2 tháng 10, 2019

Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ

1. Khái quát lịch sử vùng đất Nam Bộ từ đầu đến thế kỷ XVII

+ Khái quát tự nhiên, lịch sử: 

Chúng ta biết 3 nền văn minh trên đất nước Việt Nam là Văn Lang – Âu Lạc, Champa và Phù Nam đều có cơ sở từ 3 nền văn hóa là Đông Sơn, Sa Huỳnh và Óc Eo (đặc trưng vùng miền) – địa văn hóa, thể hiện sự thống nhất trong dân tộc Việt Nam. Truyền thuyết “trăm trứng” ý chỉ sự phân bố bộ lạc, nói đúng hơn là hình thành “đồng bào” (tức cư dân ở một cộng đồng lớn, xuất xứ từ bọc trăm trứng). Về văn hóa Sa Huỳnh – Óc Eo thì có điểm giống là cùng là người Malayo – Polinesiens kết hợp với người Môn – Khmer sáng lập; khác biệt là ở chỗ: Sa Huỳnh là phát triển không liên tục, đứt đoạn; nổi lên vào thời sắt sớm và phát triển khá lâu; Óc Eo nổi lên thời sắt muộn, nhưng phát triển cao, nhưng không lâu (văn minh Phù Nam) => Nam Bộ về sau khi Phù Nam bị đổ thì rơi vào tình trạng hoang hóa. Hiện nay Nam Bộ có 19 tỉnh thành, thời Pháp là 20 tỉnh (province).
Vương quốc Chân Lạp ra đời ở vùng Hạ Lào (vùng sông Semun), cư dân Chân Lạp sống ở ruộng cao, rẫy (người Chăm sống trên ruộng cao), là một trong khoảng 10 chư hầu của Phù Nam với diện tích trải dài từ vùng Nam Bộ - Nam Trung Bộ của Việt Nam, Campuchia, một phần đồng bằng sông Mê Nam và sông Chao Phraya (Thái Lan), nam Thái Lan và một phần bắc Malaysia (3 bang phía bắc) – trung tâm là vùng Nam Bộ; kinh đô là Angkor Borei (không phải là Vyadhapura (thành phố của người đi săn) như Coedès đoán đâu). Kinh tế Phù Nam là kinh tế biển (chịu ảnh hưởng Malayo – Polinesiens hơn tính bản địa), hiện vật cụ thể là đồng tiền La Mã, khuyên tai hai đầu thú, thành cổ Óc Eo do Malleret tìm ra năm 1944. Năm 627 – 649, Chân Lạp thôn tính Phù Nam; nhưng thôn tính xong thì Chân lạp lại rút về vùng cao (vùng Biển Hồ - khai sinh bộ lạc Cha) sinh sống vì họ không quen kinh tế biển, không biết canh tác ruộng thấp (ruộng lầy lụt) => Nam Bộ bị người Khmer bỏ hoang, kéo dài đến thế kỷ XVII với lý do: dân số ít, sở trường canh tác ruộng trũng không có nên Chân Lạp có xu hướng phát triển về phía Tây Nam.
Các tài liệu như Phủ biên tạp lục, Gia Định thành thông chí viết rất công phu về quá trình người dân mở đất ở Nam Bộ. Đầu tiên là văn hóa Óc Eo với di tích Giồng Cá Vồ có các hiện vật thể hiện giao thoa Sa Huỳnh – Óc Eo: khuyên tai hai đầu thú (thú: trâu), mộ chum. Nhờ khảo cổ học của Malleret, người ta phát hiện kinh đô là Angkor Borei nằm ở phía tây sông Hậu (tỉnh Kirivong, Campuchia) cách Châu Đốc 30 km về phía tây bắc. Kể từ khi Phù Nam tan rã cho tới thế kỷ XVII, dấu ấn Khmer mờ nhạt trong khi Phù Nam tăng cao. Tang ma – hôn nhân có tương đồng Champa và Óc Eo (vì cùng là ngữ hệ Nam Đảo). Tượng Phật gỗ Buddhapad ở Phù Nam, làm theo phong cách Gandara (Ấn Độ – Hy lạp). Cuốn Chân Lạp phong thổ ký của Châu Đạt Quan (thế kỷ XIV) vẽ lại chi tiết hành trình của ông đến một số quốc gia ở Đông Nam Á (Chiêm Thành, Xiêm, Angkor…), kể chi tiết về cư dân, đời sống và phong tục tập quán…
Địa kinh tế: về tự nhiên thì Nam Bộ có hai vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ (thời Minh Mạng (1832) đã gọi Tây Nam Bộ là miền Tây), mốc là thành Phụng – Gia Định là trị sở. Thời Minh Mạng là 6 tỉnh, Nam Bộ được gọi là Nam Kỳ; Pháp thuộc là 20 tỉnh – hai thành phố lớn là Sài Gòn và Chợ Lớn – Nam Bộ; thời Nhật chiếm đóng thì đổi lại là Nam Bộ; từ 1945 – 1975 phía Việt Nam Cộng hòa gọi là Nam phần, gồm 27 tỉnh; phía cách mạng (Ủy ban hành chính Nam Bộ) thì lập thành 2 phân liên khu: miền Đông và miền Tây với 11 tỉnh. Năm 1976 – 1977 còn 13 tỉnh thành; năm 2004 là 19 tỉnh thành với vùng Đông Nam Bộ (5 tỉnh, một thành phố), Tây Nam Bộ (12 tỉnh, một thành phố). Dân số Nam Bộ theo thống kê năm 2011:
+ Đông Nam Bộ: 14.890.800 người
+ Tây Nam Bộ: 17.330.900 người
Tổng cộng: 32.221.700 người
                                      Bản đồ Nam Bộ hiện nay. 
2. Khái quát lịch sử vùng đất Nam Bộ từ  thế kỷ XVII – thế kỷ XIX
a. Tiến trình lịch sử:
bản đồ Nam Bộ trước thế kỷ XVII (phỏng trích theo Địa chí văn hóa Tp. Hồ Chí Minh của Trần Văn Giàu.

Trước khi người Việt vào khai phá, vùng đất Nam Bộ này từ lâu đã có người sinh sống, chủ yếu là người Mon – Khmer, Malayo - Polinesiens (Nam Đảo) có gốc chính là người bản địa Indonesiens. Chính các tộc người thuộc nhóm Môn – Khmer này (Chăm, Edeh, Giarai, Raglai, K’ho) tiếp xúc văn hóa Ấn Độ. Tộc Chăm, Giarai, Stieng, Mạ tiếp xúc văn hóa Ấn Độ và lập các vương quốc theo mô hình Ấn Độ: Champa, Bà Lợi, Xích Thổ, Châu Mạ, Stieng (Thủy Xá – Hỏa Xá) – nhưng mang tính Indonesiens bản địa, vùng phân bố của họ kéo dài từ Đồng Nai – Sài Gòn – Vàm Cỏ, kể cả người Khmer – họ rút về Tây Ninh; còn các tộc người như Raglai, K’ho kháng cự tiếp xúc Ấn Độ thì rút lên Tây Nguyên, hình thành 5 dân tộc và giữ được tính bản địa. Người Việt từ Thuận Hóa, phía Bắc và Nam – Ngãi theo đường biển vào và họ chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước – ruộng thấp. Ta lưu ý người Việt, Tày và Mường thuở trước canh tác ruộng kiểu Nam Á: Việt khai phá ruộng thấp, trong khi Tày và Mường khai khẩn, làm ruộng cao – ruộng bậc thang, dùng khoọn đưa nước lên máng để dẫn nước về tưới ruộng. Từ ruộng khô -> ruộng bậc thang là sự tiến bộ rõ rệt của con người, được một tạp chí của Mỹ khen là “hệ thống ruộng bậc thang đẹp nhất thế giới”. Người Chăm cũng làm ruộng cao như một số vùng ở Tây Nguyên và Tây Bắc, tôn giáo là thờ Thần Lửa (biểu thị vũ trụ, sự sống – đặc trưng của người Chăm hải đảo), mái thuyền kiểu Đông Sơn ở các đền tháp Champa.
Người Việt cổ căn bản dùng lúa nước làm nghề nghiệp chính của mình; họ từ trung dụ kéo xuống khai phá vùng đầm lầy phía thấp (đắp đất, tát nước…) để tạo thành đồng bằng như hiện nay – chinh phục, cải tạo tự nhiên. Chữ Việt mô phỏng theo công cụ lao động người Việt: có hai bộ là Rìu (tức công cụ lao động – khai phá) và Mễ (ngũ cốc, lúa nước – canh tác), khẳng định tính cần cù, chịu thương chịu khó làm việc của người Việt. Họ đến khai khẩn Nam Bộ khi vùng này bị Chân Lạp bỏ hoang hóa từ lâu.
Năm 1620, chúa Nguyễn là Sãi vương (còn gọi là Chúa Phật) con trai của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558 – 1613) gả công chúa Ngọc Vạn (là con nuôi của ông) cho vua Chân Lạp Chey Chetta II ở Oudong. Ba năm sau, Chúa Nguyễn xin Chân Lạp (thông qua Ngọc Vạn) cho lập hai đồn thu thuế ở Prei Nokor (Gia Định) và Kas Krobey (Bến Nghé). Lý do để Chúa Nguyễn làm việc này là do lúc này cư dân Việt sống rất no đủ và sầm uất – thu thuế; tạo điều kiện cho dân khai khẩn để biến nơi này thành căn cứ vững chắc chống lại Chúa Trịnh ngoài Bắc. Trong thời gian này, người Việt tập trung khá đông (5 - 6 vạn người) với các thành phần đến nơi này đa dạng:
-         Nông dân nghèo lưu trú
-         Lính bỏ ngũ
-         Tù nhân lưu đày
-         Người mở rộng làm ăn (gọi là “người có vật lực”)
Phương thức chủ yếu:
    -         Đi lẻ tẻ. Họ đi chủ yếu là đường biển vì đường bộ hiểm trở (trộm cướp); đi biển để tiện di chuyển, có thể dừng lại nghe tin tức
                 -         Triều đình chiêu mộ dân khai hoang.
Họ đến trong khi nơi đây tồn tại dân bản địa rất ít; sống chủ yếu ở các vùng cao, gò trũng ở Gò Công, Mỹ Tho, Trà Vinh, Sóc Trăng, Long Hồ. Khi người Việt đến, người Việt sống hòa nhập với dân bản địa, học hỏi giao lưu văn hóa với bản địa tạo thành một nền văn hóa bản địa đa dạng và đặc sắc.
Khi họ đến, họ mang theo đời sống và tính cách rất phong phú
Đời sống cư dân Nam Bộ khác Bắc Bộ nhiều:
-         Dễ thay đổi
-         Mở
-         Ven sông
Làng Nam Bộ có đặc điểm:
-         Phân bố trên giồng đất cao với nhiều nước ngọt, gia súc; khai phá bằng phương pháp móc lõm
-         Hình thành tự phát, không bị ràng buộc và không quy chế (Bắc Bộ quy chế - hương ước ngặt nghèo).
-         Không theo gia tộc lớn (không cùng dòng máu; Bắc Bộ là gia tộc lớn – tính cộng đồng mạnh, cư trú cố định trong làng; người ngoài thì bị bắt ra ở rìa làng)
-         Có chế độ công điền, công thổ bền vững – chính quyền không xâm phạm được
-         Nhà nước tổ chức làng Nam Bộ thành các phường, trại, nậu (thôn ở xa), chưa tổ chức chặc chẽ. Vùng cao nhất ở tp. Hồ Chí Minh là Gò Vấp (tên gốc là Gò Vắp: do người dân lấy đất xung quanh đắp mà cao lên), Phú Nhuận là kho để của ăn (Nhuận: kho của; Phú: giàu có)
Tính cách cư dân Nam Bộ:
-         Cởi mở: phóng khoáng, không có quy định nghiêm ngặt
-         Dễ dãi: ăn nói, ẩm thực, nhà ở.
-      Thoải mái: sinh hoạt, tín ngưỡng (ông đạo: đạo sờ, đạo khùng, đạo điên, đạo dừa…); khác người, gàn dở. 
              -         Giàu tính mạo hiểm: đi phiêu lưu nơi xa – không ràng buộc (Phú Xuân cũng trải; Đồng Nai cũng từng)


Ở vùng đất mới, Chúa Nguyễn thực thi một chính sách rất thoán và cởi mở. Chúa cho phép cư dân muốn khai thác đất đai, ruộng gò bao nhiêu tùy ý; khi người dân khai phá xong thì phải báo cáo với chính quyền. Ngoài ra, Chúa cho lập 9 kho lương, trại lính, lập thuế "biệt nạp" kêu gọi cư dân tùy số tài sản ít hay nhiều mà tự nguyện nộp thuế; thóc thì dùng hộc và giạ đong cũng đủ. Chính sách của Chúa Nguyễn là đúng đắn, hợp quy luật – thể hiện sự ứng xử độc đáo của ông với người dân; tạo điều kiện cho cư dân, quan binh, người ô hợp về khai khẩn để khống chế - xác lập chủ quyền. Thời trước thuộc Chân lạp, cư dân bản địa rất ít về số lượng, chỉ sống ở những ruộng cao nhiều hơn ruộng trũng – thấp, tập trung nhiều ở Gò Công, Mỹ Tho, Trà Vinh, Sóc Trăng, Long Hồ mà ở những vùng này, đất đai nhiều và bị hoang hóa. Đến thế kỷ X – XVII, nhiều người dân phía Bắc vì trốn lính, binh dịch, tô thuế nên lưu tán dần về phía Nam. 
Năm 1658, chúa Nguyễn đánh Mô Xoài (Mỗi Xuy), bắt vua Chiêm xong rồi thả ra với điều kiện phải dâng đất Mô Xoài cho chúa Nguyễn. Việc chúa Nguyễn đánh Mô Xoài là hợp quy luật, là bắt buộc để cho người dân khai khẩn và mở rộng đất đai, tiến tới xác lập chủ quyền (chiến tranh, dân số và tồn tại vương triều). Theo sự điều động của chúa Nguyễn, lưu dân Việt (về sau có người Hoa) từ Mô Xoài di chuyển xuống Bà Rịa, Đồng Nai (Bàn Lân, Bàn Gỗ, Cù Lao Rùa), Bến Nghé, lập tiền trạm để tiến tới khai khẩn các vùng đất mới. Thế kỷ XVII, họ có mặt hầu hết ở Đông Phố (Gia Định), Biên Hòa với 4 vạn hộ – khoảng 20 vạn nhân khẩu.
Năm 1679 - 1680, người Hoa vào Nam Bộ. Họ vốn có gốc ở Quảng Tây – Quảng Đông (Trung Quốc), làm nông nghiệp; vì phong trào "phản Thanh phục Minh" mà sang đây. Lúc đầu họ tính định cư ở Quảng Nam nhưng bị Chúa ngăn cản, thế là họ rút vào Nam Bộ là nơi hiện đang có tranh chấp với Champa, Chân lạp. Tại nơi đây, nhóm Dương Ngạn Địch - Trần Thượng Xuyên với 3.000 người được chúa chia vùng định cư: nhóm Dương Ngạn Địch thì xuống vùng Mỹ Tho (Mỹ Tho đại phố; chợ Phố Lớn); còn nhóm Trần Thượng Xuyên thì di chuyển lên vùng Lộc Dã (Đồng Nai) cao khoảng 200 – 300 m so với mực nước biển, định cư ở Bàn Lân, xây dựng thương cảng Cù Lao phố sầm uất một thời. Riêng nhóm Trần Thượng Xuyên thì về sau tách thành 2 nhóm nhỏ là Thanh Hà (Biên Hòa) và Minh Hương (Sài Gòn - Bến Nghé); khu chợ Sài Gòn thời kỳ đó gọi là Đông Phố, sông Sài Gòn thời đó (thế kỷ XVII – XVIII) gọi là Ngưu Chử giang, về sau gọi là Bình Trị giang (gọi khác nữa là Tân Bình giang, do chảy qua phủ Tân Bình – theo Gia Định thành thông chí). Cùng thời điểm với sự di cư của nhóm Dương Ngạn Địch - Trần Thượng Xuyên vào Mỹ Tho và Biên Hòa; Mạc Cửu người Quảng Đông vì chống Thanh nên phải chạy vào Chân Lạp, rồi xin làm chức Ốc nha Sài Mạt cai quản vùng đất Mang Khảm gồm 7 phủ lớn (1680 - 1690), mở sòng bạc và đánh thuế, chặn đánh thuyền Khmer – bị Khmer chống trả nên lánh nạn sang Xiêm. Về sau, ông rút về Hà Tiên và mở rộng quyền thống trị từ suốt vùng đông nam Chân lạp kéo dài qua Hà Tiên, xuống tuốt dưới Cà Mau; gồm 7 phủ lớn (tương đương 7 sòng bạc lớn của ông ta). Năm 1708, Mạc Cửu dâng Hà Tiên cho chúa Nguyễn; đến 1757 thì Hà Tiên nội thuộc chúa Nguyễn. Tuy nhiên vào năm 1772 - 1778, Cù Lao phố bị tàn phá (do vụ Lý Tài phản Tây Sơn, bị Nguyễn Nhạc phá trụi), người Hoa Minh Hương rút về Chợ Lớn lập làng và dần sống hòa nhập với người Việt. Cũng vào cuối thế kỷ XVII, người Chăm từ Lovek (Campuchia) chuyển vào sinh sống ở Tây Ninh, Châu Đốc. Do từ xưa họ giỏi chiến trận nên Chúa Nguyễn gọi họ là người Côn Man và dùng họ để trấn giữ biên cương phía Tây Nam Tổ quốc.
+ Chính sách của chúa Nguyễn đối với người Hoa trong quản lý người Hoa thì nhẹ nhàng nhưng cũng rất kiên quyết. Để ngăn chặn người Hoa có thể nổi loạn chống lại chính quyền (người Hoa có bang hội mạnh), chúa Nguyễn lập hai làng là Thanh Hà và Minh Hương cho họ sinh sống; chặn đứng cuộc nổi loạn của Hoàng Tiến (1680)... với mục đích cuối cùng là quản lý và ổn định đời sống người Hoa, tạo điều kiện cho cư dân Việt di cư vào nhiều và đông hơn để kiềm chế, không cho người Hoa hùng cứ, nổi loạn.
Do chính sách này của chúa Nguyễn, lưu dân Việt di cư vào ngày càng nhiều và họ dần trở thành chủ thể của vùng phương Nam rộng lớn này. Việc xác lập "chủ thể" người Việt có từ năm 1623, khi chúa Nguyễn thiết lập 2 đồn thu thuế đầu tiên ở Sài Gòn và Bến Nghé; trong thời gian này, người Việt có mặt khá đông (5 - 6 vạn người năm 1623; hơn 10 vạn người năm 1679), người Hoa lúc mới vào cũng chỉ có 3.000 người mà thôi (năm 1679). Như vậy, đa số lấn át thiểu số => đa số là chủ thể. Người Việt sống thành những cộng đồng đông và lớn, có tổ chức và luật tục chặc chẽ, nên khó cho người Hoa xâm nhập vào. Ai đến trước thì hiển nhiên là "chủ thể", ai đến sau thì bị gọi là "Khách" và chịu những điều kiện rất khắc nghiệt. Vì thế, quan điểm "người Hoa khai khẩn, chúa Nguyễn xác lập chủ quyền" là sai => người Việt đã có mặt trước ở Nam Bộ từ lâu, trong khi đó đến 1679 người Hoa mới tới và phải chịu sự quản lý của người Việt.
Năm 1693, chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh đánh Champa, bắt vua Chiêm là Bà Tranh và đổi Champa thành Thuận Thành trấn. Người Chăm mất nước đã chạy loạn sang Chân lạp, Malaysia cư trú; tiếp thu Hồi giáo. Nhóm Chăm ở Oudong thì bị vua Chân Lạp theo Phật giáo bạt đãi - xung khắc Balamon Chăm với Phật giáo Chân Lạp => bị vua Chân Lạp đánh đuổi về biên giới Việt - Miên, tập trung nhiều nhất ở Tây Ninh, Châu Đốc. Chúa Nguyễn sử dụng họ và gọi là người Côn Man (vương triều mạnh, giỏi thủy chiến), cho họ trấn giữ biên phía tây nam để bảo vệ đất đai của người Việt.
Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lý Đông Phố. Tại đây, ông lập hai huyện là Phước Long (Dinh Trấn Biên, Biên Hòa) và Tân Bình (dinh Phiên Trấn, Gia Định); lập chính quyền mới: đầu là lưu thủ (quân sự), cai bộ (hành chính) và ký lục (xét xử). Lúc này, người Việt tập trung khá đông: 20 vạn người; sống dọc theo giồng cao và ven sông, người Hoa lúc này khoảng 4 vạn người sống ở các khu làng ở Thanh Hà và Minh Hương. Đồng thời, Nguyễn Hữu Cảnh kêu gọi lưu dân tiếp tục khai hoang, bản thân ông cũng khai hoang một số và mất ở cù lao bên Bãi Xàu (sau là Cù Lao ông Chưởng). Sự kiện này đánh dấu mốc chúa Nguyễn xác lập chủ quyền trên vùng đất Sài Gòn - Gia Định.
Năm 1708, Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn
Năm 1731, Sá Tốt của Chân Lạp nổi loạn, đánh đuổi vua Satha II tháo chạy về Hà Tiên. Để giúp vua Chân Lạp, chúa Nguyễn cử Trương Phước Vĩnh đem quân đánh bại Sá Tốt, đưa vua Chân Lạp trở lại ngôi. Để chuộc lỗi, vua Chân Lạp dâng hai xứ là Méso (Mỹ Tho) và Longhor (Long Hồ) cho chúa Nguyễn. Chúa nhận đất, đổi thành dinh Long Hồ và châu Định Viễn.
Năm 1755 - 1757 diễn ra sự kiện Tầm Phong Long. Năm 1755, thực hiện kế "tằm thực" của Nguyễn Cư Trinh, chúa Nguyễn xúc tiến mở rộng chủ quyền ở các vùng đất cuối cùng ở Nam Bộ. Ở Chân Lạp do có loạn, vua Nặc Nguyên chạy sang nương nhờ Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên; chúa Nguyễn cử binh dẹp loạn, đưa vua Chân lạp trở lại ngôi. Để đền ơn, Nặc Nguyên dâng đất Tầm Bồn và Lôi Lạp (nay là Tân An và Gò Công) để chuộc tội và bù vào thuế còn thiếu 3 năm. Năm 1756, Nặc Nguyên mất, chú là Nhuận lên thay đã dâng hai phủ Ba Thắc và Trà Vinh lên Chúa Nguyễn để được công nhận là vua, về sau ông này bị Hinh giết; nhưng do Chân lạp nội loạn (phe Xiêm - phe Nguyễn) nên con của Nặc Nguyên là Nặc Tôn phải bỏ chạy sang nương nhờ ở Hà Tiên. Sau khi được Chúa đưa về để lên ngôi vua, Nặc Tồn dâng đất Tầm Phong Long (vùng giữa sông Tiền - sông Hậu, nay là Sa Đéc và Châu Đốc) và 5 phủ là Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt, Linh Quỳnh cho Chúa Nguyễn. Đến lúc này, công cuộc xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn ở Nam Bộ hoàn tất về căn bản.
b. Thực trạng phân bố dân cư, xã hội Nam Bộ thế kỷ XVII - XVIII
Cho đến khi Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền ở vùng đất Nam Bộ, phân bố dân cư khá ổn định:
- Người Việt: do số lượng đông đảo nên vùng phân bố rất rộng lớn. Có 3 vùng cư dân Việt sinh sống:
+ Đông Phố (Biên Hòa, Gia Định)
+ Mỹ Tho
+ Mang Khảm
- Người Chăm: đi theo hướng Tây Nguyên, Tây Nam Bộ sang Campuchia => bị xua đuổi sang Châu Đốc
- Người Hoa: 1679 - 1680, thị tứ
+ Nhóm Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến vào Mỹ Tho
+ Trần Thượng Xuyên vào Bàn Lân (Biên Hòa)
+ Mạc Cửu: Hà Tiên
- Người Khmer: ở vùng cao và làm ruộng rẫy trên cao, ở Ba Thắc, Trà Vinh; sống theo kiểu phum - sóc và rất nghèo.
Các khu vực khai phá:
+ Mô Xoài - Bà Rịa - Biên Hòa - Bến Nghé, người Việt là chủ đạo, người Hoa ở Biên Hòa rất ít ỏi. Lúc này Sài Gòn trở thành thương cảng là vì: (1) đường vào cảng thuận lợi, mấy cảng khác như Vàm Nao là cửa quá hẹp nên tàu khó vào; (2) Người Minh Hương độc quyền cảng và (3) hàng xuất khẩu đều là hàng rời.
+ Mỹ Tho - Long Hồ: là khu vực an ninh, có dinh Long Hồ lớn dùng làm nơi tập kết lực lượng phản ứng nhanh, bảo vệ biên cương phía Nam Tổ quốc. Tiền Giang - Hậu Giang là vùng chuyển quân lên Cao Miên. Vùng này đất đai màu mỡ, nhiều nước ngọt.
+ Ba Giồng: là nơi người Việt và người Hoa từ Vũng Gù, Vàm Nao vào khai phá, lập làng xóm sung túc. Chúa Nguyễn lập kho Cam Lạch để thu thuế (1741) và chuyên chở lúa từ đây ra Phú Xuân, Trung Hoa để buôn bán. Năng suất lúa nơi đây đạt loại cao nhất: 1 giạ = 300 giạ lúa; ở Pháp, Anh thì 1 giạ = 100 giạ lúa thôi
+ Mang Khảm - Hà Tiên: có người Việt sinh sống (có nhiều ở Campuchia, Thái Lan). Do họ Mạc cướp quyền buôn bán của người Khmer nên họ nổi loạn - dọa giết, ông ta trốn sang Bangkok lánh nạn. Về sau rút về Hà Tiên rồi dâng vùng đất này cho chúa Nguyễn.
+ Kinh tế:
Nông nghiệp: trồng lúa và hoa màu trên 3 loại ruộng:
- Ruộng cao (sơn điền): có nhiều ở Mô Xoài, Vàm Cỏ Đông, Bà Rịa, Long Hồ; gieo lúa trên ruộng này phải vào trời mưa. Canh tác: chặt và đốt cây để làm rẫy, làm xong 3 - 4 năm thì rút đi nơi khác.
- Ruộng trũng (thảo điền): tập trung đông dân Việt ở Gia Định, sông Tiền, Bến Tre, Long Hồ và Mỹ Tho, Sóc Trăng, Rạch Giá, Cà Mau; canh tác trên ruộng ít lầy lội, dùng trâu khỏe để cày cấy. 
- Ruộng sâu (trũng nhiều): dùng sức người là chính. Phảng là sự sáng tạo của người khai phá (kết hợp giữa phảng cỏ của Khmer + rựa của Ngũ Quảng để khai thác, vỡ hoang và đắp bờ để cấy
Ruộng thảo điền được chú trọng; ngoài ra họ cầy cấy lúa theo ruộng thụt (2 - 3 năm), phạt cỏ giúp đất đai tơi xốp và màu mỡ, ra lúa có năng suất cao. 
Lúa  có hai loại: lúa canh và lúa thuật
+ Lúa canh: không dẻo, hạt nhỏ, mềm và thơm.
+ Lúa thuật: dẻo, hạt tròn và lớn.
Ngoài ra, người Nam Bộ còn sáng tạo nhiều loại lúa khác như lúa bắt chim, lúa cà nhe, lúa trò cau, lúa Tàu, lúa nếp (nếp than, nếp cẩm), lúa Chiêm và lúa trảng cao (trồng ở ruộng trũng). Do có nhiều sáng tạo trong kỹ thuật, lúa được gặt hái tốt nên số vụ lúa tăng lên nhiều, lúa đủ dùng trong ngày. Lúc trước, lúa cày 1 vụ => về sau tăng lên 2 - 3 vụ/năm; nhìn chung có hai vụ chính:
+ Vụ mùa (vụ chính): thu hoạch bông lúa chưa chính tới, nhưng năng suất lại cao. Lúc đó, người ta dùng lúa làm bánh cho các lễ hội Ok Om Bok (Khmer, mừng lúa mới).
+ Vụ chiêm (vụ phụ): thu hoạch chủ yếu là lúa chiêm (khó nấu thành gạo), lúa nếp hương (có hoa vàng rất thơm, ăn rất ngon). Các loại lúa này khi thu hoạch đều cho năng suất cao: 1 hộc giống gieo vào ruộng => thu được 300 hộc lúa; Pháp thì 1 hộc = 6 hộc lúa, Mỹ thì 1 hộc = 3 hộc lúa.
Nam Bộ đã trở thành vựa lúa lớn của thế giới hồi đó. Về canh tác, người ta căn cứ theo thời vụ và thời tiết để chọn giống thích hợp cho canh tác. Nhìn chung thì như sau: 

Gieo mạ (sạ) 
Cấy 
Gặt 
Ruộng sớm 
tháng 4 
tháng 6 
tháng 10 
Ruộng muộn 
tháng 5 
tháng 7 
tháng 11 

Các hình thức người Nam Bộ canh tác ruộng lúa:
+ Đào kênh mương: để thau chua, rửa mặn => tạo nước ngọt, đưa nó về tưới ruộng lúa
+ Bừa: cày đất bùn (có nước làm xốp, tạo thành bùn lỏng) thành những rãnh nhỏ để gieo mạ.
+ Cấy: cầm mạ (mạ: bó lúa nhỏ, xén phía đầu để cây dễ mọc lên) cắm vào những lỗ được người nông dân chọn sẵn (lỗ được đục bằng ngón tay), cắm thẳng hàng khi ruộng sấp nước (10 - 15 cm nước) và cắm mạ vào bằng hai ngón tay.
Ngoài lúa, người dân Nam Bộ còn canh tác nhiều loại cây trồng khác nhau, tiêu biểu là cau. Câu "nhất thóc nhì cau" đã chứng minh điều này. Cau là mặt hàng bán rất chạy ở những nơi có đông người Hoa cư trú; cau dùng làm nước uống.
Thủ công nghiệp: bắt đầu có sự phân công lao động, chuyên môn hóa sản xuất dẫn đến xuất hiện nhiều ngành nghề mới. Triều đình lập ra 62 ty, công tượng để sản xuất. Các làng Nam Bộ lúc này đã trải dọc theo các kênh, mương để phù hợp với sự biến đổi mới. Trong làng xã, phương pháp móc lõm được áp dụng ngay trên các giồng đất cao (đắp đất, chia ruộng thành nhiều khoảnh khác nhau), do đó đất đai ngày càng mở rộng ra nhiều hơn (dân cư dùng năng lực ít, công cụ thô sơ => cải tạo triệt để). Đất đai màu mỡ, kỹ thuật canh tác phong phú và linh hoạt nên tạo ra nhiều sản phẩm phong phú và đa dạng; nhiều loại hàng hóa đã được đưa ra để trao đổi và buôn bán. Tùy theo thời tiết và mùa vụ mà người ta bán được hay không bán được; sản phẩm họ làm ra không chỉ dùng để ăn - uống và sinh hoạt, mà còn dùng để buôn bán. Nắm bắt được sự phát triển này, Chúa Nguyễn tìm cách lôi kéo cư dân nơi khác về đây lập nghiệp. Kết quả, Gia Định trở thành vựa lúa lớn của triều đình Phú Xuân (đủ ăn cho hàng vạn lính). Thương lái từ Ngũ Quảng đưa nhiều sản phẩm, trong đó có vải Thanh Hà về Gia Định trao đổi buôn bán.
Nhiều thị tứ xuất hiện (chợ búa, cảng thị). Bãi Xàu là thương cảng lớn nhất. 1772 – 1778 sau khi Cù Lao phố bị sụp đổ thì Sài Gòn đã trở thành thương cảng lớn nhất của Đàng Trong và phát triển thịnh vượng. Trong lịch sử phát triển cuả thế giới đã từng có thành thị. Ở phương Tây, thành thị là nơi tập trung cư dân, nơi buôn bán; thành thị phương Đông là trung tâm chính tri, quân sự quan trọng; “Châu Thành” là ví dụ cụ thể (10 tỉnh có huyện Châu Thành). “Châu Thành” là vành đai nông nghiệp bao quanh thành phố, cung cấp nhân vật lực cho thành phố.
Đến cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Ánh cho phép những người “có vật lực” được huy động tội phạm, binh lính Nguyễn đi thành lập các đồn điền. Mục đích của thành lâp đồn điền là khuyến khích khai hoang, an ninh, tạo nguồn cung cấp lương thực cho lính đồn trú – tội nhân được đưa vào Nam Bộ khai hoang. Ngoài ra, ông cũng lập 9 kho trữ lương thực để cung cấp lương thực cho vùng Thuận Hóa, cung cấp nguồn dự trữ quân sự. Việc thành lập đồn điền vào cuối thế kỷ XVIII đã củng cố chủ quyền của người Việt, xác lập sở hữu lớn về ruộng đất và thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thời Nguyễn Phúc Ánh, ông cho xây dựng thành Bát Quái là trung tâm lớn của Nam Bộ và đô thị cảng Sài Gòn trở thành trung tâm buôn bán tấp nập trong thời gian này. Sài Gòn – Gia Định đã trở thành thương cảng lớn, là nơi tập trung đông cư dân, nhất là người Hoa – chuyên về hoạt động thương mại vì lý do:
+ Thương càng Sài Gòn là cảng tốt, đường vào cảng sâu gần 15 m (tàu bè ra vào được) nhưng dân cứ không động nên nhường vị trí này lại cho cảng Cù Lao phố. Trong thời gian đó, Sài Gòn chưa có chợ có quy mô lớn mà chỉ có vài chợ nhỏ như chợ Nguyễn Thực, chợ Điều Khiển do người Việt lập ra. Khi người Hoa vào, họ mở rộng và nâng cấp chợ lớn dần lên: Chợ Bến Thành (1778)
Cảng Bãi Xàu ở Mỹ Xuyên (Sóc Trăng) là nơi tập trung nhiều thương lái người Hoa buôn bán sang nước ngoài. Ngay tận Ba Thắc có nguyên đội tàu người Hoa kinh doanh; khi nước lên cao thi xuất cảng đi buôn bán ở bên ngoài. Cảng Mang Khảm (Hà Tiên) được người Hoa di cư vào và thành lập ra phố chợ (phố lớn) để xuất khẩu nông sản (thốt nốt, tiêu…) vào Chân lạp. Ở Mang Khảm, người Hoa lập nhiều kho hàng; lúa gạo từ sông Tiền, sông Hậu đổ vào cảng thông qua hệ thống kênh rạch chằng chịt.
- Đô thị cảng về mặt địa lý thì nó sát và gần với hệ thống kênh rạch (hậu phương của cảng) là nguồn nguyên liệu cung cấp cho mọi hoạt động của thương mại có yếu tố của kinh tế hàng hóa. Cảng phát triển được do ảnh hưởng của văn minh sông nước (yếu tố biển – Phù Nam). Thời Nguyễn Ánh, ở đầu rạch Thị Nghè người ra lập một xưởng đóng tàu lớn xuất đi khắp nơi (cảng Ba Son, lập tháng 4/1863 tại nơi đó). Ông ta thuê kỹ sư hải quân Pháp, Bồ Đào Nha đóng tàu và nhờ đó đã đánh bại được Tây Sơn. Tây Sơn chiếm Gia Định, nhưng không giải quyết được vấn đề Gia Định nên bị sụp đổ. Nguyễn Ánh có chính sách rộng mở, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hàng hóa; nhưng khi lên ngôi thì ông ta dè dặt, “Bế quan tỏa cảng”.
Phương thức khai thác: từ thế kỷ XVII - 1790 thì có 2 phương thức canh tác
+ Quy mô nhỏ: dùng quảng canh và thâm canh. Do quy mô không lớn, đất không sâu nên ít đầu tư về vốn và kỹ thuật - chưa biết nhiều về nông nghiệp. Dân Bắc - Trung là bậc thầy về thâm canh nên đầu tư vào có năng suất cao. Theo Lê Quý Đôn, những người khai thác đất đai theo quy mô nhỏ thường bắt dân tộc thiểu số làm nô lệ.
+ Quy mô lớn: thuộc về "người có vật lực" (có 50 - 60 điền nô, 300 - 400 trâu bò), gắn bó với nghề nông và dùng quảng canh thay cho thâm canh => kéo dài đến thời Pháp thuộc. Ở Gia Định, kinh tế phát triển sớm do sở hữu lớn về ruộng đất cao, có toàn quyền thuê nhân công về làm việc và buôn bán sản phẩm. Khi xuất hiện các cảng thị thì hoạt động kinh tế được đẩy mạnh; hình thành đội thủy binh mạnh để chống lại Tây Sơn. Ở Gia Định, buôn bán hai chiều tăng mạnh - nhất là lúa gạo (1 quan = 10 tiền (tương đương 4 đấu gạo). Nhà nước thu thuế thương phẩm. 
Về thương mại, xuất hiện nhiều cảng thị lớn mà nổi bật là cảng Sài Gòn. Sài Gòn là thương cảng tự nhiên với các sông lớn điều hòa thuyền bè, là nơi tập trung lúa gạo ngày một đông để xuất đi, tạo mối liên kết và giao lưu sông rạch. Thông qua hệ thống giang cảng Sài Gòn - Chợ Lớn, Sài Gòn có ưu thế gắn với hệ thống các chợ, có kho cất giữ và thu gom lúa gạo đi khắp Nam Bộ. 
3. Khái quát lịch sử vùng đất Nam Bộ thời Nguyễn
Thời kỳ này, Gia Long đã xác lập vững chắc chính quyền và tiếp tục khai phá Nam Bộ trên cơ sở các Chúa Nguyễn đạt được trong thế kỷ XVII - XVIII. Các vua Nguyễn củng cố quân điền, cho dân tự do khai phá Nam Bộ và trợ cấp cho họ dễ khai phá (25 sắc lệnh trừng phạt quan lại, tạo điều kiện cho dân mở đất). Tùy theo diện tích khai hoang, quan mộ nhiều dân khai phá thì được thưởng, quan tham nhũng và hối lộ thì bị trừng phạt nặng. Để khai khẩn, vua cho đào kênh Thoại Hà (1818, từ Long Xuyên đến Rạch Giá), kênh Vĩnh Tế (1819 - 1821, từ Châu Đốc đến Rạch Giang - Hà Tiên). Mục đích: - Mở mang đất đai để khai thác, phát triển về sản xuất lương thực và thu tô thuế.- Đảm bảo an ninh quốc phòng; nhất là biên giới phía Tây. Đào kênh và lập đồn điền giúp triều đình kiểm soát, khống chế và đề phòng sự xâm nhập từ bên ngoài và sự chống đối của dân địa phương.- Phát triển địa chủ, tạo chỗ dựa cho vua Nguyễn ở Nam Bộ.Quản lý hành chính: theo mô hình Thuận Hóa. Mang Khảm đổi thành trấn Hà Tiên; Phiên Trấn - Trấn Biên là địa điểm quan trọng vì gắn với người Hoa Minh Hương dựng nghiệp ở miền Nam đã lâu. 3 người Hoa Minh Hương nổi tiếng là Ngô Nhân Tịnh, Trịnh Hoài Đức và Phan Thanh Giản. Năm 1836, vua Nguyễn cho thành lập các đạo (tương đương cấp quận - mang tính quân sự), gắn với đồn điền và lương thảo. Các đạo lớn lúc đó là Châu Đốc, Tân Châu, Trường Đồn.
Năm 1831 - 1832, Minh Mạng lập "dinh điền" để tập trung sở hữu lớn về ruộng đất (không công điền). Dinh điền là vùng đất có dân cư hòa nhập sau, mục đích chính là khai hoang mở đất. Thời các vua Gia Long và Minh Mạng, triều đình quan tâm hệ thống thủy lợi (đào kênh ở những ví trí quan trọng), giúp tàu bè xuôi ngược nhộn nhịp. Đóng góp của nhà Nguyễn chính là sự nỗ lực của nhân dân + tài "kinh bang tế thế" của Nguyễn Văn Thoại, Lê Văn Duyệt. Khi Pháp xâm lược Nam Kỳ, chúng thấy địa bạ của vua năm 1836 là chính xác - nhất là những vùng có vị trí đặc biệt như An Giang, Châu Đốc; đơn vị hành chính lớn nhất là tỉnh An - Hà. Nhà nước chia thành nhiều tỉnh => tập trung cao độ quyền lực. Dân số sau năm 1883 là 1.020.000 người; trong đó Việt: hơn 1 triệu; Hoa: 62.000 người; Khmer: 162.000 người; Pháp: 600 người; phương thức canh tác của người Việt chủ yếu ảnh hưởng của Khmer. Cơ sở pháp lý: Hiệp ước 1845 - 1849 thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc Đại Nam; Hiệp ước 1862 nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ => Chân lạp không phản đối gì.
4. Khái quát lịch sử vùng đất Nam Bộ thời Pháp thuộc
Mục tiêu chính sách và biện pháp khai thác của Pháp có điểm khác biệt so với thời Nguyễn. Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp từ tuyên bố của De Lagrandière năm 1867, Hiệp ước Sài Gòn 1874 khẳng định lại tuyên bố năm 1867. Cùng với việc xác lập bộ máy chính quyền thực dân (từ 1862 là thời quân sự; 1879 là dân sự), Pháp thiết lập ở Nam Kỳ chế độ trực trị vì nơi đây là thuộc địa giàu có, điều kiện tự nhiên phong phú. Người Pháp khai thác tối đa những điều kiện tự nhiên để phục vụ cho chiến tranh; sau kế hoạch Doumer 1897 thì Nam Kỳ trở thành nơi phục vụ cho cuộc khai thác thuộc địa của chúng (1897 - 1914); (1917 - 1929). Thời gian đầu ở Nam Kỳ, người Pháp thực hiện kế hoạch Leroy - Beaulieu, tổ chức bán đấu giá đất cho người khai phá; tổ chức khai thác thuộc địa với tư cách Nam Kỳ là thuộc địa nông nghiệp có sự phát triển thuận lợi của ruộng đất, kênh rạch và sông ngòi. Mục đích: khai thác tối đa kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu Long, mở cửa thị trường tư bản chủ nghĩa để xuất khẩu lúa gạo như là điều kiện để tồn tại, bù đắp chiến phí và tiếp tục chinh phục nốt các vùng đất còn lại ở miền Nam.
Cùng với việc ký kết hiệp ước Harmand, Pathenotre và thành lập Liên bang Đông Dương năm 1887, việc mở rộng xuất khẩu gạo, nông sản và hàng hóa ở Nam Kỳ đã có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động khẩn hoang, khai phá vùng đất Nam Bộ của Pháp. Việc tư bản Pháp tổ chức các đồn điền lớn đã kéo theo sự thành lập, tồn tại song song hai loại đồn điền: đồn điền trồng lúa và đồn điền cao su - nét mới trong khai phá Nam Bộ của Pháp. Để thực hiện, Pháp có các biện pháp sau:
+ Phát triển giao thông thủy ở bờ Nam Sông Hậu. Pháp cho đào 5 kênh lớn: kênh Hà Tiên (Hà Tiên - Châu Đốc); kênh Rạch Giá (Rạch Giá - Long Xuyên); kênh Xà No (Cần Thơ - sông Cái Lớn), kênh Bạc Liêu - Cà Mau nối với rạch An Xuyên; kênh Bãi Xàu - sông Hậu => hình thành hệ thống kênh nối với các sông lớn. Vào năm 1890 thì chính quyền Pháp ở Nam Kỳ tiếp tục mở rộng các kênh như kênh Rạch Giá, kênh Hà Tiên, khai thông kênh Cần Thơ - Sóc Trăng, kênh Sa Đéc - Trà Vinh.
+ Tổ chức nạo vét, mở rộng các kênh rạch tại khu vực giữa sông Tiền - sông Hậu như: rạch Vàm Nao, rạch Cái Tài Thượng, rạch Lấp Vò (sông Tiền - Sa Đéc), rạch Măng Thít (Rạch Giá - Cà Mau). Phía trên sông Tiền, Pháp mở rộng kênh Bảo Định nối Mỹ Tho với Vàm Cỏ Tây, nối với Vàm Cỏ Đông qua rạch Bo Bo, nối với Sài Gòn - Chợ Lớn qua rạch Bến Lức; kênh Duperré nối Mỹ Tho ngang qua Chợ Gạo tới Vàm Cỏ Đông, thông với Sài Gòn qua kênh Rạch Cát. 
Thông qua hệ thống kênh nối với các sông lớn, lúa gạo được vận chuyển vào giang cảng Chợ Lớn, qua cac kho bãi Bến Nghé, kênh Tàu Hủ để vào cảng Sài Gòn => hình thành hệ thống giao thông liên hoàn. Ở Sài Gòn, Pháp cho xây dựng nhà máy xay gạo đầu tiên; khơi thông ngoại thương; lợi dụng sự thuận lợi của dòng chảy như mắc cửi của hệ thống kênh đào Nam Kỳ để phát triển vùng đất này. Ngoài hệ thống kênh đào, Pháp cho phát triển đường sắt, đường bộ. Người Pháp mở 3.000 km đường bộ với các tuyến chính: Sài Gòn - Mỹ Tho; Sài Gòn - Biên Hòa, Thủ Dầu Một; Sài Gòn - Tây Ninh, Tân An - Gò Công; Gò Công - Mỹ Tho; Mỹ Tho - Vĩnh Long; Trà Vinh - Tiểu Cần; Bạc Liêu - Sóc Trăng - Cần Thơ - Long Xuyên. 
- Tăng cường nhân lực trong khai thác thuộc địa, người Pháp thất bại. Ở Sài Gòn vào năm 1937 thì chỉ có 12.245  thương gia, 705 viên chức Pháp cư trú ở thành phố này => không thu hút được người Pháp vào khai phá thuộc địa Nam Kỳ. Kế hoạch đưa 1 triệu dân vào khai phá cũng tỏ ra không hiệu quả. Ở Cần Thơ chỉ có 350 người đến (phần lớn do Pháp dụ dỗ mà đến), không thạo nghề nông và không biết làm ruộng. 23.000 người Việt mà Pháp đưa đến cũng không thạo nghề nông (quen sống ở đô thị) => thất bại. Về thành phần người được Pháp chiêu mộ, chỉ có người Việt là Pháp làm được, người Hoa thì không. Sở dĩ Pháp không dụ được người Hoa là vì sợ khi dùng họ, họ sẽ lấn quyền, lấn át quyền lợi của người Pháp Đông Dương. Người Pháp vốn không thích người Hoa vì sợ họ lập bang hội, có võ nghệ và hay dính dáng đến chính trị. Người Hoa rất gian trong trốn thuế, hàng giả và ăn ở mất vệ sinh, hay giấu nghề. Người Hoa không thích nông nghiệp (nông nghiệp sản xuất đủ dùng) mà chỉ chú trọng đến buôn bán, lừa đảo (dùng "chành" gạt một ít sản phẩm ra thì đủ) => Trở ngại lớn nhất của Pháp là không tìm được nhân công. Mặc dù chính quyền Pháp hết sức ưu ái nhưng không ai tới khai phá, đành phải dùng người Việt tại chỗ để khai thác.
Phương thức khai thác Nam Kỳ của Pháp:
- Dùng tư bản người Pháp như một lực lượng đóng vai trò chủ yếu trong khai thác Nam Bộ. Trong thời kỳ đầu (1897 - 1914) - khai thác thuộc địa lần thứ nhất, do bản thân nhà nước Pháp là "đế quốc cho vay lãi" nên rất keo kiệt; đưa vốn ra thì ít mà lại muốn thu lợi nhuận thật nhiều. Vào nửa cuối thế kỷ XIX khi mà Pháp chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, chính quyền xuất 60 tỉ franc đầu tư ra nước ngoài mà trong đó: 30 tỷ cho Nga; 26 - 27 tỷ là cho các nước châu Á (nhất là Trung Đông), 2 - 3 tỷ còn lại là cho các thuộc địa. Theo kế hoạch Doumer năm 1897, Pháp chỉ đầu tư vào Việt Nam là 300 triệu franc, một số rất ít ỏi so với đầu tư ở các nước khác. Riêng vùng Nam Bộ là vùng chúng đang khai thác, Pháp có thể đã đầu tư vào đó gần 200 triệu franc để khai thác. Tuy nhiên, do có thể không biết chi tiêu hay do sợ mất số tiền khá lớn này (sợ lỗ nhiều hơn lời), người Pháp rất ngại không muốn đầu tư nhiều vào Nam Bộ - vùng đất giàu tiềm năng nhất. Ngoài ra, việc thuê nhân công vào cũng làm Pháp tốn rất nhiều tiền; cho nên Pháp đã không dám tổ chức khai hoang, không muốn mộ dân đi khai hoang Nam Bộ. Mục đích cuối cùng là Pháp chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà thôi - đầu tư ít nhưng muốn có lợi nhiều. Trong thời gian này, do nhà nước đầu tư còn hạn chế nên việc khai phá Nam Bộ diễn ra chậm chạp. Các kế hoạch bán đất không giới hạn mặc dù đã được đưa ra để tạo điều kiện cho tư nhân Pháp đầu tư vào để tăng ngân sách, nhưng thực hiện khá chậm chạp => kết quả quan trọng là hình thành tầng lớp đại điền chủ người Việt, có sở hữu lớn về ruộng đất nhưng không biết làm nông, không giúp hiệu quả gì trong khai thác. Do cơ chế khai thác tự do nên Nam Bộ là vùng đất Pháp trực tiếp khai khẩn. Các nghị định 1913, 1926 của các Toàn quyền Sarraut và Robin cho phép bán đấu giá đất đai bị hoang hóa. Đất khi bán đấu giá là trên 10 ha và không hạn định số lượng bán. Đất đai được phép buôn bán, kinh doanh với điều kiện phải khai khẩn, nộp thuế.
- Đầu tư hạ tầng: đường bộ, đường sắt và kênh rạch. Pháp giao đất cho dân ta khai thác => tạo sở hữu lớn về ruộng đất, tạo năng suất để xuất khẩu lúa gạo.
Từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, Pháp đưa 4 tỷ franc vào và đầu tư có chiều sâu. Pháp đầu tư kỹ thuật nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế như đầu tư phân bón, cây trồng, cho kỹ sư giới thiệu giống mới... nhằm mục đích vực dậy kinh tế, tạo điều kiện để Pháp tiến hành các phương án khai thác hiệu quả Nam Bộ hơn. Trên các vùng chính ở đồng bằng sông Cửu Long, Pháp tiến hành cơ khí hóa nông nghiệp: dùng xán cạp, máy đào kênh (có từ 1890) để phát triển hệ thống kênh rạch ở Nam Bộ. Kết quả, Pháp tạo ra hai hệ thống kênh chính (1.360 km), kênh phụ (2.500 km) nhằm mục đích điều tiết, thau chua rửa mặn. Ngoài ra, Pháp cũng cử các cơ quan đi nghiên cứu nông nghiệp Nam Bộ để chọn giống cây trồng, vật nuôi, cơ khí, phân bón để áp dụng vào thổ nhưỡng Nam Bộ. Mặc dù chính quyền hết sức ưu đãi, nhưng tư bản Pháp vẫn không đến đầu tư nhiều vì không quen canh tác nông nghiệp - đất hoang hóa nhiều. Hơn nữa ở Pháp, đất hoang của nó cũng còn quá nhiều nên nó chú trọng đầu tư nước mình trước (tham nhũng, khủng hoảng chính trị ảnh hưởng đến cơ may của Pháp ở thuộc địa). Đầu tư không đồng bộ ảnh hưởng đến các quy luật, tính chất và từng loại thích hợp. Vào năm 1897 ở Đông Nam Bộ, Pháp đưa cao su (gốc từ Brazil) vào Việt Nam, trồng tốt như người Anh ở Malaya; nhiều công ty, đồn điền cao su mọc nhiều.
Sở hữu lớn về ruộng đất chính là nguyên nhân cản trở việc khai thác Nam Bộ trên quy mô lớn của Pháp; vì phương thức canh tác bất hợp lý, mang tính cướp đoạt; chế độ cấp đất đai cho nhân dân khai hoang theo kế hoạch Leroy - Beaulieu (cho phép khai phá trong 5 năm - quá thời gian đó thì đất sẽ bị sung công) làm tình trạng mất đất càng nhiều hơn. Hơn nữa, bản thân các địa chủ có sở hữu lớn về ruộng đất thì lại không biết khai hoang, không biết gì về nghề nông nên không đầu tư theo chiều sâu; cho nên phương pháp khai thác chủ yếu vẫn là dùng tá điền, nộp tô thuế. Quảng canh là phương thức canh tác chính (không kỹ thuật, phân bón), thực lực đầu tư của tá điền không có, kỹ thuật canh tác giống mới quá đắt đỏ, phân bón chưa phù hợp => Pháp không thể đầu tư toàn diện.
Kết quả:
+ Nhà nước thực dân khai phá thành công ở Tân An, Mỹ Tho, Cần Thơ và Rạch Giá. Ruộng đất ở các nơi này khai hoang nhanh, ruộng hoang không nhiều (ít ngập mặn hơn); đào nhiều kênh như kênh Rạch Giá - Long Xuyên, kênh Frerès - Bocquillon, kênh Saintenoy, kinh Maspéro, kinh Ô Môn, kinh Ba Lang... để điều tiết lượng nước, thoát nước ra biển. Theo thống kê, diện tích khai hoang tăng nhanh: 10.664 ha (1881), 20 vạn ha (1921), 38,2 vạn ha (1942), 66 vạn ha (1946). Rạch Giá là vùng đất mới, thổ nhưỡng và kênh rạch tốt nên khai phá nhanh, tư bản Pháp - bản xứ bỏ vốn thực hiện. 
Năm 1893, các công trình kênh đào và nạo vét sông tháo nước đều được Pháp lập thành kế hoạch giao cho các công ty tư nhân khai thác, lãnh thầu dưới sự kiểm soát của Nha công chính Đông Dương. Kết quả thì Pháp vét 824.000 m3 (1890 - 1900) => 7.233 m(1920 - 1930) để đào kênh. Họ đào được 1.300 km kênh chính, 2.500 km kênh phụ, phí tổn là 48 triệu franc
Riêng Đồng Tháp Mười, việc khai phá bị thất bại do nhiều nguyên nhân: tình trạng đất bỏ hoang nhiều, phèn nặng và đất "không chân" nhiều nên khó thoát nước khi nước lên (Pháp cố gắng đào kênh An Hạ, Bãi Vồn để thoát phèn; trồng lúa vào) => thất bại, 1 - 2 vụ không lời lãi gì. Một nguyên nhân khác đó là Pháp không có sự nghiên cứu toàn diện, không hiểu thổ nhưỡng Đồng Tháp Mười (phèn nặng, dùng kênh tháo phèn nhưng không ăn thua) => thất bại. Dù thất bại, nhưng Pháp cũng một phần nào khai khẩn được vùng Đồng Tháp Mười với việc cho đào nhiều kênh, mở rộng kênh mới (mở rộng vấn đề): 
Mở rộng, khai thông các kênh để phục vụ vận chuyển lương thực vào Sài Gòn. Theo ghi chép của Sơn Nam, Pháp vào năm 1866 đã cho mở rộng kênh Bảo Định, kênh Bến Lức, kênh Chợ Gạo và kênh Trà Ôn (1875). Tổng đốc Trần Bá Lộc thời kỳ này cũng ra tay đào kênh - đào kênh Tổng đốc Lộc (thời kháng Pháp đổi thành kênh Nguyễn Văn Tiếp). Cuối thế kỷ XIX, tham biện Tân An là Helgouach và Lagrange (1897 - 1902) đã cho đào các kênh nhánh (kênh 25, 26, 27, 28) để mở rộng kênh Tổng đốc Lộc; kênh Lagrange (về sau đổi thành kênh Dương Văn Dương - chiến sĩ Bình Xuyên thời kháng Pháp). Đầu thế kỷ XX, Pháp cho đào và mở rộng các kênh mới: kênh Lấp Vò (1904 - 1906), kênh Măng Thít. Năm 1907, Tổng thanh tra Công chính Pouyaune cho mở rộng các kênh Lagrange, Tổng đốc Lộc, Đá Biên (huyện Thạnh Hóa, Long An), Lacombe (1918). Từ 1923 - 1925, đào kênh nối rạch Thương Mại với sông Mỹ Tho. Từ 1921 - 1924, cải tạo mở rộng kênh Tổng Đốc Lộc và kênh số 4. Tính đến năm 1930, khối lượng đào kênh bằng tàu cuốc ở đồng bằng sông Cửu Long là 155 triệu m3, khối lượng này gia tăng đều đặn hàng năm. Sang đến năm 1936, Pháp đã cho đào 1.360 km kênh chính, 2.500 kênh phụ và hàng ngàn km kênh nhỏ với kinh phí lên đến 58 triệu đồng. 
Pháp xúc tiến các dự án đào kênh ở Đồng Tháp Mười: 
- Dự án nghiên cứu các con sông ở Tân An của Gaudary năm 1907.
- Dự án nghiên cứu Đồng Tháp Mười của Bolliet và Saraudy  năm 1907.
- Dự án nghiên cứu Đồng Tháp Mười của Gripeix và Baillie năm 1910.
- Dự án mở rộng và hoàn thiện các con kênh phía hạ lưu Hồng Ngự của Bénaberg năm 1916.
Khối lượng đào kênh tăng lên rõ rệt, chỉ trong 9 năm (1905-1913), khối lượng đào kênh bằng tàu cuốc đã lên đến 37,5 triệu m3. Nhưng do ảnh hưởng của chiến tranh Thế giới thứ nhất, hợp đồng phải thay đổi rất nhiều lần và gia hạn lại trong các năm 1927, 1928, 1929. Tình hình đó, càng làm cho công cuộc đào kênh ở Đồng Tháp Mười càng ảm đạm hơn.
Nhận xét:
- Chỉ huy đào kênh: lúc đầu là đô đốc; sau là các công ty thủy nông như Công ty đào sông và các việc công chính Đông Dương (1901), Công ty kĩ nghệ tại Đông Dương, Công ty Montvenoux (1893)... Song, Đồng Tháp Mười là vùng đất còn hoang vắng, đầy phèn, khó canh tác, đầu tư tốn kém nên chỉ một vài cá nhân có địa vị trong chính quyền Pháp vì lợi ích riêng đứng ra chỉ huy đào. Kênh Tổng Đốc Lộc là do chính Trần Bá Lộc bỏ chi phí ra đào từ khâu lên kế hoạch, thiết kế đo đạc, thuê mướng nhân công..v.v…thực dân Pháp chỉ đồng ý cho Lộc huy động dân phu. Sau Trần Bá Lộc là những viên Tham biện người Pháp như Helgouach và Lagrange, nhận thấy được lợi nhuận từ việc đào kênh đã tổ chức đào nhiều kênh mới trong vùng này (các kênh 25 – 26 – 27 – 28, kênh 12, kênh Lagrange…). Cùng đó là một số điền chủ tư nhân đầu tư đào những kênh nhỏ nối vào các kênh chính để phục vụ cho sản xuất nông nghiêp.
- Lực lượng đào kênh: lúc đầu là người Pháp với phương tiện đào kênh hiện đại (xáng múc, tàu cuốc), Nhưng có lẽ vì mục đích chính trị (kiểm soát người bản địa đang căm hờn bởi sự xâm lược của thực dân Pháp trên quê hương họ), sự nghi ngờ trong đầu tư mà không đem lại lợi nhuận như mong muốn (đang trong giai đoạn thử nghiệm) nên chính quyền thực dân sử dụng dân phu người Việt (rẻ hơn) khá nhiều cho việc đào kênh. Dân phu làm việc mệt nhọc phải phát cỏ, đào tay, dùng xe trâu để tiếp nước và lương thực cho hàng trăm phu tại giữa đồng, nhiều người chết vì sốt rét và dịch tả”; trong điều kiện khắc nghiệt (thiếu nước ngọt, rắn độc, muỗi, đỉa, nước nhiễm phèn…) nhưng công cụ thì thô sơ như cuốc, xẻng, phảng, sọt…,thế mà “chẳng được trợ cấp thức ăn, thuốc men gì cả”. Làm việc cực như thế nhưng Pháp trả lương ít ỏi: dân phu nghèo khổ tiền công có 10 - 15 xu; có nơi trả 2 - 3 hào song rất ít. Trong khi đó, bọn kỹ sư và nhà thầu Pháp lại lĩnh lương cao: 5.000 đồng Đông Dương/năm, gấp 30 lần một viên chức trung bình và gấp 100 lần một viên chức nhỏ người Việt. Ngay cả Tổng đốc người Việt chỉ lĩnh lương và phụ cấp là 300 đồng = 750 franc - 1 đồng Đông Dương = 2,5 franc. 
Mục đích đào kênh ở Đồng Tháp Mười:
- Do đặc thù về địa hình, địa mạo; nơi hoang vắng và luôn bất ổn => đào kênh với kỹ thuật thô sơ
- Kiểm soát an ninh, phát triển kinh tế - xã hội.
- Phục vụ cho tham vọng mang nền văn minh Phương tây sang nước ta để về lâu dài không ngoài gì khác là “khai hoá và khai thác”.    
Người Pháp thành công ở Nam Bộ với việc đào 2 hệ thống kênh:
- Trục tây sông Hậu: có 5 kênh, lớn nhất là kênh Thốt Nốt
- Trục Long Xuyên - Cần Thơ, giao nhau ở ngã Bảy
Các kênh đào lớn như Rạch Giá, Xà No, Long Mỹ; hình thành hệ thống đồn điền với 37 đồn điền ở miền Đông (lớn nhất là 1.000 ha). Miền Đông là nơi có đất bazan, đất xám là đất cao và không màu mỡ, mà trong bazan co ocid sắt - đá ong hóa (laterit) => đất xám.
Đặc trưng khai phá Nam Bộ:
- Nhịp độ khai thác nhanh: Pháp khai thác 80 năm = triều đình 200 năm mới khai phá xong Nam Bộ, đầu tư hàng hóa và kỹ thuật là yếu tố chính đẩy nhanh việc khai phá. Tư bản đầu tư mạnh trong lần khai thác thuộc địa thứ 2 đã làm diện tích khai phá tăng 10 lần.
- Khai phá tối đa, gần hết và đất chuyển nhượng không nhiều. Từ 1919 - 1929, toàn bộ vùng Gia Định, Gò Công, Cần Thơ, Mỹ Tho, Tân An, Sa Đéc, Trà Vinh, Rạch Giá đã khai phá xong.
- Có tác động của tư nhân Pháp vào nhiều.
- Người Việt có cống hiến lớn trong khai phá Nam Bộ. Họ hiểu thổ nhưỡng, thời vụ và đất đai nên dễ canh tác, sản xuất (Hoa, Khmer không quen); kênh đào chưa dày, thiếu hệ thống kênh phụ thoát nước => không tác dụng; đất hoang nhiều, chưa đủ kinh phí để khai phá.
- Hình thành điền sản lớn, sở hữu tư nhân lớn về ruộng đất. Ruộng hoang nhiều nên Pháp cho dân tự do khai phá, không hạn định. Do là sở hữu lớn có phương thức canh tác điền sản khá mạnh, tá điền bị bóc lột nhiều hơn. Đại diền sản lớn làm tăng thêm quyền chiếm hữu ruộng đất của địa chủ. Mỗi đại điền sản có diện tích không lớn (3 - 5 ha), nhưng đủ cho nông dân nộp tiền, thuế đất (không đầu tư) => miền Tây là lạc hậu. Sở hữu lớn thực chất là sản xuất nhỏ, không thoát khỏi kinh tế tiểu nông; ruộng nhiều nhưng người ít => khó đầu tư. 
Tính chất:
- Là thuộc địa khai thác hoàn toàn phụ thuộc vào lĩnh vực tư nhân và đặt dưới sự tự do kinh doanh.
- Không phải thuộc địa di dân, nhà nước đầu tư trực tiếp
- Phát công cho tư nhân 1.500 ha nhượng địa, sau Thế chiến I thì Pháp kiều bỏ nhượng địa; tuy nhiên nó khai phá được 2,2 triệu ha, trong đó đồn điền trồng lúa 10 vạn ha, đồn điền cao su 98 vạn ha (1930). Ở đồn điền cao su thì Pháp chỉ khai thác sinh lợi là 32.500 ha, sản xuất 10.000 tấn mủ cao su.
Sở hữu:
- Địa chủ: sở hữu nhiều ruộng đất. Có 63.000 địa chủ lớn sở hữu ruộng đất trên 10 ha (chiếm 2% số dân, nhưng hưởng 45% diện tích canh tác); địa chủ vừa và nhỏ sở hữu 5 ha ruộng đất, chiếm 15% diện tích canh tác. Ngoài ra còn 183.000 tiểu chủ, chiếm 72% dân số. Việc sở hữu càng lớn của địa chủ tạo cơ hội có lợi cho Pháp lập điền sản lớn.
- Nông dân: 354.000 gia đình nông dân không có ruộng đất, chiếm 57% dân số. Vùng Rạch Giá, Hà Tiên thì dành cho dân Bắc Kỳ định cư nhưng chỉ lôi kéo được vài nghìn người vào khai khẩn.
- Hoa kiều: chính quyền thực dân Nam Kỳ tạo điều kiện cho người Hoa hoạt động lớn ở Nam Bộ. Ở Nam Kỳ có 85.000 Hoa kiều sinh sống, tập trung nhiều ở các thành phố lớn: Sài Gòn (100.000/250.000 dân), Hải Phòng (19.000/124.000 dân), Hà Nội (5.000/128.000 dân), Nam Định (1.500/23.000 dân)
Tác động:
- Các địa chủ không trực tiếp canh tác ruộng đất mà giao cho nông dân canh tác. Ở Nam Kỳ, 85% ruộng đất (1.800.000 ha) chia thành các lô ruộng đất cho tá điền cày thuê (khoảng 5 - 10 ha). Năm 1939, Việt Nam có 6.800 đại địa chủ, riêng Nam Kỳ là 6.300 người - còn lại là 500 người; quyền sở hữu lớn về ruộng đất thuộc về tay địa chủ Nam Kỳ (Trương Văn Bền 1.800 ha, Trương Đại Danh 8.000 ha). Địa chủ giao ruộng đất cho tá điền, cho vay cắt cổ. Những loại ruộng đất này khi thu hoạch sản phẩm - chủ yếu là gạo thóc - thì đem bán cho Hoa kiều hay tư bản Pháp để thu lợi => nhưng lợi tức thu được không đóng góp gì vào sự phát triển kinh tế thuộc địa.

Chuyện về 7 bà vợ của Hoàng đế Quang Trung


Người vợ đầu tiên của vua Quang Trung là Phạm Thị Liên. Bà Liên sinh năm 1758, tại tỉnh Bình Định. Khi 16 tuổi, Bà được Nguyễn Huệ chọn làm vợ. Khi Bà mất, vua Quang Trung truyền ướp thi hài của Bà…

Các sách báo, tài liệu xưa nay, khi đề cập đến Vua Quang Trung, người ta thường viết về tài quân sự rất xuất sắc của Ông. Ngoài ra, Ông còn có các cải cách, xây dựng đất nước đáng quan tâm. Ông chỉ huy đánh dẹp loạn trong nước, đến những trận đánh lừng danh, tiêu diệt ngoại xâm, đều chiến thắng rất vẻ vang. Trăm trận trăm thắng, chưa thất bại bao giờ.
Trong bài này, tác giả viết về “ Những Bà Vợ Của Vua Quang Trung” dựa theo các tài liệu, sử sách, tác gỉả đã tìm đọc, nghiên cứu, nhiều thập niên qua, từ quốc nội ra hải ngoại. Vua Quang Trung có bảy bà vợ.

1. Bà Phạm Thị Liên
Bà Liên được sinh năm 1758 (có sách viết năm 1759), tại tỉnh Bình Định. Khi Bà 16 tuổi (1774), được Nguyễn Huệ chọn làm vợ. Nguyễn Huệ lớn hơn Bà 6 tuổi. Bà là em ruột của các ông: Hộ Giá Phạm Văn Ngạn, Giả vương Phạm Văn Trị, Thái Úy Phạm Văn Tham, Thái Úy Phạm Văn Hưng. Bà còn là cùng mẹ khác cha với Thái Sư Bùi Đắc Tuyên, Hình Bộ Thượng thư Bùi Văn Nhật.
Năm 30 tuổi (1788) Bà được phong làm “Chánh Cung Hoàng Hậu”. Tánh tình Bà hiền lành. Bà luôn luôn gắn bó rất diệu hiền với Nguyễn Huệ, suốt những năm chồng khởi nghiệp, đến cuối đời. Vua Quang Trung rất thương yêu, trân quý Bà. Bà sinh 5 người con 3 trai, 2 gái. Quang Toản được lập Thái tử. Về sau, kế tục sự nghiệp Vua Quang Trung. Nhưng Quang Toản chẳng có tài gì. Con trai kế là Quang Bàn, được phong làm Tuyên Công Lãnh Đốc, trấn Thanh Hóa. Con trai sau cùng là Quang Thiệu, được cử làm Thái Tể. Một con gái là vợ Nguyễn Văn Trị, Phò Mã, giữ cửa biển Tư Hiền. Năm 1801, bị quân của Nguyễn Ánh bắt giết. Các sách không đề cập đến con gái út.
Theo thư của Giáo Sĩ Girard, đề ngày 25/11/1792, gởi Giáo Sĩ Boiret ở Nam Cao cho biết, khi Hoàng Hậu lâm bệnh, Vua Quang Trung cho mời thầy thuốc người Âu đến chữa bệnh cho Bà. Lúc Hoàng Hậu mất, Vua Quang Trung vô cùng đau đớn, quằn quại, đến phát điên cuồng ! Bà mất ngày 29/03/1791. Vua Quang Trung truyền ướp thi hài của Bà, để trong quan tài. Gần ba tháng sau, đến ngày 25/06/1791, mới di quan chôn cất. Bà được truy tặng là “ Nhân Cung Đoan Tĩnh Trinh Thục Nhu Thuần Hoàng Chánh Hậu”. Mộ của Bà táng tại chân núi Kim Phụng, phía Tây thành phố Huế.

2. Công Chúa Lê Ngọc Hân
Công Chúa Ngọc Hân được sinh năm 1770. Con thứ 9 của Vua Lê Hiển Tông, tài sắc vẹn toàn. Năm 1786, Quang Trung đem quân ra đánh Thăng Long ( diệt Trịnh). Thế lực của Quang Trung lên như vũ bão. Thế của Lê Hiển Tông suy yếu. Cuộc hôn nhân chính trị “chẳng đặng đừng”, do Nguyễn Hữu Chỉnh đứng ra mai mối. Sau ba ngày, lễ cưới, của Vua Quang Trung với Công Chúa Ngọc Hân được tổ chức trọng thể, tại Thăng Long. Sau lễ cưới, Công Chúa xinh đẹp 16 tuổi rời cung cấm Nhà Lê, đến ở với Vua Quang Trung trong Phủ, bên bờ sông Nhị.

Năm1789, Lê Ngọc Hân được phong làm” Bắc Cung Hoàng Hậu”. Bà sinh 2 người con với Vua Quang Trung, tên Nguyễn Văn Đức và Nguyễn Thị Ngọc. Bà qua đời ngày 04/12/1799, tại Huế. Năm 1801 hai con của Bà bị Nguyễn Ánh bắt, xử tử tại Huế. Sau, một môn đệ cũ của Tây Sơn âm thầm đưa hài cốt ba mẹ con Bà về an táng tại quê ngoại, làng Phú Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Bị phát giác, vua Thiệu Trị ra lệnh phá huỷ đền thờ, đào hài cốt ba mẹ con Ngọc Hân đổ xuống sông.
Vì tài sắc vẹn tòan, giỏi thơ văn, Ngọc Hân được Vua Quang Trung yêu say đắm. Ngọc Hân xem Quang Trung là một vĩ nhân hiếm có. Vua Quang Trung trọng văn tài, giao cho Ngọc Hân coi giữ các văn thư trọng yếu. Phong cho Ngọc Hân chức Nữ Học Sĩ, dạy dỗ các con cái và các cung nữ. Ngọc Hân trở thành người cộng sự đắc lực của vủa Vua Quang Trung. Được tín cẩn về lãnh vực Vănhóa, Giáo dục, Ngọc Hân giúp, khuyên giải chồng nhiều việc quan trọng như: khuyên giải Nguyễn Huệ chấm dứt xung đột với Nguyễn Nhạc v.v…Một số biểu văn ghi công việc triều chính trong Băc Cung Hoàng Hậu Ngọc Hân, tại Phú Xuân khi Vua Quang Trung còn sống, xin trích vài đoạn sau đây: “ Kính nghĩ Hoàng Hậu là ánh sáng tỏa lan của lá ngọc cành vàng…Lúc gà gáy nửa đêm, Bà ân cần chăm sóc, giúp Hoàng Đế mặc thêm áo để lo việc triều chính. Đặt nền tảng đầu tiên là Bà. Bà đã động viên, nhắc nhở quân binh: mang áo giáp ra chiến trường, phải mang vê chiến thắng. Bà đã tham gia vào việc chiến chinh của Hoàng Đế. Bà khiêm nhường, hòa nhã, phát huy mãi phẩm chất trong sang, tự nhiên…” Một biểu khác có đoạn: “Hoàng Hậu của Bệ Hạ là dòng dõi Hoàng tộc, ân đức rạng rỡ. Đọc Kinh Thi, giải Kinh Dịch, làm nền tảng cho việc tốt đẹp, dồi dào. Siêng cần, lo thành tựu nghiệp cả…”Các bài biểu trên do triều thần ghi dâng lên Bắc Cung Hoàng Hậu Ngọc Hân.

3. Bà Bùi Thị Nhạn
Bà Nhạn được sinh tại thôn Xuân Hòa, huyện Tuy Viễn ( nay là huyện Tây Sơn), tỉnh Bình Định. Bà là em ruột của Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Cô của Nữ tướng Bùi Thị Xuân. Bà Nhạn rất giỏi võ nghệ. Sau khi bà Phạm Thị Liên qua đời, Bà Nhạn được Vua Quang Trung lấy làm vợ và Bà cũng được phong Chánh Cung Hoàng Hậu.
Bà Nhạn rất chăm học văn và võ. Bà được tôn tặng là Tây Sơn Ngũ Phụng Thư. Quan niệm về võ nghệ của Bà khác với bà Bùi Thị Xuân. Bà chủ trương: Phụ nữ học võ để phòng thân, không phải để làm nên nghiệp lớn.Sau khi kết duyên với Vua Quang Trung, Bà xuất ngũ, về chăm lo gia đình chồng.
Năm 1801, Nguyễn Ánh đánh Phú Xuân, Vua Cảnh Thịnh và bà Bùi Thị Xuân đem quân ra Bắc chống giặc. Những người thừa cơ hội, mang vũ khí vào cướp phá kinh thành.Bà Bùi Thị Nhạn cầm gươm, lên ngựa đánh dẹp tan được quân cướp.Bà tổ chức lại cấm vệ quân để giữ thành Sắp xếp lại quân ngũ, vì nhiều quan văn võ bỏ trốn, thiếu người chỉ huy các cấp. Bà dẫn quân ra Bắc, yểm trợ Vua Cảnh Thịnh, đánh chống quân của Nguyễn Ánh. Khi Nhà Tây Sơn hoàn toàn thất thủ, Bà dùng gươm tự sát, ngày 16.06.1802.

4. Bà Mẹ của Nguyễn Quang Thùy
Nguyễn Quang Thùy từng làm Tiết Chế, trấn nhậm cả Bắc Hà. Người ta biết Thuỳ là con của Vua Quang Trung nhưng, không phải là con của Bà Phạm Thị Liên ,cũng,không phải con của Ngọc Hân. Nhiều ngươi quan tâm đến gia thế của Vua Quang Trung, không biết Mẹ của Quang Thùy là ai? đã gây ra nhiều ngộ nhận, kể cả vua Càn Long Nhà Thanh bên Tàu. Quang Thùy lớn tuổi hơn Quang Toản. có tên trong danh sách sứ bộ sang chúc thọ Vua Nhà Thanh 80 tuổi, năm 1790, khiến Vua Càn Long tưởng là con trưởng của Quang Trung,phong cho Quang Thùy làm Thế Tử. Sau, biết không phải, phong cho Quang Toản. Sau khi Vua Quang Trung thăng hà, một Giáo sĩ tiết lộ: Quang Thùy là con của một nàng hầu với Vua Quang Trung.

5. Bà Trần Thị Quy
Bà Quy người Quảng Nam. Bà được Vua Quang Trung chọn làm Thứ Phi. Bà bị quân của Nguyễn Ánh bắt, đem đến bãi cát Kim Bồng chém., thả xác trôi sông. Thi hài của Bà được một số dân bí mật vớt lên khâm liệm, mai táng trong cánh đồng làng Thanh Bồng, Quảng Nam.

6. Bà Phi Họ Lê
Bà Phi này người Quảng Ngãi, có một Hoàng Tử với Vua Quang Trung. Năm 1801, Hòang Tử con của Bà cũng bị quân của Nguyễn Ánh bắt giết.
7. Bà Nguyễn Thị Bích

Bà Bích được sinh tại Quảng Trị. Con thứ 16 của một viên quan nhỏ , có sắc đẹp, được Quang Trung lấy làm Thứ Phi. Bà sinh một con trai với Vua Quang Trung. Sau khi triều Tây Sơn sụp đỗ, Bà trốn vô ở tại xã Cát Hanh, Phù Cát, tinh Bình Định. Sau khi chết Bà được chôn tại Gò Thơ Vĩnh Ân, tỉnh Bình Định.

LỊCH CŨ VNCH 1975: LIÊN TỈNH LỘ 7B CON ĐƯỜNG TRIỆT THOÁI ĐẦY MÁU VÀ NƯỚC MẮT – Trọng Đạt


LIÊN TỈNH LỘ 7B CON ĐƯỜNG TRIỆT THOÁI ĐẦY MÁU VÀ NƯỚC MẮT

Kế hoạch đã được coi như hợp thức hoá và lệnh triệt thoái được ban hành, các Tướng lãnh không ai phản đối. Khi bàn việc lựa chọn đường rút quân, Tướng Viên cho biết đường Quốc lộ 21 không thể xử dụng được vì đường 14 giữa Pleiku-Ban Mê Thuột đã bị địch cắt, Bắc Việt hiện có 3, 4 Sư đoàn chính qui tại chiến trường Ban Mê Thuột, không thể từ đó xử dụng đường 21 về Nha Trang. Đường 19 nối Pleiku – Qui Nhơn cũng khó thành công vì đèo An Khê đã bị cắt ở hai phía Đông, Tây, Cộng quân đóng chốt nhiều nơi, trước đây Pháp đã từng bị Việt Minh phục đánh kích tan tác trên đèo này. Ngoài đường số 7 không còn đường nào khác, Tướng Phú đề nghị chọn đường số 7, kế hoạch được chấp thuận.
Tướng Phú lệnh cho Lữ đoàn 2 Kỵ binh rút từ đèo Nang Yang về tăng phái cho Liên đoàn 23 BĐQ và Công binh để sửa chữa cầu cống, giữ an ninh trên lộ trình đường số 7. Tỉnh Lộ 7 từ ngã ba Mỹ Thạnh tới Tuy Hoà trước đây là đường trải đá, có 3 cầu chính: Phú Thiện 50m, Le Bac 600m, Cà Lúi 40m. 
Đoạn cuối tỉnh lộ 7 trong địa phận Tuy Hoà, quận Củng Sơn không an toàn cho sự lưu thông. Ngày 16-3 đoàn xe quân sự bắt đầu rời Pleiku, Tướng Phú và Bộ Tư lệnh đi trực thăng về Nha Trang, để lại Chuẩn tướng Phạm Duy Tất lo đôn đốc di tản. Cuộc lui binh gồm có 4 đoàn, mỗi đoàn 250 xe, tổng cộng có 1,200 xe cộ . Ngày 16-3 đoàn xe lên đường êm xuôi vì có yếu tố bất ngờ, thấy di tản nhanh và dễ dàng nên khi tới Phú Bổn Tướng Phú ra lệnh ngưng lui binh và lập phòng tuyến tại Hậu Bổn. Các biến cố dồn dập sau đó vượt khả năng của giới thẩm quyền, quân nhân tại Phú bổn bị ảnh hưởng giây chuyền cũng hốt hoảng gia nhập đoàn chạy loạn.
Ngày hôm sau 17-3 dân chúng Kontum, Pleiku chạy ùa theo làm náo loạn cuộc lui binh, tình hình đã không thuận lợi như ngày đầu mà lại gây nhiều trở ngại cho sự triệt thoái.
Ngày 18-3 Liên đoàn 7 BĐQ đang cùng Thiết giáp diệt các chốt CS. Thì xui xẻo bị không quân oanh tạc lầm, gây nhiều thương vong cho quân bạn.
Hỗn loạn xẩy ra, lính Thượng nổi loạn đốt doanh trại và giết nhiều người Việt khiến tình hình càng phức tạp, bọn lưu manh côn đồ, bọn nằm vùng đốt chợ, CS pháo kích phi trường gây kinh hoàng cho đoàn người di tản, tối đến địch pháo kích thị xã gây nhiều tử thương cho quân dân di tản. Các chiến xa M-48, M-41 bị phá hủy 70%, lực lượng chiến xa pháo binh dồn đống tại Phú Bổn. Sau trận pháo kích dữ dội của Cộng quân, các xe tăng M-48, M-41, đại bác bị hư hại hết không thể xử dụng được, 40 chiến xa và 8 khẩu 175 ly bị phá hủy.
Từ ngày 16-3 –1975 Sư đoàn 320 CS Ở Buôn Hô (Ban Mê Thuột) gần đoàn quân triệt thoái được lệnh hành quân cấp tốc đuổi theo đánh phá, đến 18-3 lực lượng lớn của BV tiến vào Phú Bổn, đánh phá dữ dội rồi tiếp tục đánh xuống Củng Sơn, các Liên đoàn BĐQ, thiết giáp, bộ binh của VNCH bị thiệt hại nặng. Địch xử dụng nhiều đại bác, xe tăng lấy được của ta để truy kích đánh phá, một lỗi lầm tai hại của cuộc lui binh mà không ai ngờ tới.
Nhận được báo cáo tình hình nguy khốn Tướng Phú ra lênh bỏ Hậu Bổn để rút về Tuy Hoà. Cuộc chạm súng tại Hậu Bổn kéo dài tới sáng hôm sau, đoàn quân đi được 20km thì Cộng quân đã tràn vào Phú Túc, Liên đoàn 7 BĐQ chiếm lại quận Phú Túc. Khi ra khỏi Phú Túc, súng nổ khắp nơi giành đường đi, hỗn loạn ngày càng trầm trọng. suốt dọc đường vì cuộc lui binh thê thảm này, dân chết lính chết, thật là một địa ngục, một hành lang máu.
Công binh lập 2 cầu nổi, một tại Le Bac, một tại Đồng Cam, đoàn xe đến được sông Ba thì thì bị cát lún, mất ba ngày để trực thăng chở vỉ sắt lót đường, dù gặp khó khăn đoàn xe đầu tiên về tới Tuy Hoà, chỉ vì một chiếc xe bị kẹt giữa cầu nổi khiến cả đoàn quân tắc nghẽn. CSBV tổ chức các chốt chặn đường, một Tiểu đoàn ĐPQ và một Tiểu đoàn BĐQ được giao nhổ chốt.
Ngày 22-3 hai Tiểu đoàn BĐQ ở đoạn hậu đánh tan Trung đoàn 64 CS (SĐ -320) gây nhiều thiệt hại buộc Trung đoàn nầy phải rút lui. BV đưa thêm các lực lượng đã tham chiến tại Ban Mê thuột với chiến xa yểm trợ theo tỉnh lộ 287 đổ xuống đường số 7. Tướng Cẩm báo cáo Tướng Phú, Tướng Phú ra lệnh cho Tướng Cẩm và Bộ tham mưu lên trực thăng bay về Tuy Hoà, những người còn lại chạy về hướng Đông. Phía Tây xe tăng CS đang tiến tới, hướng Bắc là Pleiku, hướng Nam địch đang đóng chốt, ai len lỏi theo sông Ba thì về được Tuy Hoà.
Ngày 26-3 Tiểu đoàn 34 BĐQ thanh toán các chốt sau cùng tại xã Mỹ Thạnh Tòng, những người, xe còn lại của cuộc lui binh đã tới được Tuy Hoà, trong số 1,200 xe cộ chỉ còn có 300 mở đường máu tới nơi.
Sáu năm sau, vào giữa tháng 3-1981, Đài phát thanh VOA đã bình luận :
“Cuộc rút quân trên đường số 7 được coi như một cuộc thảm bại lớn nhất trong lịch sử chiến tranh tại miền Nam Nước Việt từ trước đến nay”.
Phạm Huấn gọi đó là hành lang máu, con đường máu và nước mắt dài 300 km trong 9 ngày đêm, đó cũng là một cuộc hành quân phá sản. Hậu quả là tổn thất của cuộc lui binh thật khủng khiếp, theo Nguyễn Đức Phương khi ra đi có khoảng 60 ngàn quân khi tới Tuy Hoà chỉ còn khoảng một phần ba tức 20 ngàn người, 5 Liên đoàn BĐQ khoảng 7,000 chỉ còn 900 người, Lữ đoàn 2 thiết kỵ với hơn 100 xe tăng thiết giáp chỉ còn lại 13 cái M-113.
Trong Những Ngày Cuối của VNCH Tướng Cao Viên cho biết có ít nhất 75% khả năng tác chiến của quân đoàn II bao gồm sư đoàn 23 bộ binh cũng như các lực lượng Biệt động quân, Thiết giáp, Pháo binh, Công binh và Truyền tin đã bị hủy hoại chỉ trong vòng có mười ngày.
Chiến dịch Tái chiếm lại Ban Mê Thuột không thể thực hiện được, đơn giản chỉ vì Quân đoàn 2 không còn lực lượng tác chiến nào cả. Quân Cộng Sản đã chiếm được Kontum, Pleiku không cần phải chiến đấu. Khuyến khích bởi chiến thắng với tầm mức không ngờ, các sư đoàn F10, 316 và 320 CSBV quyết định đánh tới.
Ngay lúc bấy giờ, địch quân biết rằng lực lượng mà Quân đoàn II xử dụng để ngăn chận bước tiến quân của họ về hướng bờ biển chỉ còn có Lữ đoàn 3 Dù tại Khánh Dương với tổng số gần 3000 binh lính.
Theo tài liệu Mỹ (The World Almanac Of The Viet Nam War.) và của Nguyễn Đức Phương, trong số 400 ngàn dân Cao nguyên chạy loạn chỉ có 100 ngàn tới được Tuy hòa. Nhưng Theo Tướng Hoàng Lạc trong số 200 ngàn dân chạy loạn chỉ có 45 ngàn tới Tuy Hoà. Các kho quân dụng tại Kontum, Pleiku bỏ ngỏ, tất cả quân dụng, vũ khí trị giá 253 triệu Mỹ Kim lọt vào tay CS. Sự thiệt hại về tinh thần còn to tát hơn nhiều. Theo tướng Hoàng Văn Lạc kế hoạch không đầy đủ, kỷ luật hỗn tạp, không nghiên cứu lộ trình, cầu cống, dân chúng và gia đình binh sĩ hỗn độn làm cho quân đội mất tinh thần khiến ai cũng chỉ lo chạy tháo thân. Dân chúng nghe tin tức bi quan qua đài BBC đã ồ ạt chạy về phía Nam làm náo loạn cuộc triệt thoái khiến cho tinh thần binh sĩ xuống thấp.
Tổng cộng 60 ngàn quân triệt thoái chỉ có 20 ngàn tới được Tuy Hoà, khoảng 200 ngàn dân chỉ có 45 ngàn tơi nơi yên lành. Những người thương binh trong các bệnh viện cũng như bị thương trên đường chạy loạn chỉ nằm chờ chết vì bác sĩ y tá không còn nữa, số người bị thương bị giết.. có thể lên tới nhiều nghìn hay hàng vạn người.
Tướng Cao Văn Viên nói:
“Thất bại tự tạo của quân đoàn II là một giấc mơ hãi hùng trên cả hai phương diện tâm lý và chính trị cho dân chúng cũng như cho QLVNCH. Rối loạn, lo âu, sợ hãi, lên án, tội lỗi cũng như thất vọng bắt đầu đè nặng lên tâm trí mọi người”
Những tin đồn cắt đất nhường cho Cộng Sản lan nhanh khiến người ta đổ xô nhau chạy về hướng Nam, Quân khu 1 cũng rơi vào tình huống tương tự.
Không biết tin đồn ấy do đâu mà ra, cũng có thể do CS nằm vùng tung ra để gây hoang mang náo loạn, tin cắt đất này đã ảnh hưởng vô cùng tai hại, cùng với sự tuyên truyền xuyên tạc và phá hoại của đài BBC Luân Đôn, quân dân Vùng 1 và 2 cứ ùn ùn kéo nhau chạy về phương Nam khiến cho CS không phải đổ máu vẫn chiếm được nhiều lãnh thổ của miền Nam . Trong khi ấy tại Sài Gòn phía đối lập tăng hoạt động bất tín nhiệm chính phủ TT Thiệu, quân đội cũng mất tin tưởng người ta cho rằng chỉ có phép lạ may ra cứu được miền Nam.
Cuộc lui binh trên tỉnh lộ 7 đã đi vào vết xe đổ của trận Cao Bắc Lạng năm 1949 và cuộc di tản Quảng Trị cuối tháng 4-1972. Cuối tháng 9-1949, Đại Tá Charton triệt thoái 3 tiểu đoàn Pháp ra khỏi Cao bằng đến đầu tháng 10 bị Việt Minh chận đánh tan rã, Pháp mất 7,000 quân và nhiều đơn vị tinh nhuệ, 500 quân xa, trên 100 súng cối và 13 đại bác, 10 ngàn súng cá nhân và cộng đồng, đại liên trung liên, trận đánh đã rung động cả nước Pháp.
Cuối tháng 4 năm 1972, các đơn vị phòng thủ Quảng Trị dưới sự chỉ huy của Tướng Vũ Văn Giai, vùng trách niệm của Sư đoàn 3 thu hẹp dần, Việt Cộng tấn công phía Tây và Nam Quảng Trị, cô lập lực lượng phòng thủ, binh sĩ ta ngày càng suy sụp tinh thần trước những trận pháo kích dữ dội của CSBV. Trước hoàn cảnh thiếu thốn tiếp liệu trong khi địch tấn công dữ dội, Tướng Giai trình bầy kế hoạch triệt thoái về Nam sông Thạch Hãn với Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh vùng 1.
Được Tư lệnh chấp thuận, ông cho lui binh tức thì ngày 1-5-1972 Sư đoàn 3 và các lực lượng tăng phái như Thiết giáp, Biệt động quân, Thuỷ quân lục chiến.. tất cả khoảng 6 Trung đoàn cùng với dân chúng miền địa đầu giới tuyến ồ ạt lui về Nam qua Quốc lộ I. Cộng quân thừa cơ phục kích và dùng pháo binh tần xa cùng như tầm gần tha hồ pháo kích và bắn trực xạ vào đoàn người di tản làm chết như rạ trên đại lộ kinh hoàng, Quốc lộ 1 đầy các loại xe bốc cháy, gần 20.000 người vừa dân và lính bỏ xác tại đây, Lữ đoàn thiết kỵ có hơn 1,000 người tử thương, Sư đoàn 3 chết 2,700 người, mất 100 xe tăng, 140 đại bác …
Đại tá Phạm bá Hoa nói.
“Những bài học chiến thuật trong trường Võ bị cũng như trường Đại học quân sự..đều thừa nhận rằng, trong các cuộc hành quân thì hành quân rút lui (hay triệt thoái, lui binh) là nhiều nguy hiểm hơn các cuộc hành quân khác, vì đơn vị đưa lưng về phía địch. Khi tấn công thì trước mặt là địch và sau lưng là hậu tuyến, còn trong rút lui thì trước mặt là hậu tuyến mà sau lưng trở thành tiến tuyến. Nguy hiểm là vậy. Nguyên tắc căn bản của bài học lui binh là phải có một lực lượng hành quân giao tiếp để bảo đảm an toàn phía trước mặt (hậu tuyến), còn lực lượng lui binh thì tự bảo vệ phía sau lưng (tiền tuyến), ngoài ra phải được không quân quan sát và yểm trợ hoả lực nữa.
Với cuộc hành quân giao tiếp chậm chạp từ Tuy Hoà lên, đoàn quân triệt thoái ngày càng tan tác trên đường lui binh vô cùng hỗn loạn vì bị quân Việt Cộng liên tục phục kích, tập kích. Khi về đến Tuy Hoà thì tổn thất đến nỗi không còn khả năng thực hiện kế hoạch phản công tái chiếm lại Ban Mê Thuột được nữa. Số dân thường bị chết dọc đường nhiều không kém số thương vong của quân đội. Chết vì súng đạn, chết vì xe cộ tranh giành lối đi mà gây tai nạn bừa bãi, chết vì tranh nhau miếng ăn nước uống, chết vì cướp giật…”
(Cuộc Rút Quân Trên Đường Số 7)
Lần đầu tiên trong chiến tranh Đông Dương cả một quân đoàn phải rút chạy. Thất bại trên đường số 7 một phần do thất thủ Ban Mê Thuột, nếu không mất Ban Mê Thuột chắc không ai nghĩ phải bỏ Kontum Pleiku, từ sai lầm chiến thuật đi đến sai lầm chiến lược. Ngoài ra sự bội tín của Tổng Thống Hoa kỳ bỏ Việt nam và tin cắt quân viện của Quốc Hội Mỹ cũng làm TT Thiệu điên đầu. Các cuộc hành quân không được Bộ Tổng tham mưu điều khiển giám sát, Tổng thống ra lệnh trực tiếp cho các Tư lệnh quân đoàn, Bộ Tổng tham mưu không được ra bất cứ lệnh nào cho các đơn vị, một phần vì TT Thiệu dành độc quyền lãnh đạo nên mới đưa tới sụp đổ hệ thống phòng thủ nhanh như vậy.
Nhiều người cho rằng Tướng Phú không đủ khả năng kiểm soát đôn đốc cuộc lui binh cấp Quân đoàn, sự thực không hẳn như vậy, chẳng riêng gì tại quân khu 2 mà ngay cả Quân khu 1 kiện Tướng Ngô Quang Trưởng cũng đành bó tay không thể kiểm soát nổi tình hình rối loạn.
Phạm Huấn cho rằng trên thực tế không có một lệnh tổng quát nào cả, cuộc lui binh không được tổ chức, giám sát, thi hành báo cáo chính xác, các ông Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên, Phụ tá hành quân Lê Nguyên Khang, Tham mưu trưởng liên quân Đồng văn Khuyên .. chưa hề một lần bay ra thị sát mặt trận, họ chỉ ngồi trong phòng lạnh điều binh khiển tướng bằng điện thoại. Cũng theo Phạm Huấn các Tướng Trần văn Cẩm, Phạm văn Phú … những người chỉ huy cuộc triệt thoái bay trực thăng thật cao trên trời, cả một Quân đoàn không có ai chịu trách nhiệm.
“Mặc dù Cộng quân có gia tăng quân số thật nhưng chính những quyết định hạn chế đạn dược, rút quân sai lầm nói trên đã ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần toàn thể Quân, Dân, Cán Chính và làm cho sự sụp dổ miền Nam VN quá nhanh và quá nhục nhã. Đúng ra khi lệnh rút lui Quân đoàn 2/QK2, Tổng thống Thiệu phải chỉ thị cho Đại Tướng Viên, các vị Tư lịnh và Chỉ huy trưởng các Quân Binh Chủng phải ra Nha Trang để tận tình giúp Tướng Phạm Văn Phú điều động và yểm trợ cuộc rút quân lớn nhứt trong lịch sử QLVNCH. Thiếu tất cả mọi hỗ trợ căn bản cần thiết, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đành làm người hùng cô đơn vì mọi sự việc rút lui ngoài khả năng và kinh nghiệm của ông”
(Cuộc Chiến Dang Dở trang 272)

Theo cựu Đại tá Phạm Bá Hoa trong bài Cuộc Rút Quân Trên Đường Số 7 nói:
“Cho dù ở vào trường hợp nào đi nữa thì rõ ràng là quân Cộng Sản mà mình tưởng nó bao vây hay sắp sửa bao vậy Pleiku, nhưng thật ra chúng còn ở tận đâu đâu nên mãi bốn ngày sau đó là thời gian sớm nhất chúng mới vào chiếm Bộ Tư Lện Quân Đoàn , trong khi những Sư đoàn của chúng càng ở xa Pleiku về hướng Nam và Đông Nam thì khoảng cách càng gần với đoàn quân triệt thoát hơn, do đó mà thiệt hại của quân đoàn nặng nề chưa từng thấy trong hơn 20 năm chiến tranh! Một thất bại vô cùng đau đớn cho những người cầm súng…”
Một điều xui tai hại là con đường đường rút quân tỉnh lộ 7 lại gần vị trí đóng quân của Sư đoàn 320 CSBV tại Buôn hô , Ban Mê Thuột, họ được lệnh đuổi theo ngày 16-3, chỉ hai ngày là đã đuổi kịp và đánh phá đoàn quân triệt thoát gây thiệt hại nặng nề.
Sau này ngày 21-4-1975, Sư đoàn 18 BB, lực lượng Kỵ Binh, TĐ 82 BĐQ và Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù lưc lượng tăng phái cho chiến trường Xuân Lộc cũng đã thực hiện rút quân tại Xuân Lộc nhưng lại lại được chỉ huy bởi Tư Lệnh chiên trường Thiếu Tướng Lê Minh Đảo và có tính toán sắp xếp trật tự, Tất cả hợp đồng Binh chủng và kỷ luật thật cao nên đã đạt an toàn, ít thiệt hại, người ta đã cho di tản gia đình binh sĩ trước để lính an tâm chiến đấu. Cuộc rút quân của Sư đoàn 18 và lực lượng tăng phái cho thấy sự thất bại của Quân khu 2 và 1 là.
– Thiếu chuẩn bị, không lập kế hoạch lui binh cận thận.
– Không kiểm soát đôn đốc cấp chỉ huy.
– Gia đình binh sĩ, dân chúng di tản làm rối loạn hàng ngũ quân đội.
– Không duy trì được kỷ luật
Ngoài ra vì thiếu tin tức tình báo đoàn quân triệt thoái lại đi ngang tổ kiến VC, Sư đoàn 320 BV đóng tại Buôn Hô gần đoàn di tản đã đuổi kịp sau hai ngày.
Dân chúng tị nạn làm náo loạn cả lên, binh lính mất tinh thần nên nhiều đơn vị đã rã ngũ, tan hàng mặc dù chưa có chạm súng, người dân chạy loạn đã làm đảo lộn kế hoạch triệt thoái của Quân đoàn.
Cuộc triệt thoái khiến cho Cao nguyên lọt vào tay Cộng quân chỉ trong mấy ngày, nó cũng kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ Quân khu 2 và cũng đã để lọt vào tay địch nhiều vũ khí đạn dược, xe tăng, đại bác.

Trọng Đạt

Tài Liệu tham khảo.
Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975, Đại Nam.
Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography 2003.
Phạm Huấn: Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975, Cali 1988.
Phạm Huấn: Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, Cali 1987.
Văn Tiến Dũng: Đại thắng Mùa Xuân, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HàNội 2005.
Trần Đông Phong: Việt Nam Cộng Hoà, 10 Ngày Cuối Cùng , Nam Việt 2006.
Dương Đình Lập: Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi dậy Mùa Xuân 1975, Nhà xuất bản Tổng Hợp T.P.H.C.M 2005.
Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1990.
Lam Quang Thi: Autopsy The Death Of South Viet Nam, 1986, Sphinx Publishing.
The Word Almanac Of The Viet Nam War: John S. Bowman – General Editor, A Bison-book 1958.
Stanley Karnow: Viet Nam, A History, A Penguin Books 1991.
Marilyn B. Yuong, John J. Fitzgerald, A. Tom Grunfeld: The Viet Nam War, A history in documents, Oxford University
Press 2002.
Nguyễn Định: Ban Mê Thuột Ngày Đầu Cuộc Chiến, bút ký, internet.
Phạm Bá Hoa: Cuộc Rút Quân Trên Đường Số 7B, Người Việt Dallas 19-3-2004
Hồi Ký Của Trung Uý D: Những Ngày Cuối Cùng Trên Liên Tỉnh Lộ 7B, Người Việt Dallas, 25-3-2005.
Thiếu Tướng Lê Quang Lưỡng: Thiên Thần Mũ Đỏ, Ai Còn Ai Mất, Người Việt Dallas số 7-10-2005.
Nguyễn Kỳ Phong: Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam: Người Việt Dallas 21-6-2006 .
Lewis Sorley: Lịch Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Trần Đỗ Cung dịch, Người Việt Dallas số 26-4-2006.
Trần Gia Lương: Một Cái Nhìn Về Tướng Phạm Văn Phú, Sài Gòn Nhỏ Dallas 2004
Tú Gàn: Trở Lại Trận Ban Mê Thuột, Sài Gòn Nhỏ Dallas Tháng 4-2005.
Trung Tướng Lữ Lan: Cuộc Chiến Ba Mươi Năm Nhìn Lại Từ Đầu, Sài Gòn nhỏ Dallas 28-4-2006.

Những ngày cuối cùng trên liên Tỉnh lộ 7B - Theo hồi ký của Trung úy D. (Biệt Động Quân):

Huy hieu Biet Dong Quan
Theo hồi ký của Trung úy D. (Biệt Động Quân): “Những trang sử bi thảm của một Quân đội kiêu hùng”

Đoàn xe GMC của Trường Bộ binh Thủ Đức ngừng lại tại ngã tư Trương Minh Giảng-Tú Xương; trên đoàn xe là những Sinh viên Sĩ quan khóa 1/72 trừ bị. Họ đã nhập ngũ theo lịnh “Tổng động viên” sau Mùa Hè Đỏ Lửa. Tất cả vội vàng nhảy xuống xe rồi tản mát đi khắp hướng của Saigon. Hôm nay cũng là ngày Hiệp định Ba-Lê có hiệu lực trên toàn cõi VN; tôi là một trong những Sinh viên Sĩ quan ấy. Tôi lững thững tản bộ về nhà để tận hưởng cái cảm giác thoải mái sau những ngày ép mình với kỷ luật của Quân trường. Trời Saigon đã sẫm tối, từ dốc cầu Trương Minh Giảng về hướng phi trường Tân Sơn Nhất, cả một rừng cờ treo trước cửa của nhà dọc hai bên đường, trên những cao ốc. Tiếng hát ca sĩ Khánh Ly vọng ra hè phố từ một quán càfé bên cạnh khu Đại học Vạn Hạnh “Ta đã thấy gì trong đêm nay, cờ bay trăm ngọn cờ bay… Mặt đất rung rinh, tin hòa bình bay về khắp hướng”. Nghe những điệu nhạc này tôi lâng lâng thoáng chút hy vọng khi nghĩ đến hai chữ Hòa Bình.
Chút thoáng hy vọng về Hoà Bình ấy thực sự đã tiêu tan khi tôi đặt chân lên đất Pleiku. Pleiku, thành phố của lính. Pleiku với thơ mộng trong một bài hát “Em Pleiku má đỏ môi hồng”. Chiến tranh vẫn diễn ra khốc liệt trên lãnh thổ Quân Khu. Đặc biệt tại vùng Pleiku-Kontum và Phân Khu Bắc Bình Định-Bồng Sơn-Tam Quan. Từ Bộ chỉ huy Biệt Động Quân, tôi nhận sự vụ lệnh trình diện Tiểu đoàn 42 Biệt Động do Thiếu Tá Phạm Văn Tiến làm Tiểu đoàn trưởng. Lúc này Tiểu đoàn đang trách nhiệm tại vùng sở trà Kafeka, quận Thạnh An. Trong một lần dẫn Trung đội đánh chiếm cao điểm 30, tôi bị thương khá nặng, xuất viện tôi được thuyên chuyển về Bộ chỉ huy Biệt Động Quân (BĐQ) Quân khu 2 và nhận nhiệm vụ Sĩ quan Hành quân tại Trung tâm hành quân cho đến ngày cuối cùng khi Quân đoàn II di tản trên Liên tỉnh lộ 7B.
Tháng 12/1974, Đại tá Phạm Duy Tất, Chỉ huy trưởng BĐQ Quân khu 2 đuợc chỉ dịnh làm Tư lịnh mặt trận Kontum, do đó tất cả quân nhân thuộc Phòng 2, Phòng 3 và Trung tâm hành quân được điều động lên Kontum để thành lập Bộ tư lịnh Mặt Trận.
Những tháng cuối năm 1974, Mặt trận Kontum không có những trận đánh lớn, tình hình tương đối yên tĩnh một cách không bình thường. Nhân dịp gần đến cuối năm, phòng Chiến tranh chánh trị (CTCT) đã mời một số ca sĩ như Khánh Ly, Ngọc Minh lên Kontum hát tại những tuyến đầu của Mặt trận. Những ngày Tết đã êm đềm trôi qua, Cộng quân không pháo kích vào Thị xã và Bộ tư lịnh.
Ngày 12/3/75, Thiếu tá Khôi, Trung tâm trưởng Trung tâm hành quân ra lịnh cho chúng tôi thu dọn gấp để kịp dời Kontum ngày hôm sau về lại Pleiku. Bộ Tư lịnh hành quân sẽ đóng tại Hàm Rồng nơi đặt Bộ Tư lịnh Mặt trận Nam Pleiku của Tư lịnh Sư đoàn 23 Bộ binh. Tướng Tất kiêm nhiệm Tư lịnh Mặt trận Nam Pleiku.

Đoàn xe chỡ chúng tôi cùng với Liên đoàn 4 BĐQ di chuyển ngang qua Thị xã, dân chúng ngơ ngác nhìn với ánh mắt lo âu. Dân chúng ở đây đã quen nhiều với chiến tranh, họ thường vui mừng khi thấy quân vào Kontum và thoáng lo âu khi thấy bất cứ một đơn vị quân chủ lực nào rút đi. Thực sự giờ phút đó tôi cũng không hiểu tại sao mà toàn bộ BĐQ chúng tôi lại hối hả rút đi như thế lại không có đơn vị nào hoán đổi vùng trách nhiệm như thường lệ từ trước đến nay. Kontum đã bỏ ngỏ từ ngày hôm ấy khi toàn bộ quân chủ lực được rút đi.
Đơn vị chúng tôi về tới Hàm Rồng chưa đầy 5 ngày thì ngày 17/3/75 Quân đoàn II bắt đầu di tản theo Liên tỉnh lộ 7B về Tuy Hòa. Bộ Tư lịnh Quân đoàn được không vận về Nha Trang. Nhưng Bộ Tư lịnh Mặt trận của Tướng Tất chúng tôi vẫn làm việc kỷ luật và bình thường. Những ngày này Tướng Tất luôn luôn hỏi đến hai Liên đoàn 4 và 25 rút các đứa con khỏi trận địa vùng Thạnh An và Pleiku. Tướng Tất chỉ huy Đoàn quân trên liên tỉnh lộ vào trưa về Bộ tư lịnh; vào chiều đó, ông lại bay trên đoàn quân di tản để chỉ huy.
Chín giờ sáng ngày 20/3/75, những Quân nhân cuối cùng của Bộ Tư lịnh Mặt trận băt đầu rút khỏi căn cứ Hàm Rồng. Tôi được lịnh đi trên chiếc xe tăng M113 chỉ huy của Tướng Tất. Đoàn xe dời Hàm Rồng chạy qua phố chính của thị xã Pleiku phố xá vắng tanh. Những cửa tiệm bị cướp phá tan hoang. Một thành phố chết. Tôi ngồi trên xe đưa mắt nhìn về hướng Bộ Tư lịnh Quân đoàn và phi trường Cù Hanh thấy những cột khói đang bốc cao tại hai nơi này.
Tướng Tất hằn rõ nét ưu tư trên khuông mặt đen xạm của ông. Ông là vị Tướng mới nhất của QLVNCH và cũng là vị Tướng duy nhất của Quân đoàn II cùng Bộ Tham mưu triệt thoái bằng đường bộ. Các cuộc điện đàm liên tiếp giữa Tướng Tất và các Đơn vị trưởng đang di chuyển trên Liên tỉnh lộ 7B cho tôi hiểu lệnh của ông đã không được thi hành đúng. Thực sự đến ngày hôm nay 20/3/75, lệnh của ông chỉ còn hữu hiệu với các đơn vị BĐQ mà thôi. Tướng Tất đã dùng các Tiểu đoàn BĐQ thiện chiến nhất của Liên đoàn 4 (một Liên đoàn nổi danh đã làm VC phải khiếp sợ tại vùng châu thổ sông Cửu Long -Tiểu đoàn 42 “Cọp Ba Đầu Rằn”). Hành quân bọc hậu, đây là một trong những cố gắng sau cùng của Tướng Tất nhưng sự hỗn độn vô cùng của quân và dân xen kẽ nhau, tắc nghẽn xe cộ đã làm tiêu tan mọi hy vọng của vị Tướng chỉ huy đoàn quân triệt thoái này.
Khoảng 3 giờ chiều cùng ngày, chúng tôi đến được Tỉnh lỵ Phú Bổn. Tướng Tất ngồi trên mũi trước chiếc M113 cho xe chạy vòng quanh phố tỉnh nhỏ xíu này rồi đậu trong sân trường tiểu học. Từ chiếc máy truyền tin trong xe Đại tá Hồng, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn II Kỵ binh, và Đại tá Tây, Liên đoàn trưởng Liên đoàn BĐQ đang liên tiếp báo cáo với Tướng Tất diễn tiến đánh diệt các chốt chận cấp Tiểu đoàn của địch gồm các Tiểu đoàn K13, K9, K2 và các Tiểu đoàn chủ lực miền của Cộng quân. Tiếp sau là một phi tuần A39 đánh bom lầm vào đơn vị bạn, vụ đánh lầm này đã gây bất hòa về chỉ huy giữa hai Đại tá.
Ánh nắng lại gần tắt, mặt trời đã xuống tới đỉnh núi ở xa xa thì tin từ Nha Trang cho biết Sư đoàn 320 do tên Đại tá Bắc Việt Vũ Lăng làm Tư lệnh đang gấp rút bôn tập về Phú Bổn để chặn đánh quân ta. Trên khuôn mặt đã xạm đen vì nắng cháy, Tướng Tất nén tiếng thở dài. Ông đang nghĩ gì…??
Trong gần hai năm làm việc tại Trung tâm Hành quân, tôi thường được tiếp xúc với ông khi chiến trường sôi bỏng. Tại Bộ Tư lịnh tiền phương trên đồi 37 Pháo binh (Pleiku), ông đoán quyết với Thiếu tá Long, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 82 Biệt Động, bằng mọi giá phải giữ vững căn cứ Pleiku khi bị 3 Trung đoàn quân chính quy Cộng sản Bắc Việt vây hãm. Cùng thời gian khi căn cứ Pleiku đang bị địch xung phong biển người, chúng hy vọng dứt điểm căn cứ này thì 3 căn cứ hỏa lực khác là 522-433-711 bị cộng quân tràn ngập trong đêm. Tướng Tất đã điều Tiểu đoàn 90 với Thiếu tá Phan Bát Giác, người Tiểu đoàn trưởng tài bà này đã dùng quân theo lối đánh của “Tổ Tam Tam” lấy lại ba căn cứ hỏa lực trên ngay trong ngày hôm sau. Pleiku vẫn đứng vững ngạo nghễ sau đợt tấn công biển người. Chưa bao giờ tôi cảm nhận được ở ông nỗi thất vọng chua chát như trong tiếng thở dài của buổi chiều hôm đó…
Thiet van xa M113, QLVNCH
Ánh nắng chiều đã tắt hẳn, Tướng Tất ngã mình trên chiếc võng căng trong xe. Tôi trực máy truyền tin trong xe. Khoảng 5 giờ chiều, tiếng máy truyền tin gọi rè rè “Trường An – Hiệp Tình”. Trường An là ám danh đàm thoại của Tướng Tất, Hiệp Tình là Tướng Phú, Tư lịnh Quân đoàn. Tôi cầm máy trả lời “Trình Mặt Trời – Trường An nghe”, tôi chưa kịp lên tiếng gọi Tướng Tất vì lúc đó ông vừa như thiếp đi trên võng thì tiếp theo một vọng nói thật nhanh “Anh nói với Trường An – Đạp lên mà đi”. Là một Sĩ quan hành quân, tôi hiểu đó là lệnh sau cùng khi không còn cách nào khác để cứu vãn tình thế hiện tại, giờ khai tử của đoàn quân bị tắc nghẽn tại Phú Bổn này đã điểm, tôi xúc động lặng đi trong giây phút thì Tướng Tất chợt tỉnh. Ông hỏi :”Có gì không?”. Tôi trả lời cho ông nguyên văn lệnh của Quân đoàn. Tướng Tất ngồi dậy bước ra khỏi chiếc M113. Ông cho gọi tất cả đến rồi dặn dò với chúng tôi một câu ngắn gọn “Các anh theo Trung tá Huấn, Tôi sẽ cho C&C bốc các anh”.
Trời lúc này đã xẫm tối khoảng 17 giờ 30, một trực thăng đáp xuống sân trường Tiểu học Phú Bổn bốc Tướng Tất, Đại tá Hoàng Thọ Nhu, Tỉnh trưởng Pleiku. Chiếc trực thăng cất cánh mang theo điểm tựa và niềm hy vọng sau cùng của chúng tôi.
Tướng Tất đi rồi, Trung tá Huấn, Liên đoàn trưởng Liên đoàn 22 BĐQ nói với chúng tôi là phải gấp rút dời xa Phú Bổn càng nhanh càng tốt vì sau đó sẽ có những phi tuần phá hủy những quân và chiến cụ đang kẹt ứ tại đây. Chúng tôi tạt vào rừng nhắm hướng Tuy Hòa mà đi, trong số này tôi còn nhớ có Trung tá Lộc, Tham mưu trưởng, Thiếu tá Khôi, Trưởng phòng 3, Trung úy Thành của Phòng 2, Thiếu úy Chương phòng CTCT, tôi, Thiếu úy Chúc, Chuẩn úy Phước của Trung tâm Hành quân… Từ lúc này tôi không còn nhớ tới giờ giấc của thời gian nữa. Khi đi sâu vào rừng núi Phú Bổn được 2-3 giờ lúc vượt qua một đỉnh đồi cao nhìn lại Phú Bổn những cột lửa loé sáng rực, trên trời là 2 chiếc A37 đang nhào lộn bắn phá.
Đêm xuống thật nhanh với núi rừng, Trung tá Huấn và Lộc nói là không thể đi đông như thế này vì dễ bị lộ nên tách ra làm hai. Các quân nhân của Liên đoàn theo Trung Tá Huấn, Ban Tham mưu BĐQ theo Trung tá Lộc. Qua đêm trời hừng sáng, tôi thật vô cùng ngạc nhiên khi thấy có rất nhiều đoàn quân cũng tạt vào rừng theo đoàn quân chúng tôi hôm qua. Thật tội nghiệp cho họ, vợ chồng, con cái cha mẹ anh em dắt dìu nhau. Họ không mang theo được bất cứ một thứ gì cả, là dân của phố thị, họ hoàn toàn không hiểu được sự khắc nghiệt ghê gớm của thời tiết tháng 4 trong cánh rừng già bạt ngàn như thế này. Những đám dân tội nghiệp ấy cứ lếch thếch đi theo hướng chúng tôi đi. Họ sẽ không theo kịp những quân nhân chuyên nghiệp như chúng tôi.
Sau ba bốn lần bị truy kích qua mấy ngày tôi không còn nhớ nữa, chỉ thấy sức đã kiệt vì đói và khát. Chúng tôi còn lại 5 người đến bên một con sông (có lẽ đó là sông Ba). Trong đêm tối trời, tôi đã hoàn toàn kiệt sức nhìn bên kia bờ sông hy vọng gặp quân bạn. Ba người trong chúng tôi đã bơi được qua bờ bên kia con sông dâng cuồn cuộn nước chảy. Tôi không nhớ rõ 3 người ấy là ai vì chúng tôi vừa bị truy kích chạy tán loạn trong lúc đó Cộng quân lại bắn xối xả vào đoàn người chúng tôi.
Bên này con sông chỉ còn lại tôi và Trung sĩ Thành Phòng 2. Thành còn rất trẻ khoảng 21-22. Thành bảo tôi “Cố gắng bơi qua đi Trung úy”. Nhìn sông tôi hiểu sức mình không thể qua nổi. Tôi bảo với Thành : ”Tôi ở lại bên này”. Thành nói :”Vậy tui qua nhe”. Thành xuống nước; khi ra tới dòng nước cuồn cuộn tôi thấy Thành chới với rồi chìm hẳn. Chứng kiến Thành chết chìm trong đêm tịch mịch của núi rừng, tôi đứng lên vô tri vô giác lê từng bước bên con sông ấy. Trên người tôi không còn cái gì ngoài bộ đồ trận tả tơi đang mặc. Tôi cứ đi đi mãi khi nắng loé lên sau những ngọn cây cao. Một tiếng quát giọng Bắc đặt sệt :”Biệt Động Ngụy giơ tay nên”, tôi thẩn thờ quay ngang nhìn “Lính chính quy Bắc Việt”.
Tại Trại Đào Bá Phước, Bộ chỉ huy BĐQ ở Saigon đã trả lời mẹ tôi khi bà đến hỏi tin của tôi “Trung úy D. được ghi nhận mất tích trên Liên tỉnh lộ 7B”.

Trung úy D

1 tháng 10, 2019

TẠI SAO VUA QUANG TRUNG ĐÒI LƯỠNG QUẢNG?


TẠI SAO VUA QUANG TRUNG ĐÒI LƯỠNG QUẢNG?

Đã bao giờ bạn tự hỏi điều đó?
Có bao giờ bạn đặt ra câu hỏi đó không?

Lịch sử hãy biết đặt câu hỏi, và bạn có thể hiểu nhiều hơn những gì bạn đã có và đang có.
Để hiểu tại sao hoàng đế Quang Trung đòi Lưỡng Quảng chứ không phải đòi Vân Nam, đòi Bắc Kinh. Ta phải lùi lại trước đó 2000 năm.
Năm 257 TCN.
Một nhân vật đến giờ còn gây tranh cãi sẽ xuất hiện ở đây với các bạn hôm nay, đấy là Triệu Đà. Có thực Triệu Đà là giặc? Ông là giặc hay là tổ tiên của chúng ta.
Những gì tôi nói đến sau đây, sẽ tùy vào lăng kính mỗi người, không ép buộc.
//
Người trẻ Việt Nam được học bài đầu tiên về lịch sử nước Nam. Đầu tiên là những câu chuyện về Hồng Bàng, Kinh Dương Vương, Âu Cơ - Lạc Long Quân, rồi đến các vua Hùng. Sau câu chuyện về Vua Hùng sẽ là câu chuyện Mỵ Châu - Trọng Thủy. Nơi ấy có thành Cổ Loa, có nước Âu Lạc, có Thục Phán An Dương Vương
"Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Đến nỗi cơ đồ đắm biển sâu".
- Thơ Tố Hữu

"Giặc" trong thơ Tố Hữu chính là Triệu Đà. Triệu Đà đã chiến thắng An Dương Vương, qua đó sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt.

Những gì các bạn đang thấy chính là nước Nam Việt. Hãy xem bản đồ đó và bạn sẽ thấy nước Nam Việt bao gồm những gì: Quảng Đông, Quảng Tây, và miền Bắc Việt Nam bây giờ.
Sử gia Việt Nam trong vòng 2000 năm cho tới thập kỷ 60 của thế kỷ 20 tất cả đều công nhận Triệu Đà. Người công nhận Triệu Đà không phải là người mà các bạn ở đây có quyền chửi bới. Người công nhận Triệu Đà chính là Nguyễn Trãi qua bản Bình Ngô Đại Cáo
"Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nên độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương."
Đinh là ai? Đinh Bộ Lĩnh, Lý là ai? Lý Công Uẩn, Trần là ai? Trần Cảnh - Trần Thủ Độ. Vậy Triệu là ai thế?
Đấy là Triệu Đà.

Bộ Đại Việt sử ký soạn bởi Lê Văn Hưu cũng chép từ Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu Hoàng. Đại Việt sử ký chép lại:
"Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc không thể lại ngấp nghé được"
Ngay cả bây giờ, dù sử gia có chép Triệu Đà là giặc. Đền thờ ông vẫn xuất hiện ở một số tỉnh ở miền Bắc. Những bạn đọc bài viết này có đền gần đấy có thể xác nhận.
Giặc hay là tổ tiên?
//
Tiếp tục, năm 111, Nhà Triệu diệt vong, toàn bộ lãnh thổ Nam Việt thuộc về Nhà Hán. Đất Lưỡng Quảng lúc này nằm trong quận Giao Chỉ.
Bạn nghe rõ rồi chứ. Giao Chỉ của các đời Đường, Tùy...vẫn bao gồm cả Quảng Đông lẫn Quảng Tây. Sau này, những Hai Bà Trưng, Lý Bí, Triệu Quang Phục ... dựng cờ khởi nghĩa trong khoảng 1000 năm Bắc Thuộc chính là lấy lại Nam Việt ngày nào. Bạn không tin? Năm 43, Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, một lực lượng đi theo bà chính là cư dân vùng Hợp Phố - Trung Quốc.
Văn Lang là tập hợp những bộ lạc, Âu Lạc vẫn còn manh mún. Tại sao nước ta 1000 năm vẫn quyết phản kháng? Ngoài văn hóa và con người Giao Chỉ - Việt Nam xưa nay. Có phải cũng vì một đế chế nữa tạo lập nên cho dân vùng đó một sự quật cường đòi lại nguồn gốc không?
Năm 938, Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán và chấm dứt 1000 năm Bắc Thuộc. Nhưng Ngô Quyền vì lực mỏng chỉ dừng ở Đại La. không tiến ra Quảng Đông - Quảng Tây để lấy lại phần đất đó nữa. Kể từ hôm ấy, Quảng Đông - Quảng Tây dần dần thuộc về Trung Quốc.
Nhưng có 1 người không chấp nhận điều đó.
Đấy là kẻ hùng tài đại lược, bất khả chiến bại sinh ra sau đó 800 năm: Quang Trung - Nguyễn Huệ.
Bạn hiểu tại sao Quang Trung đòi Lưỡng Quảng rồi chứ? Ai rảnh mà tự nhiên trời ơi đất hỡi đi đòi đất? Và không đòi cái gì lại chọn Lưỡng Quảng mà đòi. Bởi thời đại Quang Trung vẫn coi Triệu Đà là tổ. Và đất của tổ tiên là cần lấy lại.
"Ðất nước Việt Nam có khi thịnh khi suy, lịch sử Việt Nam có khi hưng khi phế, thế hệ trước không giữ được Hoàng Sa nhưng không phải vì thế mà Hoàng Sa trở thành đất của Trung Quốc hay của bất cứ một quốc gia nào khác. Dân tộc Việt Nam, các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau phải nhớ rằng: Bất cứ khi nào các điều kiện kinh tế, chính trị và quân sự cho phép, một trong những việc đầu tiên là phải lấy lại Hoàng Sa."
Slogan của diễn đàn Hoàng Sa cũng là một kiểu nhắc nhớ như chính Quang Trung ngày xưa vậy. Ngày ông tin rằng với tài năng và bá khí của mình, sẽ lấy lại đất cho tổ tiên.
//
Vậy tại sao có sự tranh cãi như hôm nay, và chính ngay cả tôi viết bài hôm nay cũng chỉ cho các bạn một cách nhìn và một sự hiểu biết thêm về lịch sử chứ không bảo các bạn đi đòi đất.
Bởi khi công nhận Triệu Đà là ta gián tiếp công nhận Lưỡng Quảng là của nước ta. Điều này rất vô lý ở thời điểm bây giờ. Sau hội nghị Ianta về chấm dứt chiến tranh thế giới thứ 2 cùng sự ra đời của tổ chức Liên Hợp Quốc, mọi thứ lãnh thổ đất liền cơ bản đã được xác nhận. Đấy là sự tiến hóa của nhân loại và sự phân chia đâu ra đó để ngăn cản chiến tranh.
Ok, thích lấy Quảng Đông hả? Cứ lấy, và trả một phần miền Nam Bộ cho Campuchia. Chứ đâu ra cái chuyện ăn trên đầu trên cổ người ta. Đất mình mất thì đòi lại, đất mình lấy thì giữ luôn. Sự tiến hóa của nhân loại là để các bản đồ được giữ nguyên hiện trạng như bây giờ.
Về điểm này mà nói, các sử gia miền Bắc khi kể chuyện Mị Châu đã cố gắng tránh điều này, trong giai đoạn nhạy cảm về các mối quan hệ chính trị - ngoại giao. Đấy là một điểm đúng trong giai đoạn đó. Bây giờ mọi thứ đã tương đối ổn định, ta cũng nên lật ra để bàn luận nhằm hiểu lịch sử hơn.
Hôm nay tôi lai rai chuyện lịch sử này. Vốn là để các bạn hiểu vì sao Quang Trung đòi Lưỡng Quảng, vốn là cho các bạn biết về một trang sử bị bỏ quên của dân tộc, và qua đó hiểu hơn về những di chỉ thời cổ đại cùng mối uyên nguyên của nước ta và Trung Quốc. Chính cái mối uyên nguyên này để ta có cách nhìn rõ ràng hơn về ông hàng xóm béo bụng đó, về liên hệ giữa ta và họ và qua đó có cách nhìn rõ hơn cho hôm nay.
Chúng ta chỉ có thể đi đến tương lai trên nền tảng vững chắc về lịch sử. Đấy là điều tôi gửi gắm qua bài viết.
Chúc một ngày tốt lành !
© Dũng Phan
#xfileofhitory

Nguyễn Ái Quốc và tờ báo Le Paria (Người cùng khổ)


 Tháng 01/1922, Nguyễn Ái Quốc và Ban Thường vụ Hội Liên hiệp Thuộc địa đã quyết định thành lập “Hội Hợp tác Người cùng khổ” và cho xuất bản tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) làm cơ quan ngôn luận của Hội.

Giải thích lý do đặt tên báo, Nguyễn Ái Quốc viết: “Người xứ Nghệ nhà choa hay chơi chữ. Nhân 
dân Pháp cũng thích chơi chữ. Nay ra tờ báo nhỏ ở ngay Pari tuy là tiếng nói đầu tiên của dân chúng thuộc địa, nhưng chưa có thanh thế, thì lấy tên báo là Paria là hay nhất! Paria nguyên là tiếng của Ấn Độ dùng để gọi những người đã mất hết quyền lợi về tôn giáo và xã hội. Nghĩa rộng người Pháp dùng để gọi những “Người cùng khổ”.

Nguyễn Ái Quốc và Báo Le Paria (Người cùng khổ).

Ngày 01/4/1922, báo ra số đầu tiên và được viết bằng ba thứ tiếng Pháp (chữ to đậm), tiếng Ả Rập và tiếng Trung Quốc (viết nhỏ hơn ở phía bên phải và bên trái). Từ số 01 đến số 20, báo có dòng tiêu đề “Diễn đàn của các dân tộc thuộc địa” (Tribune des Populasions des colonial); từ số 21 đến số 35 có tiêu đề là “Diễn đàn của vô sản thuộc địa” (Tribune des proletariat colonial); số 36, 37 có tiêu đề “Cơ quan của nhân dân bị áp bức các thuộc địa” (Organe des Peuples Oppirimes des colonies); số 38 có tiêu đề “Cơ quan của Hội Liên hiệp thuộc địa” (Organe de L” Union Intercoloniale). 

Trên trang nhất số 1 đăng Lời kêu gọi của tờ báo: “...Báo Le Paria ra đời chính là do sự đồng cảm sâu sắc của các đồng chí Bắc Phi, Tây Phi thuộc Pháp, ở Mađagátxca, ở Đông Dương, ở Angti và ở Guyan... Báo Le Paria đã sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu, mục đích của nó chắc chắn sẽ đạt được: Giải phóng con người”.

Tùy vào từng thời gian và khả năng tài chính mà số lượng in báo Le Paria không cố định, dao động từ 1.000 đến 5.000 bản, cá biệt có những số in trên 5.000 bản. 50% số lượng báo in ra được lan truyền qua các nước thuộc địa của Pháp bằng nhiều con đường khác nhau, lúc đầu qua đường bưu điện sau chủ yếu là bí mật thông qua các thủy thủ bản địa yêu nước, góp phần thức tỉnh, cổ vũ, lôi cuốn các tầng lớp nhân đân đứng lên đấu tranh chống ách đô hộ của bọn thực dân, đế quốc.

Trong suốt thời gian tồn tại từ tháng 4/1922 đến tháng 4/1926, báo Le Paria ra được 38 số. Nguyễn Ái Quốc là người phụ trách chính trong việc xuất bản của báo, từ việc tổ chức ban biên tập, tòa soạn, viết bài, sửa chữa, đi in, đem báo về tòa soạn, cho đến việc gửi đi các thuộc địa. Mặc dù điều kiện sinh sống tại Pari rất khó khăn, thiếu thốn nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn ủng hộ đều cho báo mỗi tháng 25 phơ – răng. Người nói: “Chúng ta phải bằng bất cứ giá nào làm cho tờ báo sống. Nó mất đi sẽ là một thiệt hại to lớn đối với tổ chức và nhất là đối với công tác tuyên truyền lúc này cần thiết hơn lúc nào hết”. 

Tranh biếm họa của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Người cùng khổ.
Với 7 bút danh khác nhau, Nguyễn Ái Quốc viết bài thuộc nhiều thể loại như xã luận, bình luận, tin ngắn, tiểu phẩm, truyện ký, dịch thuật... đồng thời, vẽ cả tranh châm biếm. Nội dung chủ yếu của báo là tố cáo những hành động vô cùng tàn bạo của chính quyền thực dân tại các thuộc địa, nhất là ở Đông Dương. Bằng ngòi bút sắc bén, Nguyễn Ái Quốc đã vẽ lên một bức tranh toàn cảnh về chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Đông Dương: “Chủ nghĩa tư bản Pháp đã vào Đông Dương... Chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm... Nhà tù nhiều hơn trường học, lúc nào cũng mở cửa và chật ních người... Ở Đông Dương, bọn thực dân tìm mọi cách để đầu độc chúng tôi bằng thuốc phiện và làm cho chúng tôi đần độn bằng rượu”.

Rất nhiều bài báo của Nguyễn Ái Quốc được người đọc đánh giá rất cao như: Viện hàn lâm Thuộc địa, Khai hóa giết người, Phụ nữ Việt Nam và sự thống trị của Pháp, Bức thư ngỏ gửi Bộ trưởng Bộ thuộc địa ông A-xa-rô; Chê độ độc đoán ở Đông Dương, Ách áp bức không từ một chủng tộc nào; Sự phá sản của thực dân Pháp; Vẻ đẹp nền văn minh Pháp; Tình cảnh nông dân Việt Nam; Đông Dương và Thái Bình Dương...

Trong hồi ký của mình, luật sư Mác Clanhvin Blôngcua - Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp thuộc địa đã viết: “Nguyễn Ái Quốc đã đóng góp rất nhiều cho tờ báo... Tất cả những bài và tranh ký tên Nguyễn Ái Quốc trên báo Le Paria mang một màu sắc đặc biệt: đó là tinh thần đấu tranh cách mạng triệt để và quyết tâm chống chủ nghĩa thực dân. Xem, đọc bài và tranh đó người ta thấy rõ tác giả có một tinh thần tiến công rất chủ động và rất thông minh”.(1)

Tháng 6/1923, trước khi rời nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã viết thư gửi lại các đồng chí của mình. Người viết: “Hội Liên hiệp thuộc địa và tờ báo “Người cùng khổ” đã làm cho nước Pháp chân chính hiểu rõ những việc đã xảy ra trong các thuộc địa, làm cho nước Pháp hiểu rõ bọn cá mập thực dân đã lợi dụng tên tuổi và danh dự của nước Pháp để gây nên những tội ác không thể tưởng tượng được. Nó đã thức tỉnh đồng bào chúng ta. Đồng thời nõ cũng khiến cho đồng bào chúng ta nhận rõ nước Pháp tự do, bình đẳng và bác ái. Nhưng chúng ta còn phải làm nhiều hơn”.

Tháng 4/1926, báo Le Paria ra số 38 đăng lời giới thiệu cuốn “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc. Đây là số cuối cùng của báo.
Báo Le Paria – “Người cùng khổ” ra đời đã có nhiều cống hiến cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới, góp phần tích cực trong việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam và một số thuộc địa khác, thức tỉnh các dân tộc bị áp bức vùng dậy đấu tranh tự giải phóng./.
----------------
(1) Bác Hồ ở Pháp (Hồi ký), Nxb. Văn học, Hà Nội, 1980, tr.493 - 494

TRUNG QUỐC ĐÃ TỪNG GIẾT TRƯỞNG ĐOÀN NGOẠI GIAO ĐẠI VIỆT


Ngày xưa, việc chọn Trưởng đoàn ngoại giao (Chánh sứ) là rất quan trọng, nhất là đi sứ Trung Quốc. Những người được chọn làm Chánh sứ thường là những nhà khoa bảng giỏi văn chương chữ nghĩa và có khí tiết. Tại các cuộc tiếp sứ, các vua Tàu thường ra những vế đối hiểm hóc, và đặt ra các cuộc xướng họa thơ phú với nhiều hàm ý.

Đường Lâm cổ ấp quê tôi là quê hương của Thám hoa Giang Văn Minh người đã từng được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc. Ông bị vua quan nhà Minh giết tại Yên Kinh (TQ) bất chấp luật lệ bang giao, đã trả thù bằng cách trám đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem “bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”. Sự việc này xảy ra vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Khi đưa thi hài về đến quê nhà, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng [rể Đường Lâm] bái kiến linh cữu ông và truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công[1], ban tặng câu “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng” (tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ).

Dưới đây là chép từ Từ điển Wikipedia:

Giang Văn Minh (chữ Hán: 江文明, 1573 - 1638[1]) tự Quốc Hoa, hiệu Văn Chung, là quan nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông được mệnh danh là vị sứ thần “Bất nhục quân mệnh” (Không để nhục mệnh vua) vì đã đối đáp thẳng thắn trước triều đình Trung Quốc và bị vua Minh Tư Tông hành hình vào năm 1638, thọ 65 tuổi.

Cuộc đời và sự nghiệp
Ông sinh năm 1573, tại làng Kẻ Mía, xã Mông Phụ, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây trước năm 1945)[2], (nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây , Hà Nội. Ông từng đỗ đầu kỳ thi Hội, rồi thi Đình lại đỗ Đình nguyên Thám hoa khoa Mậu Thìn, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời Lê Thần Tông[3]. Khoa thi này không có ai đỗ Trạng nguyên hay Bảng nhãn, vì vậy ông là người đỗ cao nhất trong cả khoa thi[3]. Sau khi đỗ đạt, ông lần lượt được bổ nhiệm vào các chức vụ như Binh khoa đô cấp sự trung (1630)[3], Thái bộc tự khanh (1631)[3].

Ngày 30 tháng 12 năm Dương Hòa thứ 3 (1637), ông và Thiêm đô ngự sử Nguyễn Duy Hiểu được vua cử làm chánh sứ cùng với 4 phó sứ là: Nguyễn Quang Minh, Trần Nghi, Nguyễn Bình và Thân Khuê dẫn đầu hai đoàn sứ bộ sang cầu phong và tuế cống nhà Minh[1]. Sau khi chết, ông được truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công[1].

Giai thoại
Vào thời điểm ông đi sứ, mặc dù nhà Mạc đã bỏ chạy ra Cao Bằng, nhưng nhà Minh vẫn áp dụng chính sách ngoại giao hai mặt (với cả nhà Hậu Lê và nhà Mạc) với mục đích để cuộc chiến tranh Lê-Mạc kéo dài[4]. Đoàn sứ bộ của Giang Văn Minh đến Yên Kinh (nay là Bắc Kinh) vào năm 1638.
Đến khi triều kiến, Minh Tư Tông Chu Do Kiểm (tức hoàng đế Sùng Trinh) lấy lý do “Vì lệ cũ không có những quy định cụ thể cho việc sắc phong, do đó trong khi còn chờ tra cứu chỉ ban sắc thư để tưởng lệ” để ngăn trở việc công nhận sự chính thống của nhà Hậu Lê và bãi bỏ công nhận ngoại giao với nhà Mạc.

Đồng thời, Chu Do Kiểm còn ngạo mạn ra cho sứ bộ một vế đối như sau:
“Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” Nghĩa là: Cột đồng đến nay rêu đã xanh[5]
Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ - tức Đại Việt - bị diệt vong).
Trước sự ngạo mạn đó, Giang Văn Minh đã hiên ngang đối lại bằng câu:
"Đằng Giang tự cổ huyết do hồng" Nghĩa là: Sông Đằng từ xưa máu còn đỏ[5]
Vế đối này vừa chỉnh, vừa có ý nhắc lại việc người Việt đã ba lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng.

Vào thời bấy giờ, câu đối này được xem là cái tát thẳng vào mặt hoàng đế nhà Minh trước đông đảo văn võ bá quan của Thiên triều và sứ bộ các nước. Vua nhà Minh bừng bừng lửa giận quên mất thể diện thiên triều, bất chấp luật lệ bang giao, đã trả thù bằng cách trám đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem “bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”. Sự việc này xảy ra vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Nhưng Minh Tư Tông vẫn kính trọng ông còn cho ướp xác ông bằng bột thủy ngân và đưa thi hài ông về nước[5][6] Khi thi hài của ông về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng bái kiến linh cữu ông[5] và truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công[1], ban tặng câu “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng” (tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ)[7].

Sau khi thi hài được đưa về nước, Giang Văn Minh được chôn cất tại Đồng Dưa, thuộc xứ Gò Đông, [thực ra là Gò Đõng - NXD] thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm[7]. Trên cánh đồng này có một quán (hiện có dạng ngôi nhà) nhỏ là nơi linh cữu ông đã được quàn và gọi là quán Giang. Hiện nay, nhà thờ ông ở làng Mông Phụ đã được nhà nước Việt Nam xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa[5]. ‎
Ở Hà Nội hiện nay có một con đường mang tên Giang Văn Minh, nối với phố Giảng Võ và phố Kim Mã, quận Ba Đình.[8]

Tác phẩm
Hoa Nghiêm tự bi: trên tấm bia của chùa Hoa Nghiêm ở thôn Vô Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình có ghi người soạn văn bia năm Dương Hòa thứ 2 (1636) là Phúc Lộc hầu Giang Văn Minh, đỗ thám hoa khoa Mậu Thìn (1628), chức Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, Thái bộc tự khanh.[9]
Đánh giá : Ông là người trí dũng song toàn.[10]
________
Thi sĩ Hoài Yên có thơ rằng:
Giang Văn Minh
Một sớm về thăm Mông Phụ ấp,
Suốt đời nhớ mãi Thám hoa môn.
Ngoại giao, lo tính tìm mưu chước,
Đối đáp, không làm thẹn núi sông.
"Đồng trụ chí kim đài dĩ lục,
Đằng giang tự cổ huyết do hồng".
Quên thân, quyết báo đền ơn nước,
Khí tiết xin phơi một tấm lòng.
(Chân dung. Thơ Hoài Yên. Nxb. Hà Nội, 2008. tr21).