phương, buộc chúng phải rút lui.
 
Chúng ta hãy xem xét lại từng ý kiến một để đưa ra được lý do hợp lý nhất
Lý do 1 rõ ràng không hợp lý, bởi từ lúc giao chiến cho đến lúc rút quân là chưa đầy 2 tuần, quá ngắn để có thể dẫn đến việc quân Mông hết lương và rút quân. Chưa kể, thành Thăng Long sơ tán vội vã nên không thể di chuyển được hết người và lương thực đi, Nguyên sử đã xác nhận điều này.
Lý do số 2 cũng không đáng tin bởi thời gian là khoảng tháng 1 dương lịch, ở Bắc Bộ đang là mùa đông. Với một đội quân từng chinh chiến khắp thế giới thì việc không chịu nổi "mùa đông không lạnh" quả là hơi buôn cười.
 
Lý do số 3, ta phải xem mục đích chính mà Ngột Lương Hợp Thai sang lần này là gì. Toàn thư cho rằng quân Mông Cổ chỉ muốn cướp bóc chứ không đánh chiếm. Nguyên sử ghi rằng Thai muốn ở lại lâu dài, An Nam chí lược thì lại ghi là Thai muốn từ nước ta đánh ngược lên Ung Châu của Tống. Việc Triệt Triệt Đô phải tự sát vì làm lỡ kế hoạch tác chiến chứng tỏ ắt hẳn lần này Ngột Lương Hợp Thai đặt kỳ vọng rất lớn vào việc bắt sống vua Trần Thái Tông để kết thúc sớm chiến tranh. Thêm nữa Nguyên sử lại chép mâu thuẫn khi có đoạn thì ghi nhà Trần xin nội phụ, đoạn khác lại ghi Trần Thái Tông trói sử giả để trả đũa việc tàn phá thành Thăng Long. Vậy thì e rằng mục tiêu của ông ta không chỉ là cướp bóc mà phải lớn hơn và rõ ràng là mục tiêu ấy rõ ràng là không đạt được.
Thất bại về quân sự: các tài liệu của ta và Nguyên đều thống nhất rằng nhà Trần vẫn còn lực lượng sau trận Bình Lệ Nguyên (dù tổn thất nặng). Toàn thư ghi rõ là quân Trần rút về sông Thiên Mạc, cách Thăng Long khoảng 50km để tập hợp lực lượng. Sử liệu phía Nguyên không ghi chép gì về 2 trận Đông Bộ Đầu và Quy Hóa nhưng sử gia Rashid al-Din đã có một ghi chép quan trọng: quân Mông Cổ đã mất 5000 lính chết. 
 
Số chết này là vì nhiều lý do không hợp khí hậu và chết trận và bao gồm cả số chết trên đường từ Vân Nam về hội quân với Hốt Tất Liệt (không có giao chiến). Theo phân tích về lý do 2 thì số chết vì không hợp thủy thổ hẳn là ít, đại đa số là chết trận. Nên nhớ là quân Mông Cổ sang lần này rất tinh nhuệ, việc mất 5000, tức gần 1 tumen quân tinh nhuệ là tổn thất lớn. Điều này chứng tổ nhà Trần đã thực sự thắng trận hoặc ít nhất là đã gây đủ thiệt hại cho đối phương để buộc chúng rút lui. Theo tôi, đây là lý do hợp lý hơn cả!
 
Và cuối cùng, điều quan trọng nhất là quân dân Đại Việt đã đánh đuổi được quân xâm lược, bảo vệ được nên độc lập của mình. Chúng tả hoàn toàn có đủ lý do chính đáng để tuyên bố chiến thắng trong cuộc chiến lần này!
Bài viết có sử dụng bản dịch Nguyên sử của bạn Cuong Vu, cảm ơn bạn đã chia sẻ!
Ảnh: bản đồ trận Bình Lệ Nguyên lấy từ sách Tống Nguyên Chiến Sử (宋元戰史), quyển 4 Phụ Đồ, của nhà sử học người Quảng Đông, nay cư trú ở Đài Loan, Lý Thiên Minh (李天鳴). Quân số nhà Trần có lẽ bị phóng đại rất nhiều 🐧

28 tháng 7, 2020

Mũ pillbox - niềm vui, nỗi buồn của Jackie Kennedy

Chiếc mũ pillbox của Jackie biến mất ngay sau ngày chồng bà - tổng thống Mỹ John F. Kennedy - bị ám sát.

28/7 là kỷ niệm 91 năm ngày sinh của cựu Đệ nhất phu nhân Mỹ Jackie Kennedy (Jackie). Là vợ tổng thống John F. Kennedy, bà được xem là biểu tượng thời trang nữ quyền khi phá vỡ những quy tắc dành cho chính khách bằng lối ăn vận cách tân, trang nhã. Nhắc đến Jackie, giới yêu thời trang không thể quên mũ pillbox - biểu tượng gắn liền hai sự kiện lớn trong đời bà.

Tên gọi mũ pillbox bắt nguồn từ hình dáng hộp đựng thuốc (pill-box) với các cạnh thẳng, đỉnh phẳng và không vành. Theo Fashion Encyclopedia, thiết kế này bắt đầu phổ biến từ thập niên 1930, nhưng đạt đến đỉnh cao vào những năm 1960, khi được đệ nhất phu nhân Jackie Kennedy đội.
Jackie Kennedy trong lễ nhậm chức của chồng với trang phục thanh lịch, hiện đại. Ảnh: AP.
Jackie Kennedy đội mũ pillbox cùng trang phục thanh lịch, hiện đại trong lễ nhậm chức của chồng. Ảnh: AP.
Giữa tháng 1/1961, Jackie xuất hiện trong lễ nhậm chức của tổng thống John F Kennedy. Bà mặc áo khoác trơn, đeo găng tay trắng kết hợp mũ pillbox mang hơi thở trẻ trung, thanh lịch. Phong cách này đi ngược quy tắc trang phục cứng nhắc đương thời, khi các phu nhân chính khách Mỹ thường phải mặc váy dài, cổ điển cùng mũ lông cầu kỳ. Thurston Clarke - tác giả cuốn sách Ask Not (1961) - ví hình ảnh Jackie đứng cạnh phu nhân các chính trị gia khác như "cánh hoa thanh nhã giữa rừng hoa tiêu điều, ngột ngạt".

Lễ nhậm chức diễn ra vào ngày gió vô tình tạo thành sơ suất nhỏ. Jackie Kennedy đặt tay lên mũ, tạo ra vết lõm nông, không đáng chú ý trên đỉnh, nhưng hình ảnh được phát đi toàn nước Mỹ. Cây bút Isabel Jones của tạp chí Instyle bình luận: "Mũ hình hộp xảy ra đôi chút trục trặc, lại truyền cảm hứng cho giới mộ điệu". Phong cách nhanh chóng lan rộng khắp thế giới, từ giới thượng lưu ở thành thị tới những vùng nông thôn. Nhà mốt Halston sau này cũng ngạc nhiên và thích thú khi mọi người luôn sao chép lỗi sai này bằng cách ấn cho đỉnh mũ lõm xuống.
Cựu đệ nhất phu nhân từng không thích mũ vì cho rằng đầu mình quá lớn để đội. Nhà mốt Haltson - chịu trách nhiệm thiết kế chiếc mũ pillbox của Jackie - may mắn có cùng kích thước đầu với bà. Ông làm việc nhiều giờ liền, đảm bảo sản phẩm hoàn hảo. Tom Fallon - phụ tá Halston - chia sẻ với Vaniety Fair: "Trước khi gửi mũ tới phu nhân, Halston đội chúng lên, ngắm nghía qua hai chiếc gương: một đằng trước và một phía sau, xoay đầu qua nhiều phía để đảm bảo phom dáng hoàn hảo nhất".
Mũ pillbox hồng mâm xôi kết hợp váy vest đồng màu được phu nhân Jackie Kennedy mặc trong ngày chồng bà bị ám sát. Ảnh: John F.Kennedy Library and Museum.
Jackie Kennedy và chồng trong ngày tổng thống John F.Kennedy bị ám sát. Ảnh: John F.Kennedy Library and Museum.
Jackie Kennedy thích mũ pillbox tới mức bà biến thiết kế này thành thương hiệu cá nhân, có một bộ sưu tập với nhiều màu khác nhau, hầu hết của Halston. Sau này, thường xuyên đội chúng trong suốt nhiệm kỳ của chồng.
Điều khiến pillbox nổi tiếng còn gắn liền với một sự kiện đau buồn của Jackie. Sáng 22/11/1963, John F.Kennedy và phu nhân tới Dallas. Trong bộ váy suit cùng mũ pillbox quen thuộc màu hồng mâm xôi, Jackie được người dân chào đón. Khoảng 11h45 phút, vợ chồng tổng thống cùng Thống đốc bang Texas, John B. Connally Jr. quyết định sử dụng chiếc xe limousine không mui để thực hiện chuyến đi dài 16 km quanh thành phố. Người dân đứng dọc theo các tuyến đường vẫy chào đoàn xe chở họ hướng về trung tâm thành phố. Khi họ đi qua kho sách của thư viện Texas, John F.Kennedy bị ám sát bằng hai phát súng chí mạng.
Trang phục cựu phu nhân dính máu chồng, bà từ chối thay cả ngày hôm đó, với lý do "để chúng (những kẻ ám sát) biết chúng đã làm gì". Từ đó, màu hồng của trang phục thành lời gợi nhắc mỉa mai, đau buồn về thảm kịch năm 1963. Về sau, bộ váy dính máu được bảo quản tại Cục Lưu trữ Quốc gia Mỹ, không công khai cho tới năm 2013.
Khoảnh khắc tổng thống Kennedy bị ám sát
 
 

Sau khi chồng bị bắn, Jackie bò ra khỏi xe. Chiếc mũ được Sở Mật vụ Mỹ đưa cho thư ký riêng của phu nhân ngay sau đó rồi biến mất. Theo CNN, đến nay tung tích của nó vẫn là điều bí ẩn. Tờ Business Insider nhận xét: "Jackie Kennedy làm cho pillbox thành chiếc mũ mang tính biểu tượng nhất mọi thời đại khi bà đội nó trong khoảnh khắc tổng thống Kennedy bị ám sát".
Bảo Thư

19 tháng 7, 2020

Lịch sử viên Aspirin.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức.

09g1.jpg

Đa số những cơn đau mà con người thường gặp không phải gây ra do giải phẫu hoặc mới bị thương mà thuốc mê có thể dùng để chữa nhưng còn những cơn đau kinh niên như viêm xương khớp hoặc đau ngắn hạn như nhức đầu và đau răng thì chữa bằng cách nào. Với các đau này, một loại dược phẩm rất cần để giảm đau trong khi đó ta vẫn có thể đi làm được.

Vào mùa hè năm 1758, đức cha Edward Stone, ở Chipping Norton bên Anh bị sốt và viêm xương khớp. Vô tình ngài  đã nhai cành của cây liễu trắng rất đắng , ngài rất ngạc nhiên mà thấy rằng cơn đau giảm. Ngài liền nghĩ ra cách để phơi khô  và làm thành bột vỏ cây này và thử nghiệm để kiếm một liều hiệu nghiệm nhất.Trong vòng năm năm sau ngài tặng món thuốc này cho năm mươi người khác và đều thấy công hiệu. Vui mừng với sự khám phá của mình, ngày 25 tháng Tư năm 1763, ngài viết một bức thư cho bá tước Macclesfield, Hội trưởng Hoàng Gia, nhưng không được hồi âm.

Năm 1820, dược sĩ Thụy Sĩ Johana S.F. Pagenstecher bắt đầu lấy  một chất từ lá  của cây Spirea ulmaria, thường được gọi là lá dâu dê, rất công hiệu để giảm đau trong y học dân gian.
Báo cáo của Pagenstecher trên báo khoa học được đọc vào năm 1835 bởi nhà hóa học người Đức Karl Jacob Lowig, giáo sư hóa học ở Montpellier Uniniversity. Ông cũng cố gắng thay đổi lá cây Spirea ulmaria để loại bỏ tác dụng phụ quan trọng như cơn đau kích thích lớp lót của bao tử nhưng ông ta thấy phương pháp quá mất thì giờ cho nên đã bỏ.

Salicylic acid chỉ được một số người mà cơn đau trầm trọng hơn cơn đau của chính dược phẩm.Một trong những người đó là Her Hoffma, sống ở thành phố Đức quốc Elberfield và bị bệnh viêm khớp khiến ông bị què quặt.Con trai của ông ta là một hóa học gia làm việc tại Bayer, một hãng dược phẩm rất lớn ở gần đó và vào năm 1895 anh ta quyết định thử nó để làm bớt cơn đau của bố. Anh ta làm giản dị hóa phương pháp của Gerhard và làm ra aceytylsalicylic acid. Hoffman bèn lấy một lọ nhỏ và đưa cho bố và ông này đã có một đêm hết đau trong nhiều năm. Về sau này người ta mới biết rằng thuốc đó không phải chỉ giảm cơn đau mà còn hạ nhiệt độ và viêm.

Đồng nghiệp của Hoffman là ông Heinrich Dresser nhận ra rằng dược phẩm mới có tác dụng rất tốt vì nó chia làm hai ở máu.Để thử giả thuyết của mình, ông ta bèn nuốt chửng một số acetylsalicylate và thường xuyên thử nước tiểu trong vòng 12 giờ.Ông đã tìm ra dấu vết của salicylic acid  nhưng không thấy chất acetylsalicylate: hợp chất quả có tách làm hai.

09g2.jpg

Đến năm 1899, Hopffman và Dreser đặt tên cho dược phẩm mới tìm ra của mình:aspirin- chữ a cho acetyl, spir cho Spirea. Năm sau, công ty dược phẩm Bayer  xin bản quyền cho aspirin, cho các hợp chất trực tiếp của hãng và hình dáng của các dụng cụ của hãng và bắt đầu bán một sản phẩm rất phổ biến trên thế giới.

Năm 1914, để đề phòng sự lớn mạnh của chiến tranh và cũng để ngăn cản sự cung cấp của nước Đức, chính phủ Anh bèn tặng 20,000 bảng Anh cho những ai sống tại chính quốc hoặc ở Liên Hiệp Anh đã tìm ra một chất mới cho aspirin mà vẫn tránh né được bản quyền của Bayer.Chính quyền Úc Đại Lợi bèn tặng thêm 5000 bảng anh để khích lệ và hóa học gia George Nicholas nhận lời thách đố đó. Dùng các dụng cụ rất sơ sài và gần như mù vì phòng thí nghiệm của mình bị nổ, ông ta tìm ra một cách để tạo ra một chất aspirin hết sức thuần túy và thắng giải.

Sau khi nước Đức thua trận, công ty British Alien Properties Custodian tịch thu tên “aspirin” và công ty Bayer mất bản quyền cả tên lẫn việc sản xuất dược phẩm. Trong số những cơ sở bắt đầu làm hợp chất  là của George Nicholas; và sản phẩm “Aspro” của ông trở thành một loại aspirin bán nhiều nhất ngoại trừ nước Mỹ. Tại nước Mỹ, công ty dược phẩm Sterling, mặc dù đã không liên lạc với công ty Đức, tiếp tục sản xuất aspirin dưới dạng “Bayer”, một tên riêng. Xin nói rõ,  tên riêng (Trademark) là một thương hiệu hàng hóa riêng, trong đó chứa đựng bất kỳ chữ, tập hợp của nhiều chữ, tên riêng và biểu tượng nào. Những từ ngữ này đã từng được sử dụng hoặc sẽ được đưa vào sử dụng trong thương mại để nhận dạng, phân biệt và giúp chỉ ra xuất xứ hàng hóa.

Nhưng khám phá về vỏ cây liễu của ngài Stone trong mấy năm về trước không phải là không được dể ý tới. Năm 1826, hai người Ý đã tìm ra chất chính của vỏ cây liễu một chất gọi là salicin và ba năm sau một hóa học gia người Pháp đã thành công khi tìm ra một chất dưới dạng thuần túy. Năm 1839, một hóa học gia khác người Ý đã lấy salycilic acid  từ chất salicin và từ đó chất chính của aspirin được lấy ra từ cây liễu và cây dâu dê.Ngày nay chất này được tổng hợp, dùng phương pháp không khác nhiều lắm với phương pháp mà Herman Kolbe đã tìm ra tại Strasbourg vào năm 1874.

09g3.jpg

Mãi đến năm 1971 các nhà nghiên cứu ở Anh mới tìm ra tại sao aspirin lại công hiệu như vậy. Prostaglandins, một nhóm như kích thích tố tìm thấy ở hầu hết các mô bào của cơ thể có vẻ như làm tăng sự nhạy cảm của đoạn cuối dây thần kinh tại nơi bị viêm và aspirin dường như có liên hệ tới công dụng của các chất này.

Sau này aspirin trở thành một phần của các chất được biết với tác dụng chống viêm mà ngày nay bao gồm cả các dược phẩm mới tìm ra là ibuprofen. Đến năm 1980, aspirin bị paracetamol qua mặt. Paracetamol  được dùng lần đầu vào năm 1893 như một chất giảm đau rất bình dân của mọi người.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức.

1 tháng 7, 2020

Một chai rượu cognac từ năm 1762 bán đấu giá được $146,000

image.png
Chai cognac Gautier đời 1762, vừa bán với giá $146,000. 

PARIS, Pháp Một chai cognac nổi tiếng đời 1762, một trong những chai cognac  xưa nhất của thế giới, vừa bán được với giá $146,000 qua cuộc đấu giá trên mạng.
Theo bản tin của hãng thông tấn UPI hôm Thứ Năm, 28 Tháng Năm, chai cognac Gautier, một trong ba chai còn lại trên thế giới của nhãn hiệu này, đã được bán trong cuộc đấu giá tại nhà Sotheby’s hôm Thứ Năm.
Sotheby’s nói chai rượu này, được biết dưới tên “Anh Cả” (Grand Frere), vì là chai lớn nhất trong ba chai rượu còn sót lại. Một chai khác, có tên là “Cậu Em Út” (Petit Frere) được bán trong cuộc đấu giá năm 2014. Còn lại chai “Cô Em Nhỏ” (Petite Sœur) hiện đang được trưng bày tại bảo tàng viện Gautier trong vùng Cognac ở Pháp.
Người chủ của các chai rượu này kể rằng chúng được một người từng là con nuôi của ông cố họ đem đến cho gia đình sau một thập niên làm việc trong vùng Cognac, vào thời gian trước Đệ Nhất Thế Chiến.
Ông Jonny Fowle, một chuyên gia về rượu của Sotheby’s, nói rằng loại cognac Gautier 1762 lừng danh thế giới vì là loại cognac thượng đẳng trong giới những người sưu tập rượu. Ông Fowle cũng nói rằng loại rượu này được cất vào thời gian trước khi xảy ra dịch phylloxera, gây thiệt hại nặng nề cho các khu vực trồng nho làm rượu ở Pháp.
Sotherby’s chỉ cho hay kẻ mua chai rượu này cùng toàn bộ các chai khác đem ra bán lần này, tổng trị giá khoảng $1.8 triệu, là người gốc Á Châu.
Phylloxera là một loại rệp sống bằng cách ăn rễ của cây nho, khiến hệ thống rễ của cây nho bị suy yếu trầm trọng, khó hấp thu nước và các chất dinh dưỡng cần thiết để sống. Các nhà nghiên cứu sau đó tìm ra giải pháp chống bệnh thối rễ này bằng cách ghép cây nho gốc Âu Châu vào gốc rễ của cây nho Mỹ. (V.Giang)

2 tháng 6, 2020

Nạn đói lịch sử năm Ất Dậu 1945

Trong ký ức người Việt Nam, "nạn đói năm Ất Dậu" vẫn là một cơn ác mộng, nỗi nhức nhối khó quên. Thảm họa ấy bắt đầu từ tháng 10/1944 kéo dài đến giữa năm 1945.
Công trình nghiên cứu về nạn đói năm 1945 của GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam và GS Furuta Moto (người Nhật) chỉ rõ: chính sách vơ vét thóc gạo của phát xít Nhật và thực dân Pháp lúc bấy giờ cùng với thiên tai, mất mùa ở nhiều tỉnh đồng bằng Bắc Bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm cảnh trên.

12-9406-1420769930.jpg
Sống ngắc ngoải trong nạn đói 1945. Ảnh tư liệu.
Tháng 10/1940, khi đặt chân đến Đông Dương, Nhật thi hành hàng loạt chính sách đánh vào nền kinh tế: buộc thực dân Pháp phải ký kết nhiều hiệp ước yêu cầu cung cấp lương thực, giao nộp lúa, gạo cho Nhật hàng năm; cấm vận chuyển lương thực từ Nam ra Bắc, hạn chế chuyên chở tự do, chỉ cho chở dưới 50 cân gạo trong một tỉnh; bắt người dân nhổ lúa trồng đay, dành ruộng trồng lạc.
Trong khi Nhật vơ vét cho chiến tranh thì Pháp dự trữ lương thực phòng khi quân Đồng minh chưa tới,phải đánh Nhật hoặc dùng cho cuộc tái xâm lược Việt Nam. Thuế đinh, thuế điền, tô tức trở thành những chiếc thòng lọng buộc vào cổ nông dân.

Năm 1944, Việt Nam bị mất mùa nhưng Pháp và chính quyền phong kiến vẫn phải cung cấp cho Nhật hơn 900.000 tấn gạo để nuôi chiến tranh phát xít và làm nguyên liệu để người Pháp nấu rượu, cùng thóc dùng đốt lò thay cho than đá. Hàng chục nghìn mẫu ngô bị phá, hàng triệu tấn thóc bị thu nộp. Theo thống kê, năm 1940, diện tích trồng đay là 5.000 ha nhưng đến năm 1944 đã tăng lên 45.000 ha.
Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam ra, vơ vét thóc ở miền Bắc khiến giá thóc, gạo tăng vọt.Năm 1943, một tạ gạo giá chính thức là 31 đồng, giá chợ đen là 57 đồng; năm 1944 tăng lên 40 đồng, giá chợ đen là 350 đồng, nhưng đến đầu năm 1945 thì giá chính thức vọt lên 53 đồng còn giá chợ đen từ 700-800 đồng. Giá gạo "phi nước đại" khiến người dân không đủ sức mua, phải chịu cảnh chết đói.
Tháng 9/1944, lụt vỡ đê La Giang (Hà Tĩnh), đê sông Cả (Nghệ An) làm cho nạn đói diễn ra trầm trọng hơn.Theo những người dân trải qua nạn đói khủng khiếp ở Tây Lương (Tiền Hải, Thái Bình) thì vụ mùa năm 1944, lúa trên các cánh đồng rộng hàng trăm mẫu đều bị "rù" (rầy phá hoại), chết trắng, chết vàng. Cả mẫu ruộng không thu nổi vài chục cân thóc mẩy.
3-2745-1420769931.jpg
Trại Giáp Bát, Hà Nội, nơi tập trung những nạn nhân đói năm 1945. Ảnh tư liệu.
Nạn đói đã diễn ra ở 32 tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, từ Quảng Trị trở ra. Trọng điểm là các tỉnh đồng bằng, nơi dân số tập trung đông, có nhiều ruộng, như Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Thanh Hóa. Cái đói không buông tha ai, trọng tâm là những người dân nghèo, người lao động, đặc biệt là nông dân không có ruộng đất chuyên đi làm thuê và nông dân ít ruộng đất.
Để chống lại cái đói, cái chết cận kề, người dân ăn từ rau dại, đến củ chuối, vỏ cây, giết cả trâu bò, chó mèo; dân chài thì ăn củ nâu, cá chết. Khi không còn gì ăn thì họ ngồi chờ chết, để người nhà mang đi chôn hoặc chết ở bờ bụi khi đi kiếm ăn. Cái chết đến từ từ, thảm khốc, dày vò cả thể xác lẫn tinh thần. Cái đói khiến cha bỏ con, chồng bỏ vợ, tình người đứt đoạn, đi xin ăn không được thì cướp giật. Ở các vùng quê, hàng nghìn hộ gia đình chết cả nhà, nhiều dòng họ chỉ một vài người sống sót.
Tháng 3/1945, nạn đói lên đến đỉnh điểm. Lũ lượt người ngược, kẻ xuôi chạy đói đến các thành phố lớn, họ bán cơ nghiệp để lấy tiền đi đường. Người dân Hà Nội khi ấy đã phát động Ngày cứu đói, lập trại tế bần phát cháo. Người sắp chết thì được đưa về trại Giáp Bát, còn người chết đói thì xác chất đầy xe bò đem đi "hất xuống hố như hất rác" tại nghĩa trang Hợp Thiện (Hai Bà Trưng).
Mục sư Lê Văn Thái, nguyên Hội trưởng Hội thánh Tin lành Việt Nam thời kỳ 1942-1960 viết lại: "Tôi thường nghe tiếng rên xiết của những người sắp chết, thấy những đống thịt quằn quại gần những xác chết, nơi này 5-3 xác chết, chỗ khác từng đống người sống nằm lẫn với người chết. Trên những đoàn xe bò đầy những xác chết, mỗi xe chỉ phủ một chiếc chiếu, trong những cái hầm mấy trăm xác chết mới lấp một lần. Một vài lá cải thối trong đống rác, một vài hột cơm đổ bên cạnh vò nước gạo thì họ kéo nhau từng lũ đến tranh cướp".
"Họ đi thành rặng dài bất tuyệt gồm cả gia đình, già lão có, trẻ con có, đàn ông có, đàn bà có, người nào người nấy rúm người dưới sự nghèo khổ, toàn thân lõa lồ, gầy guộc, giơ xương ra và run rẩy. Ngay cả đến những thiếu nữ tuổi dậy thì, đáng lẽ hết sức e thẹn cũng thế. Thỉnh thoảng họ dừng lại để vuốt mắt cho một người trong bọn họ đã ngã và không bao giờ dậy được nữa, hay để lột miếng giẻ rách không biết gọi là gì cho đúng hãy còn che thân người đó", tác giả Vespy viết trong một bức thư vào tháng 4/1945.
Giữa lúc nạn đói lên đến đỉnh điểm thì ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Mặt trận Việt Minh phát động nhân dân phá hàng trăm kho thóc của Nhật để cứu đói. Phong trào diễn ra sôi nổi khắp nơi khiến nạn đói phần nào được đẩy lui. Nông dân bắt đầu trở về quê tiếp tục sản xuất. Đến vụ chiêm (tháng 6) có gạo mới, mức sống thay đổi đột ngột lại khiến nhiều người chết vì ăn quá no. Môi trường bị ô nhiễm nặng bởi xác chết không được xử lý và trải qua cơn đói lâu dài kéo theo dịch tả và dịch sốt vàng da lại giết thêm nhiều người ở Bắc Giang, Cao Bằng.
Nhiều làng xã chết 50-80% dân số, nhiều gia đình, dòng họ chết không còn ai.. Làng Sơn Thọ, xã Thụy Anh (Thái Thụy, Thái Bình) có hơn 1.000 người thì chết đói mất 956 người. Chỉ trong 5 tháng, số người chết đói toàn tỉnh lên đến 280.000 người, chiếm 25% dân số Thái Bình khi đó. Lịch sử đảng bộ Hà Sơn Bình cũ ghi rõ: "Trong nạn đói năm 1945, khoảng 8 vạn người (gần 10% dân số trong tỉnh) chết đói, nhiều nơi xóm làng xơ xác tiêu điều, nhất là ở những nơi nghề thủ công bị đình đốn. Làng La Cả (Hoài Đức) số người chết đói hơn 2.000/4.800 dân, có 147 gia đình chết không còn một ai. Làng La Khê (Hoài Đức) có 2.100 người thì 1.200 người chết đói, bằng 57% số dân".
16-5855-1420769931.jpg
Một điểm chôn tập thể người bị chết đói, đổ xác đến đâu lấp đất đến đấy. Ảnh tư liệu.
Tháng 5/1945, bảy tháng sau khi nạn đói bùng nổ tại miền Bắc, tòa khâm sai tại Hà Nội lệnh cho các tỉnh miền Bắc phúc trình về tổn thất. Có 20 tỉnh báo cáo số người chết vì đói và chết bệnh là 400.000, chỉ tính miền Bắc. Số liệu nghiên cứu trong cuốn Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử của GS Văn Tạo thống kê: "Riêng tỉnh Thái Bình, nơi nạn đói diễn ra trầm trọng nhất, đã được Ban lịch sử tỉnh điều tra, con số tương đối sát thực tế là cả tỉnh chết đói mất 280.000 người. Chỉ tính số người chết đói ở Thái Bình cùng với Nam Định hơn 210.000 người, Ninh Bình 38.000, Hà Nam chết 50.000 thì số người chết đói đã lên đến hơn 580.000. Như vậy, con số 2 triệu người Việt Nam chết đói trong 32 tỉnh cũ tính từ Quảng Trị trở ra và hai thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng là gần với sự thực".
So sánh nạn đói năm 1945 ở Việt Nam với tổn thất của các cuộc chiến tranh Pháp - Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Nạn đói nguy hiểm hơn nạn chiến tranh. Thí dụ trong 6 năm chiến tranh, nước Pháp chết một triệu người, nước Đức chết chừng 3 triệu. Thế mà nạn đói nửa năm ở Bắc Bộ, ta đã chết hơn 2 triệu người".
70 năm trôi qua, những chứng tích lịch sử về nạn đói năm xưa không còn nhiều, ngoài những nấm mồ tập thể sâu dưới lòng đất lạnh. Những nhân chứng từng đi qua tai họa lịch sử ấy thì ghi nhớ nỗi đau thương sâu trong tâm, mỗi lần nhắc đến chỉ biết rưng rưng nước mắt.
Hoàng Phương

Nạn đói năm Ất Dậu, 1944-1945

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nạn đói năm Ất Dậu là một thảm họa nhân đạo xảy ra tại miền Bắc Việt Nam trong khoảng từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945 làm khoảng từ 400.000 đến 2 triệu người dân chết đói.[1]

Nguyên nhân

Nạn đói tại Việt Nam năm 1944-1945. Trong ảnh là cảnh trẻ em chết đói ở Hải Hậu (Nam Định ngày nay).
  • Nguyên nhân trực tiếp là những hậu quả của chiến tranh tại Đông Dương. Các cường quốc đang chiếm đóng Việt Nam như Pháp, Nhật Bản vì mục đích phục vụ chiến tranh đã lạm dụng và khai thác quá sức vào nông nghiệp vốn đã lạc hậu, đói kém gây nhiều tai họa ảnh hưởng đến sinh hoạt kinh tế của người Việt. Trong khi Nhật thu gom gạo để chở về nước thì Pháp dự trữ lương thực phòng khi quân Đồng minh chưa tới, phải đánh Nhật hoặc dùng cho cuộc tái xâm lược Việt Nam.[1] Những biến động quân sự và chính trị dồn dập xảy ra đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất lương thực miền Bắc vốn dĩ đã thiếu gạo nên càng bị đói.
  • Nguyên nhân gián tiếp là những biện pháp quân sự hóa kinh tế nhằm phục vụ nhu cầu chiến tranh của chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam, do tại nước Pháp khi đó đang có chiến tranh và cũng đang bị xâm chiếm. Sau đó Nhật Bản dùng vũ lực loại bỏ Pháp chiếm đóng Việt Nam rồi thực hiện các biện pháp khác khốc liệt hơn nhằm mục đích khai thác phục vụ chiến tranh (bắt nông dân nhổ lúa trồng đay, buộc người dân bán lúa gạo với giá rẻ mạt để chuyển về Nhật).[cần dẫn nguồn]
  • Nguyên nhân tự nhiên, thời tiết là yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực tại miền Bắc. Thiên tai, lũ lụt, sâu bệnh gây mất mùa tại miền Bắc. Bệnh dịch tả lây lan nhanh và rộng khắp trong mùa lũ cũng góp phần làm tăng thêm nạn đói.
  • Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam ra Bắc, cũng cấm luôn việc mở kho gạo cứu đói. Đồng Minh phá hủy các trục đường sắt từ Huế trở ra, phong tỏa đường biển khiến hàng hóa không lưu thông được.[1]

Chính sách của Pháp

Sau vụ khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 1930, Pháp quay lại với chính sách bảo hộ mậu dịch và độc quyền khai thác Đông Dương theo đường lối thực dân. Toàn thể dân Đông Dương phải ra sức nâng cao giá trị kinh tế của khu vực, nhưng chỉ có người Pháp, một thiểu số rất ít người Việt và người Hoa gần gũi với Pháp hay một số dân chúng thành thị được hưởng lợi. Hậu quả là trước Đại chiến thế giới lần thứ hai, Việt Nam vẫn chỉ là một xứ lạc hậu và nghèo đói so với nhiều quốc gia châu Á khác. Hệ thống thuế nửa thực dân nửa phong kiến khiến cho các hộ nông dân phải bán gần hết lương thực có được để nộp thuế khiến đa số nông dân không còn lương thực dự trữ.
Khi Đại chiến thế giới bùng nổ, Pháp bị yếu thế. Tại Đông Á, Đế quốc Nhật Bản bắt đầu bành trướng và nhìn vào Đông Dương như đầu cầu tiến qua Nam Á và khống chế Trung Quốc. Giữa năm 1940, Pháp bị Đức chiếm và Nhật Bản gây áp lực với Pháp để tiến vào Đông Dương. Việt Nam bị cuốn vào nền kinh tế thời chiến, với việc Pháp và Nhật tranh giành quyền kiểm soát kinh tế. Người ta nói đến lý do là Nhật Bản bắt dân Việt Nam trồng đay thay trồng lúa gạo để phục vụ chiến tranh, nhưng thực ra Pháp đã tiến hành việc ấy từ trước, cụ thể là thu hẹp diện tích canh tác các hoa màu phụ như ngô, khoai, sắn, để trồng bông, đay, gai hay cây kỹ nghệ. Sản lượng lúa gạo và hoa màu quy ra thóc tại miền Bắc giảm xuống rất mạnh do diện tích canh tác bị thu hẹp. Theo thống kê, năm 1940, diện tích trồng đay là 5.000 ha nhưng đến năm 1944 đã tăng lên 45.000 ha.[1]
Theo ông Hoàng Trọng Miên, trong sách Đệ Nhất Phu Nhân Tập I viết:
Giữa thời kỳ ấy, để phòng ngừa dân miền Bắc nổi dậy, Pháp tung đám tay sai đi khắp nơi vơ vét hết thóc gạo tải về tập trung ở các kho dự trữ riêng, lấy cớ là để tiếp tế cho quân đội Nhật. Hết ép buộc mua rẻ của dân quê, Pháp lại vãi tiền ra mua thóc, ngô (bắp) bằng một giá cao để thu cho kỳ sạch ngũ cốc hiếm hoi của miền Bắc. Gạo Nam Kỳ thì không được đưa ra, lấy cớ là phi cơ Đồng Minh ngày đêm không ngừng bắn phá tàu bè, ghe thuyền, còn đường xe lửa xuyên Đông Dương thì Pháp dành cho Nhật chuyên chở quân sự. Lúa thừa ở miền Nam chất chứa đầy kho, Pháp đem đốt thay than củi ở các nhà máy điện.

Dân quê ở Bắc khởi sự chết đói từ cuối năm 1944. Mùa lúa tháng Mười lại thất bát. Người có tiền ở thôn quê cũng đành nhịn ăn, vì thóc gạo đã bị lấy sạch. Tại thành phố, mỗi khẩu phần người Việt đều phải ăn gạo “bông” (phiếu mua gạo) ở trong tay chính quyền Pháp phân phát.
[2]
Theo sách Việt Sử Khảo Luận - Cuốn 4:
Bọn Pháp Decoux – Morlant, từ mùa gặt cuối năm 1943 đến hai mùa gặt năm 1944, cũng trưng thâu gạo bỏ vào các kho quân đội Pháp để phòng hờ một cuộc đổ bộ Đồng Minh vào Đông Dương.[3]

Tác động của Hoa Kỳ

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai Việt Nam bị Đế quốc Nhật Bản chiếm đóng nên bị quân Đồng Minh - chủ yếu là Hoa Kỳ - thường xuyên oanh tạc các tuyến đường vận tải để tấn công quân Nhật Bản. Kết quả là hệ thống giao thông ở Đông Dương bị hư hại nặng. Tính vào thời điểm năm 1945 thì đường sắt Xuyên Đông Dương không còn sử dụng được nữa và đường thiên lý Bắc Nam cũng bị phá hoại. Đường biển thì quân Đồng minh đã gài thủy lôi ở cửa biển Hải Phòng khiến hải cảng chính ở Bắc Kỳ cũng không thông thương được.

Chính sách thu gom gạo của Nhật Bản

Trong thế chiến thứ 2, lãnh thổ Việt Nam nằm dưới sự chiếm đóng của quân đội Nhật. Gạo và cao su được quân Nhật thu gom, chở về nước hoặc cung cấp cho quân Nhật đóng ở tiền đồn vùng biển phía Nam. Theo tài liệu của chính quyền Pháp ở Đông Dương thì về gạo đã xuất ra nước ngoài, năm 1941: 700.000 tấn, năm 1942: 1.050.000 tấn, năm 1943: 950.000 tấn, năm 1944: 900.000 tấn; về cao su và các khoản thương vụ khác trong mấy năm đầu thập niên 1940 đã xuất số lượng tính ra bằng vàng tổng giá trị là 32.620 kg (tính tròn), tương đương số tiền lúc đó là 22 tỷ Franc[4].
Năm 1944, Việt Nam bị mất mùa nhưng Pháp và triều đình nhà Nguyễn vẫn phải cung cấp cho Nhật hơn 900.000 tấn gạo để đáp ứng cho nhu cầu chiến tranh, làm nguyên liệu để người Pháp nấu rượu, dùng đốt lò thay cho than đá. Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam ra, vơ vét thóc ở miền Bắc khiến giá thóc, gạo tăng vọt. Năm 1943, một tạ gạo giá chính thức là 31 đồng bạc Đông Dương, giá chợ đen là 57 đồng; năm 1944 tăng lên 40 đồng, giá chợ đen là 350 đồng, nhưng đến đầu năm 1945 thì giá chính thức vọt lên 53 đồng còn giá chợ đen từ 700-800 đồng.[1]
Nạn nhân nạn đói năm 1945
Vì chiến cuộc lượng gạo chở bằng thuyền từ trong Nam ra Bắc bắt đầu giảm từ 126.670 tấn (1942) xuống còn 29.700 tấn (1943), và đến năm 1944 chỉ còn 6.830 tấn.[5] Tàu bè chở gạo ra bắc chỉ ra được đến Đà Nẵng. Khi không quân Đồng minh mở rộng tầm oanh kích thì tàu chở gạo phải cập bến ở Quy Nhơn rồi cuối cùng chỉ ra được đến Nha Trang. Năm 1945 Chính phủ Trần Trọng Kim phải huy động những phương tiện thô sơ chuyển vận gạo từ Nam ra Bắc bằng xe bò hay thuyền nhỏ. Cùng lúc đó thì lượng gạo tồn kho ở Sài Gòn lên cao vì không xuất cảng sang Nhật được khiến chủ kho phải bán rẻ dưới giá mua. Hơn 55.000 tấn gạo phải bán tháo cho các xưởng nấu rượu vì nguy cơ gạo ứ đọng sẽ mốc trong khi nạn đói hoành hành ở ngoài Bắc.[6]
Đối với Pháp và Nhật Bản thì cả hai đều chú tâm vào những mục tiêu khác cho nhu cầu chiến tranh của họ. Chính Toàn quyền Đông Dương Jean Decoux từ trước năm 1945 đã ra lệnh trưng thu thóc gạo để chở sang Nhật theo thỏa thuận với Đế quốc Nhật Bản. Giá gạo thị trường lúc bấy giờ là 200 đồng bạc Đông Dương một tấn nhưng nông dân chỉ được trả 25 đồng.[7] Bản thân lực lượng quân quản Nhật cũng thi hành chính sách "Nhổ lúa trồng đay", do cây đay là nguyên liệu quan trọng cho sản xuất quân trang, quân phục.[cần dẫn nguồn]
Tình hình càng khó khăn thêm khi Nhật đảo chính Pháp vào tháng 3 năm 1945 nên bộ máy chính quyền của Pháp nhanh chóng tan rã. Việc tiếp vận và phân phối sau đó càng bị tê liệt. Nạn thiếu ăn biến thành nạn đói, đã manh nha từ đầu năm 1944 nay càng thêm trầm trọng. Đế quốc Việt Nam do Trần Trọng Kim làm thủ tướng ra chấp chính từ tháng 4 năm 1945 đã cố gắng huy động việc cứu đói cho dân ngoài Bắc nhưng những yếu tố chính trị, phương tiện và nhân sự phần nhiều vẫn nằm trong tay người Nhật nên Đế quốc Việt Nam không làm thuyên giảm được hậu quả ghê gớm của nạn đói.
Đa phần các kho thóc có khả năng cứu đói trực tiếp tại miền Bắc khi đó đều nằm trong tay quân đội Nhật. Người Nhật vì mục đích chiến tranh đã thờ ơ trước sự chết đói hàng loạt của dân bản địa. Các kho lương thực được tăng cường bảo vệ, hoạt động trưng thu và vận chuyển lương thực được bảo vệ tối đa. Các kho thóc trở thành tâm điểm nơi người đói kéo về nhưng không được cứu đói đã nằm chết la liệt quanh đó.
Về việc cứu đói, đến tận tháng 6, chính phủ Trần Trọng Kim vẫn không làm được điều mình hứa hẹn. Báo Ngày Nay xuất bản tháng 6/1945 nhận xét về sự bất lực hoàn toàn của chính phủ này, viết[8]:
“Chúng tôi nhận thấy ai ai cũng thất vọng và chán nản, vì sau hai tháng hô hào và tốn bao giấy mực, dân đói miền Bắc cũng chưa thấy một bao gạo nào ở Nam đưa ra. Lời tuyên bố của thủ tướng còn vang vọng bên tai ta: “Cần nhất là phải tiếp tế cho dân đói miền Bắc” mà tới nay việc làm vẫn chưa đi theo lời nói; tuy rằng gạo miền Nam vẫn chất đầy trong các kho, các nhà máy, tuy rằng giấy bạc vẫn nằm từng xấp dày trong các két sắt của nhà tư sản Việt Nam, tuy rằng nội các vẫn có một bộ tiếp tế và một bộ tài chính"
Về vấn đề này, nhà sử học Trần Văn Giàu chỉ ra nguyên nhân của sự bất lực này là do tính chất bù nhìn của chính phủ Trần Trọng Kim:
Lẽ dĩ nhiên, nguyên nhân trận chết đói năm 1945 chủ yếu không phải là do chính phủ Trần Trọng Kim mà là do chế độ thực dân, là chính sách tàn bạo của Pháp – Nhật. Sự bất lực của chính phủ Trần Trọng Kim phần lớn là do tính chất bù nhìn của nó. Nó không thể bớt chỗ nào thừa cho chỗ không có. Nó không thể chống nạn đầu cơ ở miền Bắc lúc ấy vẫn còn gạo trong các kho của quân phiệt Nhật. Nhật tích trữ lương thực để nuôi quân. Từ 9-3 đến giữa tháng 6, việc thu thóc tạ vẫn được thi hành trong lúc hàng chục vạn đồng bào ta chết rũ dọc đường xó chợ. Chính phủ Trần Trọng Kim đâu dám đụng đến việc thu thóc tạ, càng không dám đụng đến kho thóc. Chính phủ đã cam đoan với Nhật là tiếp tế cho Nhật bằng hay hơn Pháp, để xứng đáng với cái độc lập mà Nhật ban cho! Cả chính phủ Trần Trọng Kim và Nhật đều bắt buộc mọi sự vận chuyển thóc gạo từ Nam ra Bắc đều phải qua “Ủy ban thóc gạo” ở Sài Gòn mà ủy ban này do công ty Nhật nắm. Khi tải ra đến Bắc thì phải gom gạo cho công ty thóc gạo Bắc kỳ 75% số lượng, công ty này lo bảo đảm trước hết lương thực cho quân Nhật, còn lại mới bán cho dân
Không những vậy, Đạo dụ của chính phủ Trần Trọng Kim ngày 13/6/1945 còn quy định: ai phạm việc phá hoại cầu cống, đường sá, cướp phá hoặc làm hư hại kho ngũ cốc, đồ ăn, gạo, đều bị kết án tử hình. Đạo dụ cũng cấm chỉ mọi cuộc tụ tập trên 10 người. Vì đạo dụ này, nhân dân không dám tập hợp nhau kéo đi phá kho thóc để chia cho người đói, hàng chục vạn người đã chết đói ngay bên ngoài cửa những kho thóc còn đầy ắp[8]

Thiên tai

Ngoài bối cảnh chiến tranh, chính trị và kinh tế, tình hình thời tiết ngoài Bắc cũng đã góp phần trong những động lực tạo ra nạn đói. Mùa màng miền Bắc bị hạn háncôn trùng phá hoại, khiến sản lượng vụ đông-xuân từ năm 1944 giảm sụt khoảng 20% so với thu hoạch năm trước. Sau đó là lũ lụt xảy ra làm hư hại vụ mùa nên nạn đói bắt đầu lan dần. Mùa đông năm 1944-45 khắc nghiệt thay cũng lại là một mùa đông giá rét khiến các hoa màu phụ cũng mất, tạo ra những yếu tố tai ác chồng chất giữa bối cảnh chiến tranh thế giới. Tháng 9/1944, lụt vỡ đê La Giang (Hà Tĩnh), đê sông Cả (Nghệ An) cùng tình trạng mất mùa ở các tỉnh Bắc Bộ cuối năm 1944 làm cho nạn đói diễn ra trầm trọng hơn. Theo những người dân trải qua nạn đói ở Tây Lương (Tiền Hải, Thái Bình) thì vụ mùa năm 1944, lúa trên các cánh đồng rộng hàng trăm mẫu đều bị rầy phá hoại.[1]

Hệ lụy

Xương sọ người chết đói 1945 được xếp lại trong hầm tại nghĩa trang Hợp Thiện, Hà Nội.
Không có số liệu chính xác về số người đã chết đói trong nạn đói này, một số nguồn khác nhau ước tính là từ khoảng 400.000 đến 2 triệu người đã bị chết đói tại miền bắc Việt Nam. Tháng 5 năm 1945, bảy tháng sau khi trận đói bùng nổ tại miền bắc, toà khâm sai của triều đình Huế tại Hà Nội ra lệnh cho các tỉnh miền Bắc phúc trình về tổn thất. Có 20 tỉnh báo cáo số người chết vì đói tổng cộng là hơn 380.000, chết vì bệnh – không rõ nguyên nhân – là hơn 20.000, tổng cộng 400.000 cho riêng 20 tỉnh ở miền bắc. Tháng 10 năm 1945, theo báo cáo của một quan chức quân sự của Pháp tại Đông Dương khi đó là tướng Mordant thì khoảng nửa triệu người chết. Toàn quyền Pháp Jean Decoux thì viết trong hồi ký của ông về thời kỳ cầm quyền tại Đông Dương "À la barre de l’Indochine" – là có 1 triệu người miền Bắc chết đói. Năm 1959, Chính phủ Nhật Bản đã đàm phán với chính quyền Ngô Đình Diệm về việc bồi thường chiến tranh, phía Nhật cho rằng có khoảng 300.000 nạn nhân chết đói, trong khi chính quyền Ngô Đình Diệm đưa ra con số 1.000.000 người. Mức bồi thường cuối cùng được thống nhất là 14 tỉ 40 triệu yen (khoảng 39 triệu đôla Mỹ) vào năm 1960, chia ra thì mỗi mạng người Việt chết đói chỉ bằng một nhúm tiền lẻ[9]
Về sau, qua khảo sát hộ khẩu các tỉnh miền bắc, các nhà sử học Việt Nam ước đoán là từ 1 đến 2 triệu người đã chết đói. Con số 2 triệu người chết cũng là điều Hồ Chí Minh có nhắc đến trong bài Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Nhiều làng xã chết 50-80% dân số, nhiều gia đình, dòng họ chết không còn ai. Làng Sơn Thọ, xã Thụy Anh (Thái Thụy, Thái Bình) có hơn 1.000 người thì chết đói mất 956 người. Thôn Thạch Lỗi (nay là thôn Quang Minh), xã Thạch Lỗi, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay thuộc thành phố Hà Nội) gần như cả thôn đều chết đói (trừ trẻ em). Chỉ trong 5 tháng, số người chết đói toàn tỉnh lên đến 280.000 người, chiếm 25% dân số Thái Bình khi đó. Lịch sử đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Hà Sơn Bình cũ ghi rõ: "Trong nạn đói năm 1945, khoảng 8 vạn người (gần 10% dân số trong tỉnh) chết đói, nhiều nơi xóm làng xơ xác tiêu điều, nhất là ở những nơi nghề thủ công bị đình đốn. Làng La Cả (huyện Hoài Đức) số người chết đói hơn 2.000/4.800 dân, có 147 gia đình chết không còn một ai. Làng La Khê (xã Yên Nghĩa, Hoài Đức) có 2.100 người thì 1.200 người chết đói, bằng 57% số dân". Trong cuốn "Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử" của GS Văn Tạo thống kê:
"Riêng tỉnh Thái Bình, nơi nạn đói diễn ra trầm trọng nhất, đã được Ban lịch sử tỉnh điều tra, con số tương đối sát thực tế là cả tỉnh chết đói mất 280.000 người. Chỉ tính số người chết đói ở Thái Bình cùng với Nam Định hơn 210.000 người, Ninh Bình 38.000, Hà Nam chết 50.000 thì số người chết đói đã lên đến hơn 580.000. Như vậy, con số 2 triệu người Việt Nam chết đói trong 32 tỉnh cũ tính từ Quảng Trị trở ra và hai thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng là gần với sự thực".[10]
Không chỉ làm số lượng lớn người chết đói, nạn đói còn khiến hàng trăm ngàn người phải rời bỏ quê hương, ly tán khắp nơi, nhiều người không còn quay về quê quán. Nhiều gia đình, dòng họ bị tan vỡ sau nạn đói này, không thể tìm lại được người thân thích. Tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân viết về thời kỳ xảy ra nạn đói năm 1945 đã mô tả rõ nét tình cảnh này.
Sau ngày Quốc khánh 2 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên sáu vấn đề cấp bách nhất mà Chính phủ cần giải quyết ngay và vấn đề số 1 là cứu đói: "Nhân dân ta đang đói... Những người thoát chết đói, nay cũng bị đói. Chúng ta phải làm cách nào để có thể cho họ sống...".
Nạn đói xảy ra có khá nhiều người bỏ quê hương ra đi, khi chết đói trở thành những xác vô danh. Do điều kiện chôn cất xác người đói sơ sài vội vàng thiếu quy hoạch và đánh dấu nên đến nay tại miền Bắc một số nơi khi khởi công các công trình vô ý khai quật những ngôi mộ tập thể được cho là mộ của những người chết đói năm 1945.
Những người chép sử khi viết về thời thịnh trị họ chỉ nói mấy câu ngắn ngủi thôi "Thuở đó cửa không cần then, cổng không cần khóa", thế là đủ. Vậy cái hiện tượng nuôi lợn hai chuồng trồng rau hai luống, sẵn sàng mang cái độc hại cho đồng bào của mình, cho người tiêu dùng của mình, nó trở thành phổ biến, điều đó cực kỳ nguy hại. Ba mươi năm trước chúng tôi cùng các bạn đồng nghiệp Nhật Bản nghiên cứu về nạn đói năm 1945, kết luận cuối cùng là: Một nạn đói rất khủng khiếp. Nhưng chính các bạn Nhật Bản nói rằng, đây là một nạn đói lớn như thế mà không thể xảy ra những hiện tượng mà những nơi khác có: Người ta không ăn thịt lẫn nhau, người nghèo không tranh đoạt lẫn nhau. Mà rất nhiều giá trị đạo lý truyền thống của dân tộc được phát huy: Tình làng nghĩa xóm, dòng họ xã hội cưu mang nhau. Rõ ràng chúng ta phải thấy cái suy thoái đạo đức là nguy hiểm như thế nào, kinh tế có thể vực dậy được, đôi khi chỉ nửa nhiệm kỳ, nhưng suy thoái đạo đức thì không dễ để vực dậy. Tôi rất mong chúng ta quan tâm hơn đến lĩnh vực này để phát triển được bền vững hơn.
— Dân biểu Dương Trung Quốc đề đạt trước nghị trường năm 2017
Dân đói phá kho thóc của người Nhật Bản năm 1945.
Thời gian này ảnh hưởng của Việt Minh còn yếu, lòng dân chưa hoàn toàn hướng về, nên dù muốn tích trữ lương thực cũng không thể thực hiện việc trưng thu lương thực trên diện rộng (chỉ trưng thu được trong vùng Việt Minh kiểm soát nên có ảnh hưởng không lớn đến nạn đói). Điều cần thiết nhất của Việt Minh lúc này là sự ủng hộ của người dân. Do bị Pháp và Nhật truy lùng, cũng không có nguồn lực tài chính nên Việt Minh không thể tạo lập được kho lương thực nào có quy mô lớn đủ để cải thiện tình hình của nạn đói.
Việt Minh cùng với dân chúng chống đối việc trưng mua lúa gạo, cùng dân đánh phá các kho lúa của Nhật[11]. Trong nguy cơ đói cận kề cái chết, người dân không còn e sợ sự đàn áp của chính quyền nên hưởng ứng rất đông đảo. Chính tinh thần yêu nước chống thực dân đế quốc (chủ yếu) và hoạt động cứu đói của Việt Minh đã chiếm được cảm tình của một bộ phận nhân dân vùng Việt Minh (thứ yếu), đã dẫn đến sự kiện Cách mạng tháng Tám diễn ra thuận lợi.
Để cứu đói, nhiều tổ chức chính trị đương thời đã huy động lực lượng chặn bắt những chuyến xe hay những chuyến ghe chở gạo được Nhật vận chuyển từ miền Nam ra Bắc, đem tiếp tế cho dân, đồng thời để có nguồn dự trữ trường kỳ.[12] Sau ngày 2 - 9 - 1945, họ đã tịch thu toàn bộ tiền bạc của giới thân Pháp - Nhật trên toàn quốc (số tiền của Pháp khi ấy ta thu được 1.200.000 euro và của Nhật là 7.941.000 yên)[13] đồng thời phát động tăng gia sản xuất, tiết kiệm lương thực để cứu trợ cho người đói.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a ă â b c d 70 năm nạn đói lịch sử năm Ất Dậu: Hơn 2 triệu người chết chỉ trong nửa năm, Báo Lao động, 12/01/2015
  2. ^ Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân - Tập 1 (Los Alamitos, CA: Việt Nam, 1989), tr 79-80.
  3. ^ Hoàng Co Thụy, Việt Sử Khảo Luận - Cuốn 4 (Paris: Nam Á, 2002), tr. 1970.
  4. ^ Bác sĩ Ngô Văn Quỹ: Đêm dài Nhật – Pháp bắn nhau – Nhà xuất bản Trẻ, 2001
  5. ^ The Great Vietnamese Famine of 1944-45 Revisited 1944−45年ヴィエトナム大飢饉再訪 | The Asia-Pacific Journal The Asia-Pacific Journal: Japan Focus 14/7/2000
  6. ^ Dommen, Arthur J. tr 87
  7. ^ Dương Kiền. Việt Nam thế kỷ 20 biên niên sử. Falls Church, VA: Tiếng Quê Hương, 2005. tr 46
  8. ^ a ă http://tuanbaovannghetphcm.vn/thuc-chat-chinh-phu-tran-trong-kim-va-long-yeu-nuoc-cua-ong-thu-tuong/
  9. ^ http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20151227/bao-cuoc-be-dau-bi-tham-chi-co-nguoi-dan-la-khon-kho/1027996.html
  10. ^ Nạn đói lịch sử năm Ất Dậu - VnExpress Hoàng Phương 12/1/2015 | 10:10 GMT+7
  11. ^ Phong trào "Phá kho thóc cứu đói" dưới góc nhìn lịch sử, Ngô Quang Chính, Báo Đại Đoàn Kết, 24/08/2011
  12. ^ David G. Marr. Vietnam 1945, The Quest for Power [Việt Nam 1945, đi tìm quyền lực]. Berkeley, CA: University of California Press, 1995. Thiếu số trang
  13. ^ Ngô Thế Vinh dịch và trích dẫn trong bài "Từ Ất Dậu – 1945 sáu mươi năm đi tới cây cầu Cần Thơ – 2005", đăng trên tạp chí Hợp Lưu, California, số 51, tháng 2 & 3 năm 2000. tr. 173
  • Dommen, Arthur J. The Indochinese Experience of the French and the Americans, Nationalism and Communism in Cambodia, Laos and Vietnam. Bloomington, IN: Đại học Indiana Press, 2001. doi:10.1353/jmh.2003.0153
  • David G. Marr, Vietnam 1945, The Quest for Power [Việt Nam 1945, đi tìm quyền lực], University of California Press, Berkeley, 1995
  • Ngô Thế Vinh dịch và trích dẫn trong bài "Từ At Dậu – 1945 sáu mươi năm đi tới cây cầu Cần Thơ – 2005", đăng trên tạp chí Hợp Lưu, California, số 51, tháng 2 & 3 năm 2000
  • Phóng sự "Nạn đói năm Ất Dậu" nhiều kỳ trên báo Tuổi trẻ, Kỳ 1: Kỳ 1: Thảm cảnh quê nhà (Quang Thiện, 01/03/2005 04:13 GMT+7); Kỳ 2: Dưới đáy của địa ngục (Quang Thiện, 02/03/2005 06:37 GMT+7); Kỳ 3: Hành trình của những hồn ma (Quang Thiện, 03/03/2005 06:27 GMT+7); Kỳ 4: Chặng cuối của cuộc đọa đày (Quang Thiện, 04/03/2005 06:53 GMT+7); Kỳ 5: S