20 tháng 1, 2020

Soái Hạm HQ5 và Trận Hải Chiến Hoàng Sa - Bùi Ngọc Nở



3597 1 SoaiHamHQ5BuiNgocNo
Các Tài Liệu Đã Đọc:
- Một Vài Uẩn Khúc Trong Trận Hoàng Sa của Đề Đốc Trần Văn Chơn Tư Lệnh HQ.
- Phỏng Vấn Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại Tư Lệnh HQ / Vùng 1 Duyên Hải về trận chiến Hoàng Sa.
- Hành Quân Trần Hưng Đạo 47 của HQ Đại Tá Phạm Mạnh Khuê Bộ Tư Lệnh Hành Quân Biển.
- Trận Hải Chiến Lịch Sử Hoàng Sa của HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc, Chỉ Huy Trưởng cuộc hành quân.
- Sau 24 Năm, Nhớ Về Hải Chiến Hoàng Sa của HQ Trung Tá Vũ Hữu San, Hạm Trưởng Khu Trục HạmHQ 4.
- Sự Thật Về Trận Hải Chiến Hoàng Sa của HQ Trung Tá Lê Văn Thự, Hạm Trưởng Tuần Dương Hạm HQ 16.
- Diễn Biến Cuộc Đụng Độ Ở Hoàng Sa Tháng 1 Năm 1974 của ông Trần Đỗ Cẩm (cùng khoá 11 với Hạm Trưởng San).
- Trận Hải Chiến Hoàng Sa theo tài liệu Trung Cộng của ông Trần Đỗ Cẩm.
- Cuộc Hải Chiến Hoàng Sa của ông Hà Quang Tự khoá 12 SQHQ / Nha Trang.
- Tuần Dương Hạm HQ 16 Và Trận Hải Chiến Hoàng Sa của ông Đào Dân khoá 18 SQHQ / Nha Trang.
- Lần Đào Thoát Ở Hoàng Sa của HQ Trung Úy Nguyễn Đông Mai, Hộ Tống Hạm HQ 10.
 
Lời Dẫn Nhập
       Tôi phải liệt kê các tài liệu đã đọc để nói lên một điều là các cấp chỉ huy trực tiếp của trận đánh đã lên tiếng, những người thuộc các chiến hạm tham dự trận đánh đã lên tiếng như HQ 4, HQ 10 và HQ 16, ngoại trừ HQ 5. Nay tôi một người thuộc Tuần Dương Hạm HQ 5 (Soái Hạm) trực tiếp tham dự trận đánh, buộc lòng phải lên tiếng và thấy cần phải lên tiếng, đặc biệt là sau khi đọc bài “Sự Thật Về Trận Hải Chiến Hoàng Sa” của HQ Trung Tá Lê Văn Thự, Hạm Trưởng HQ 16. Tôi rất ngạc nhiên sau khi đọc xong bài này, ngạc nhiên vì một Hạm Trưởng có mặt từ đầu đến cuối trận chiến, sự hiểu biết của Hạm Trưởng Thự rất là hạn chế và có rất nhiều điều sai lầm, nếu không muốn nói là bôi bác 2 chiến hạm bạn là HQ 4 & HQ 5.
       Hạm Trưởng Thự nói (trích nguyên văn): “Chính tôi là người chỉ huy HQ 16 mà cũng không biết những hoạt động của HQ 4 và HQ 5 làm sao ông Dân biết được”, “Tôi không biết gì về hoạt động của HQ 4 và HQ 5 cũng như nhiệm vụ của họ”, “Sự thật là HQ 4 và HQ 5 chỉ ở vòng ngoài chứ không tham dự trận chiến trong lòng chảo”, “Suốt trận chiến, HQ 4 và HQ 5 làm gì tôi không được biết”, “Sự thật là HQ 4 và HQ 5 chẳng bị trầy một mảnh sơn nào cả. Cả Hải Quân đều biết, vì thế cho nên chỉ một mình HQ 16 được tiếp đón ở Sài Gòn và gắn huy chương chứ không có Đại Tá Ngạc hay HQ 4 và HQ 5”, “Muốn thanh toán quân Trung Cộng trên đảo, tôi nghĩ không nhiều, chừng một tiểu đội mà dự định đổ bộ một toán người nhái 9, 10 thì khó mà thành công”, “Người nhái không đổ bộ trong ngày cuộc chiến xảy ra và cũng chưa bao giờ lên được đảo”, “Trước sau họ (Trung Cộng) chỉ đưa ra vỏn vẹn có 3 chiến hạm không thuộc loại tối tân”, “Toàn bài viết của Đại Tá Ngạc (về trận chiến Hoàng Sa) từ đầu đến cuối là sai sự thật”, v.v… và v.v…
       Tôi không biết Hạm Trưởng Thự muốn nói đến sự thật nào và đã xảy ra ở đâu chứ không phải là trận chiến Hoàng Sa, chỉ có một sự thật được nói lên là Hạm Trưởng Thự biết quá ít về trận chiến này, nhưng tôi không có tham vọng là viết lại trận hải chiến Hoàng Sa, vì Đại Tá Ngạc, Chỉ Huy Trưởng cuộc hành quân, Đại Tá Khuê BTL/Hành Quân Biển và ông Trần Đổ Cẩm đã viết rồi, tương đối đầy đủ dù không hoàn toàn chính xác, tôi cũng không nghĩ đến chuyện tranh công, cướp công hay luận công ai nhiều ai ít, tôi chỉ nói lên những điều tôi biết, tôi thấy, tôi nghe và tôi hãy còn nhớ dù nó đã xảy ra hơn 30 năm rồi. Tôi chỉ muốn sự thật hãy trả về cho sự thật, hãy trả lại công lao cho những người đã chiến đấu và đã anh dũng hy sinh và cho những người còn sống dù họ còn ở trong nước hay đang sống ở hải ngoại. Mục đích chính của tôi là muốn làm sáng tỏ và rộng đường dư luận về cái gọi là “Sự Thật Về Trận Hải Chiến Hoàng Sa” của Hạm Trưởng Thự, cho nên tôi sẽ nói nhiều về những hoạt động của HQ 5 liên quan đến trận chiến này.
3597 2 SoaiHamHQ5BNNo
      Ngày 16 tháng 1 năm 1974, chiến hạm tôi (Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ 5) đang ở Vũng Tàu thì được lệnh ra Đà Nẵng. Chiến hạm tôi cập cầu quân cảng Tiên Sa chiều ngày 17 tháng 1 năm 1974, ngay sau đó Hạm Trưởng HQ 5, HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh lên BTL/HQ Vùng 1 Zuyên Hải họp hành quân. Họp xong Hạm Trưởng Quỳnh mang về một lệnh hành quân, mang tên Hành Quân Trần Hưng Đạo 47, tôi đã đọc lệnh hành quân này. Về phía ta tức lực lượng bạn tham dự cuộc hành quân gồm có:
-Hải Đoàn Đặc Nhiệm I: HQ 4, HQ 16, HQ 5, HQ 10.
-Hải Đoàn Đặc Nhiệm II: HQ 1, HQ 6, HQ 17, HQ 11 (ghi chú: các chiến hạm này trên đường hướng về Đà Nẵng, nghĩa là còn xa vùng hành quân và các diển biến ở Hoàng Sa xảy ra quá nhanh, nhanh hơn dự liệu, nên hải đoàn này ít được nhắc đến).
 
-Lực lượng Hải Kích và Biệt Hải.
Còn lực lượng địch gồm cả Hải Lục Không quân và có thể có cả tiềm thủy đĩnh nữa, chi tiết không nhớ được.
       Sau đó lực lượng hải kích lên chiến hạm gồm 49 người với đầy đủ vũ khí cá nhân và hiện đại, dưới quyền chỉ huy của HQ Trung Úy Nguyễn Minh Cảnh Khoá 20 SQHQ / Nha Trang. Lúc 00:37 giờ ngày 18/01/1974 chiến hạm tôi rời quân cảng Tiên Sa, Đà Nẵng cùng đi có HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc Chỉ Huy Trưởng Hải Đội Tuần Dương kiêm Chỉ Huy Trưởng cuộc Hành Quân. Khởi hành cùng lúc còn có Hộ Tống Hạm HQ 10 do HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà làm Hạm Trưởng. Lúc đầu còn đi hải hành tập đội, nhưng vì HQ 10 chỉ còn một máy chánh, chạy không được nhanh, nên sau đó HQ 5 đã tăng tốc độ chạy trước. Chiến hạm tôi đến Hoàng Sa lúc 15:00 giờ ngày 18/01/1974, nơi đây đã có mặt HQ 4 và HQ 16.
       Sau đó Đại Tá Ngạc ra lệnh 3 chiến hạm hải hành đội hình hàng dọc từ đảo Hoàng Sa tiến về đảo Quang Hòa (Duncan), tất cả đều vào nhiệm sở tác chiến, nhưng các khẩu pháo vẫn ở vị trí số 0, mục đích là quan sát, thăm dò sự hiện diện và phản ứng của địch. Khi tiến gần đến đảo Quang Hòa thì có 2 chiến hạm Trung Cộng loại Kronstad mang số 271 & 274 xuất hiện và nghênh cản, họ vận chuyển rất nguy hiểm bằng cách cắt ngang đường tiến của đội hình. HQ 5 và một Kronstad có trao đổi quang hiệu, cả hai bên đều nhận đảo này thuộc chủ quyền của mình và yêu cầu phía bên kia hảy rời khỏi đảo, dĩ nhiên kết quả là không đi tới đâu.
       Thấy tình hình không ổn và hơi căng thẳng, Đại Tá Ngạc ra lệnh cho đội hình quay trở lại đảo Hoàng Sa và thả trôi ở đó. Đến chiều tối, HQ 5 chuyển 16 hải kích qua HQ 16 nghĩa là trên HQ 5 còn lại 33 hải kích, nhận từ HQ 16 một phái đoàn Công binh gồm 6 người do một Thiếu Tá làm trưởng đoàn trong đó có một cố vấn người Mỹ, sau đó vì lý do an toàn và tránh mọi rắc rối có thể xảy ra, HQ 5 đã đưa phái đoàn này lên đảo Hoàng Sa. Tối hôm đó (tối ngày 18/01/1974) trên chiến hạm HQ 5 có một cuộc họp hành quân gồm 6 sĩ quan do Đại Tá Ngạc chủ tọa, 6 sĩ quan đó là: Đại Tá Ngạc, Hạm Trưởng Quỳnh, Hạm Phó Thông, Thiếu Tá Toàn, tôi sĩ quan Hải Hành, Xử Lý Thường Vụ Trưởng khối Hành Quân của chiến hạm và Trung Úy Cảnh chỉ huy hải kích.
       Đại Tá Ngạc chia Hải Đoàn đặc nhiệm I thành 2 phân đoàn: phân đoàn 1 gồm HQ 4 và HQ 5 làm nổ lực chính do Hạm Trưởng HQ 4 chỉ huy, phân đoàn 2 gồm HQ 16 và HQ 10 do Hạm Trưởng HQ 16 chỉ huy. Có người viết gọi phân đoàn 1 thành phân đoàn 2, phân đoàn 2 thành phân đoàn 1, nhưng đây chỉ là chi tiết nhỏ và không có gì quan trọng. Hạm Trưởng Thự nói việc chỉ định Hạm Trưởng San làm phân đoàn trưởng “là sai nguyên tắc” vì Đại Tá Ngạc ở trên HQ 5, không lẽ Hạm Trưởng San chỉ huy luôn Đại Tá Ngạc hay sao? Tôi nghĩ đây chỉ là chuyện phân quyền, phân nhiệm cho có vì trên thực tế người chỉ huy và điều động vẫn là Đại Tá Ngạc và Hạm Trưởng Thự, đừng quên là Đại Tá Ngạc Chỉ Huy Trưởng cuộc hành quân bao gồm 3 lực lượng: Hải đoàn đặc nhiệm I, Hải đoàn đặc nhiệm II dù chưa hiện diện trong vùng hành quân, lực lượng Hải kích và Biệt hải.
       Theo kế hoạch hành quân này, phân đoàn 1 tiến về phía Tây Nam đảo Quang Hòa, phân đoàn 2 tiến về Đông Bắc đảo Quang Hòa, đổ bộ Hải kích và Biệt hải để chiếm lại 2 đảo là Quang Hòa và Duy Mộng, giờ xuất phát ấn định là 0400H ngày 19/01/1974. HQ 10 vì chỉ còn 1 máy chánh, chạy chậm nên đã nhập vùng vào khoảng 2200H ngày 18/01/1974. Còn lực lượng Hải kích và Biệt hải được phân bổ như sau: HQ 5 có 33 Hải kích, HQ 16 có 16 Hải kích, HQ 4 có một trung đội Biệt Hải, riêng HQ 10 không có Hải kích hay Biệt hải.
       0400H ngày 19/01/1974 (nhằm 27 tết) đúng giờ xuất phát, phân đoàn 1 gồm HQ 4 và HQ 5 rời Hoàng Sa hướng về Tây Nam đảo Quang Hòa, phân đoàn 2 gồm HQ 16 và HQ 10 hướng về Đông Bắc đảo Quang Hòa. Đúng 0600H HQ 4 và HQ 5 đã có mặt ở Tây Nam đảo Quang Hòa và hiện diện ở đây cho đến lúc tàn trận chiến, tôi không biết Tây Nam đảo Quang Hòa có nằm trong lòng chảo mà Hạm Trưởng Thự đã đề cập hay là còn có một lòng chảo nào khác.
       Khi xuất phát, chiến hạm đã vào nhiệm sở tác chiến, trên đài chỉ huy chỉ có 3 sĩ quan là Đại Tá Ngạc, Hạm Trưởng Quỳnh và tôi là sĩ quan hải hành, Hạm Phó Thông ở trong Trung tâm Chiến báo (C.I.C.), Hạm Trưởng và Hạm Phó không cùng vị trí khi có nhiệm sở tác chiến, để khi cần còn có thể thay thế chỉ huy chiến hạm. Cả 3 đều hiện diện trên đài chỉ huy từ 0400H đến khoảng 1500H, nghỉa là từ khi bắt đầu nhiệm sở tác chiến cho đến khi giải tán nhiệm sở tác chiến. Và cũng kể từ 0400H trở đi, mọi liên lạc, báo cáo giữa soái hạm HQ 5 và Đà Nẵng, cũng như giữa các chiến hạm với nhau, tôi đều được nghe trực tiếp từ đài chỉ huy của chiến hạm, cho đến khi phòng vô tuyến của chiến hạm bị ăn mấy trái đại bác 100 ly, bị hư hại nặng, mới chuyển giao lại việc liên lạc tầm xa cho HQ 4, và cũng kể từ đó không liên lạc được với HQ 16 và HQ 10.
3597 3 SoaiHamHQ5BNN
      Khi HQ 4 và HQ 5 đến nơi, tôi không thấy chiến hạm Trung Cộng đâu cả, nhưng sau đó khi phát hiện ra HQ 4 và HQ 5, hai chiến hạm Kronstad mang số 271 và 274 từ phía Đông đảo Quang Hòa xuất hiện. Khoảng 0650H, Hải kích đã sẵn sàng, Đại Tá Ngạc ra lệnh đổ bộ, Hải kích xuống xuồng cao su để vô bờ, từ chỗ chiến hạm thả trôi vô bờ cũng gần thôi, nhưng thấy xuồng không vô gần bờ mà càng lúc càng xa bờ, có lẽ có một luồng nước đã đẩy xuồng đi về một hướng khác, HQ 5 phải thả “yu yu” xuống để kéo các xuồng Hải kích vô gần bờ, cả hai phía đều theo dỏi diễn tiến này, trong khi đó mạn bên kia đảo, Trung Cộng cũng đang đổ thêm quân, tôi không rõ là bao nhiêu, cuối cùng khoảng 0730H, 30 Hải kích trên HQ 5 đã đặt chân lên đảo Quang Hòa, tiến vô sâu khoảng mấy chục mét, nhưng ngay sau đó đã bị quân Trung Cộng dàn hàng ngang chận lại, Đại Tá Ngạc ra lệnh Hải kích chiếm lại đảo bằng biện pháp ôn hòa, nghỉa là nói rằng đây là đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa, yêu cầu quân Trung Cộng phải rời khỏi đảo, nên Hải kích dù trang bị tối tân nhưng súng chỉ được quyền chỉa lên trời, trong khi đó súng của quân Trung Cộng chỉa thẳng vào bụng của Hải kích, hai bên xí xô xí xào qua lại, bên này nói đảo thuộc chủ quyền của mình yêu cầu bên kia rời khỏi đảo, nghĩa là bên ta muốn chiếm lại những gì đã mất, còn bên kia cũng nói đảo thuộc chủ quyền của họ và yêu cầu Hải kích rời khỏi đảo, nghĩa là họ quyết giữ những gì đã chiếm, nhì nhằng như vậy kéo dài hơn một tiếng đồng hồ và quân Trung Cộng với súng chỉa vô bụng Hải kích, càng lúc càng đẩy lùi Hải kích về lại bải biển, nơi đã đổ bộ.
       Khoảng 0840H thấy tình hình như vậy, Đại Tá Ngạc mới ra lệnh cho Trung Úy Lê Văn Đơn trưởng toán Hải kích đổ bộ tiến về phía Đông đảo chiếm ngọn đồi nhỏ, Trung Úy Đơn và Hải kích mới di chuyển về phía Đông, quân Trung Cộng liền nổ súng, bắn hạ ngay Trung Úy Đơn (quân Trung Cộng biết rõ Trung Úy Đơn là cấp chỉ huy) và một Hạ Sĩ Nhất người nhái tên Đỗ Văn Long và bắn bị thương thêm 3 Hải kích khác. Thấy Trung Úy Đơn tử thương và tình hình bất lợi, Đại Tá Ngạc ra lệnh rút Hải kích về lại HQ 5, toàn bộ Hải kích sau đó đã rút về kể cả người chết và bị thương ngoại trừ Hạ Sĩ Nhất Đỗ Văn Long ở lại vĩnh viễn để làm chứng nhân lịch sử cho việc xâm lấn của bọn giặc đỏ Bắc phương. Quân Trung Cộng không bắn theo khi Hải kích rút đi vì mục đích của họ là chỉ muốn Hải kích rời khỏi đảo và vì e ngại các chiến hạm của ta có thể hải pháo vô đảo. Trong khi đó HQ 16 và HQ 4 báo cáo là đổ bộ Hải kích và Biệt hải không thành công có nghĩa là thất bại.
       Hạm Trưởng Thự nói: “Muốn thanh toán quân Trung Cộng trên đảo, tôi nghĩ không nhiều, chừng một tiểu đội, mà dự định đổ bộ một toán người nhái 9, 10 thì khó mà thành công”, “Người nhái không đổ bộ trong ngày cuộc chiến xảy ra và cũng chưa bao giờ lên được đảo”, điều này chứng tỏ Hạm Trưởng Thự hoàn toàn không biết gì hết dù sự việc đã xảy ra lúc đó hay đã hơn 30 năm rồi, tình hình diễn biến mỗi lúc một khác và các diễn biến này khó lường trước hết được.
       Ngay sau đó Đại Tá Ngạc báo cáo mọi diễn tiến về cho Đà Nẵng, Đà Nẵng ra lệnh “tái đổ bộ, cố gắng lập một đầu cầu, nếu cần thì hải pháo vô đảo”. Lệnh này khá gay go: tái đổ bộ, lập một đầu cầu không dể dàng, còn hải pháo vô đảo các chiến hạm Trung Cộng đâu để yên cho mình, cuối cùng suy đi tính lại chỉ còn có cách là đấu pháo, nếu diệt được mấy chiến hạm Trung Cộng thì mới có thể đổ bộ và chiếm lại đảo. Đại Tá Ngạc nêu đề nghị về Đà Nẵng và xin lệnh. Đà Nẵng chập thuận cho khai hỏa.
       Đại Tá Ngạc ra lệnh phân đoàn 2 từ Đông Bắc đảo di chuyển về Tây Bắc đảo Quang Hòa hợp cùng phân đoàn 1, dĩ nhiên 2 chiến hạm Trung Cộng mang số 389 và 396 đã bám sát HQ 16 và HQ 10 từ sáng tới giờ cũng di chuyển theo. Bốn chiến hạm VNCH lập thành đội hình vòng cung từ Tây Bắc xuống Tây Nam đảo, vị trí các chiến hạm của ta tính từ trên xuống HQ 16, HQ 10, HQ 4 và HQ 5, còn các chiến hạm Trung Cộng theo đội hình hàng dọc, một kèm một và nằm bên trong vòng cung vị trí theo thứ tự từ trên xuống 389, 396, 271, 274 (xin xem phóng đồ). Hạm Trưởng Thự nói rằng “Trước sau họ chỉ đưa ra vỏn vẹn chỉ có 3 chiến hạm không thuộc loại tối tân”. Nội 4 chiếc bám sát các chiến hạm ta từ mờ sáng cho đến lúc hải chiến đã là 4 rồi, không kể những chiếc khác mang số 402, 407, 281, 282.
       Hạm Trưởng Thự đứng ở đài chỉ huy, tôi cũng đứng ở đài chỉ huy, tôi nhìn thấy HQ 16 và HQ 10 (chiếc HQ 4 nằm gần bên tôi không kể), và các chiến hạm địch tôi nhìn rõ con tàu lẫn số tàu và hãy còn nhớ như in dù đã 30 năm rồi, còn Hạm Trưởng Thự không nhìn thấy đầy đủ các chiến hạm địch và tệ hơn nữa không nhìn thấy chiến hạm bạn cho nên không biết HQ 4 và HQ 5 đang ở đâu và đang làm gì, tôi rất ngạc nhiên và không hiểu nổi về điều kỳ quái này. Lúc này các khẩu pháo không còn ở vị trí số không và các nòng pháo đều chỉa thẳng vào nhau, các pháo thủ của cả hai phía đều khiêng tối đa đạn lên pháo tháp của mình, chiếc này kèm chiếc kia và cũng là mục tiêu của nhau: HQ 16 & 389, HQ 10 & 396, HQ 4 & 271, HQ 5 & 274.
3597 4 SoaiHamHQ5BNN
      Theo kế hoạch của Đại Tá Ngạc, HQ 10 sẽ bắn phát đạn 76 ly 2 lên đảo như là một tiếng súng lệnh, ngay sau đó các chiến hạm đồng loạt nhả đạn vào chiến hạm địch. Lúc 1024H ngày 19/01/1974, Đại Tá Ngạc ra lệnh HQ 10 khai hỏa, ngay sau đó các chiến hạm ta đồng loạt bắn thẳng vào các chiến hạm địch với mục tiêu đã định, trận hải chiến Hoàng Sa bắt đầu. Trận đấu pháo giữa ta và địch bắt đầu, lúc này chiến hạm ta và địch chỉ cách nhau khoảng 1500 yards, nghĩa là hoàn toàn nằm trong tầm pháo của nhau, trên bờ quân Trung Cộng bắn trước, trên biển hải quân ta bắn trước.
       Vài phút sau nghe báo cáo HQ 4 bị trở ngại tác xạ, 10 phút sau nghe báo cáo HQ 10 sắp chìm, nhiệm sở đào thoát, 15 phút sau nghe báo cáo HQ 16 cũng sắp chìm, đang nhiệm sở đào thoát. Riêng HQ 5, 15 phút đầu nhả đạn như mưa về phía tàu địch tức chiếc 274, không kể đạn đại bác 40 ly và 20 ly, chỉ tính riêng khẩu đại bác 127 ly đã bắn trên 100 quả đạn, nghĩa là cho đến khi bị bất khiển dụng vì trúng đạn đại bác 100 ly của địch, làm chết trưởng khẩu, làm bị thương các pháo thủ và làm đứt tung hệ thống điện của khẩu pháo, một khẩu pháo khác là khẩu đại bác 40 ly cũng bị bất khiển dụng vì trúng đạn 37 ly ngay khối cơ bẩm, làm khối cơ bẩm không di chuyển được, dỉ nhiên là không bắn được. 15 phút đầu tôi thấy HQ 5 ăn đạn cũng hơi nhiều nhưng không nhiều bằng những phút sau đó.
       Vì sao, vì HQ 10 đang chìm, HQ 16 đang rời vòng giao chiến vì bị thương nặng, HQ 4 đang lùi ra xa vì trở ngại tác xạ, chỉ còn lại HQ 5 là soái hạm với soái kỳ trên đỉnh, mà hỏa lực lúc bấy giờ rất hạn chế, chỉ còn lại một khẩu pháo 40 ly sau lái bên hữu hạm bắn cầm cự mà thôi, trong khi đó các chiến hạm Trung Cộng quay sang “dí” HQ 5, mỗi phút trôi qua, không biết bao nhiêu là quả đạn hướng về HQ 5 và không trật. Đến khoảng 1100H, thấy tình hình hoàn toàn bất lợi, Đại Tá Ngạc ra lệnh “di tản chiến thuật”, HQ 5 tăng máy rời vùng lửa đạn, hướng về phía Nam, sau đó đổi sang hướng Tây, chiến hạm Trung Cộng đuổi theo một đoan thấy vô ích nên quay trở lại. Khoảng 1400H ngày 19/01/1974 khi ngang qua đảo Tri Tôn thì được lệnh từ Đà Nẵng: “HQ 4 và HQ 5 phải quay trở lại Hoàng Sa “nếu cần thì ủi bãi”, khu trục hạm và tuần dương hạm mà ủi bải có nghĩa là tự sát, một cái lệnh không hiểu nổi, nhưng không lâu sau đó có một phản lệnh từ Đà Nẵng, cho HQ 4 và HQ 5 trở về lại Đà Nẵng.
       Khoảng 1500H Hạm Trưởng Quỳnh ra lệnh giải tán nhiệm sở tác chiếm, trực chỉ Đà Nẵng. Tôi rời đài chỉ huy đi xuống bên dưới, bên trong chiến hạm không điện, không đèn, tối thui, nhìn mọi người mặt mũi bơ phờ, đi một vòng chiến hạm thấy có quá nhiều vết đạn, phòng tai và nhân viên chiến hạm vẫn còn đang chiến đấu với thần hỏa vì hãy còn nhiều đám cháy nhỏ và phải làm ngập hầm đạn vì sợ sức nóng của lửa có thể dẫn đến việc nổ hầm đạn, người chết và bị thương rải rác khắp nơi trên chiến hạm, trời kêu ai nấy dạ, bên trong chiến hạm, nhiều nơi bị hư hại nặng v.v.. và v.v…, có điều hai máy chánh không bị suy suyển gì.
       Sau một trận hải chiến, thường thì người ta chỉ nhìn thấy những thiệt hại, những đổ nát, những tổn thất trên chiến hạm của mình mà không biết, mà không nhìn thấy những thiệt hại, những đổ nát, những tổn thất trên chiến hạm khác kể cả bạn và địch. Đêm đó khi đi ngang qua “Ballon Room”, tần ngần nhìn 7 xác chiến hữu nằm xếp hàng ngang ở đó, có 7 chết và 18 bị thương bao gồm nặng nhẹ, kể cả Hải kích và nhân viên cơ hữu. Khoảng 0700H ngày 20/01/1974, HQ 5 về đến Đà Nẵng và cập cầu thương cảng, được các đồng đội HQ hoan hô mà lòng cảm thấy xót xa buồn. Về đến bến, tôi là người đi đếm lỗ đạn, từ đài chỉ huy trở xuống, từ trước mũi ra sau lái, hữu hạm và tả hạm, vì Trung Cộng xử dụng loại đạn xuyên phá, nghĩa là xuyên thủng qua lớp thép rồi mới nổ và phá ở bên trong, nên thấy lỗ nào tròn tròn, đường kính khoảng 1 tấc đích thị là nó.
       Tôi đếm được tất cả là 102 lỗ đạn đại bác 100 ly, còn đạn đại bác 37 ly lỗ nhỏ hơn và nhiều không đếm được, riêng đài chỉ huy trúng mười mấy trái đại bác 100 ly nhưng may mắn là nhờ hai lớp thép bảo vệ nên khi xuyên qua hai lớp thép này thì hết tầm và cũng nhờ Trời thương Phật độ nếu không Đại Tá Ngạc, Hạm Trưởng Quỳnh, tôi và các nhân viên trên đài chỉ huy có thể đã đi theo cố Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà, đâu đâu tôi cũng thấy vết đạn từ Trung tâm Chiến báo, phòng vô tuyến, phòng ngũ Hạm Trưởng, phòng ngũ sĩ quan, pháo tháp 127 ly v.v… và v.v…
       Riêng hữu hạm phần trên mặt nước trúng ba mươi mấy quả đại bác 100 ly, tàu to nên dễ bị ăn đạn, trúng đạn không có nghĩa là tàu phải chìm, sở dĩ trúng đạn nhiều mà không chìm là vì chiến hạm có hai phần, phần trên mặt nước và phần dưới mặt nước, nếu trúng phần trên chỉ gây hư hại, nếu trúng phần dưới mới nguy hiểm, mới có thể dẫn đến việc chìm tàu, vả lại hệ thống an toàn trên chiến hạm cao hơn tàu buôn rất nhiều, vẫn còn có thể cứu vãn được ngoại trừ trúng ngay chỗ nhược và có sức công phá mạnh như thủy lôi, torpedo, hỏa tiển v.v…
       Sau đó Căn cứ Yểm Trợ Tiếp vận Đà Nẵng xuống sửa chữa khẩn cấp và tạm thời, để chiến hạm có thể đi hành quân tiếp. 102 lỗ đạn 100 ly, chỉ hàn khẩn cấp ba mươi mấy lỗ đạn bên hữu hạm và gần mực nước vì sóng gió lớn có thể làm nước biển tràn vào bên trong, còn những lỗ đạn khác chỉ vá, cắt một miếng lưới tròn tròn, đắp lên rồi sơn phết lại trông cũng OK, sửa hệ thống điện khẩu pháo 127 ly, thay khối cơ bẩm khẩu pháo 40 ly, sửa máy vô tuyến và một số linh tinh lang tang khác, còn những hư hại khác chờ về Sài Gòn sửa chữa hay thay thế, riêng boiler hệ thống lọc nước biển thành nước ngọt, mỗi ngày lọc được 8,000 gallons bị bắn bể không sửa chữa được kể cả sau khi về Sài Gòn rồi, báo hại những chuyến công tác sau đó không có nước ngọt để tắm, còn đạn dược phải khiêng lên toàn bộ số đạn đã làm ngập và khiêng xuống bằng ấy số lượng, nghĩa là phải thanh toán một cầu tàu đạn, toàn bộ sĩ quan, hạ sĩ quan và đoàn viên đứng thành một hệ thống dây chuyền, hết đưa lên rồi lại đưa xuống, từ trưa cho đến trước giờ giao thừa, xong hầu hết đều đi ngủ vì quá uể oải.
3597 5 SoaiHamHQ5BNN
      Giao thừa tết Giáp Dần 1974 toàn chiến hạm trôi qua trong yên lặng và buồn thảm, buồn thảm vì có những người bạn đồng đội mới thấy đó đã vỉnh viển ra đi, vì có nhiều việc phải lo, phải làm, lo cho người chết, lo cho người bị thương, lo báo cáo, lo sửa chữa và lo chuẩn bị để đi hành quân tiếp. Hạm Trưởng Thự nói: “Sự thật là HQ 4 và HQ 5 chẳng bị trầy một mảnh sơn nào cả. Cả Hải Quân đều biết. Vì thế cho nên chỉ một mình HQ 16 được đón tiếp ở Sài Gòn và gắn huy chương chứ không có Đại Tá Ngạc hay HQ 4 & HQ 5”, tôi không hiểu tại sao Hạm Trưởng Thự lại lộng ngôn đến thế, nếu Hạm Trưởng Thự muốn làm anh hùng thì cứ việc, nhưng xin đừng bôi bác, xin đừng phủ nhận công lao của chiến hạm bạn và những chiến hữu của mình, đừng tạo ra những hiểu lầm tai hại vì sự mù lòa và thiếu hiểu biết của mình. Sau khi sửa chữa tạm thời xong, nhìn từ bên ngoài HQ 5 trông vẫn OK, nhưng mấy ai biết được rằng từ đầu (đài chỉ huy) và lục phủ ngũ tạng (phần bên trong chiến hạm) gần banh xà rông, vẫn còn ngổn ngang trăm mối, ngoại trừ hai chân vẫn còn tốt, nghĩa là hai máy chánh vẩn còn khiển dụng.
       Ngày mồng Một Tết Giáp Dần, chiến hạm nhận được lệnh hành quân, đi đâu? – ra lại Hoàng Sa, làm gì? – tìm kiếm người mất tích, một cái lệnh coi bộ không vui chút nào, nhưng phải thi hành lệnh thôi. Sau vài ngày tìm kiếm người mất tích không kết quả, HQ 5 có tham dự thực tập tác xạ hải pháo lên một hòn đảo trọc (không cây cối) ngoài khơi Đà Nẵng cùng với HQ 6 và HQ 17, xong về lại Đà Nẵng. Đầu tháng 2/1974 chiến hạm tôi được lệnh rời Đà Nẵng, trực chỉ Trường Sa, tham dự hành quân Trần Hưng Đạo 48, Chỉ Huy Trưởng cuộc hành quân là HQ Đại Tá Nguyễn Văn May và một lần nữa chiến hạm của tôi lại làm soái hạm. Lực lượng hành quân gồm có: Tuần dương hạm HQ 5 (soái hạm), Tuần dương hạm HQ 17, Hộ tống hạm HQ 07 và Hải vận hạm HQ 405 chở theo một tiểu đoàn Địa phương quân thuộc Tiểu khu Phước Tuy, mục đích là chiếm đóng và duy trì chiếm đóng 4 đảo còn đang bỏ trống thuộc quần đảo Trường Sa vì không muốn tái diễn Hoàng Sa thêm một lần nữa, 4 đảo này là Sơn Ca, Song Tử Tây, Sinh Tồn và đảo Trường Sa.
       Trước đó năm 1973 Hải quân VNCH đã chiếm đóng và duy trì chiếm đóng đảo Nam Yết, đảo lớn nhất thuộc chủ quyền của VNCH và là đảo lớn thứ nhì sau đảo Thái Bình thuộc Trung Hoa Quốc Gia. Lực lượng hành quân đi một vòng đổ bộ tiểu đoàn Địa phương quân lên các đảo kể trên cùng các quân trang, quân dụng, vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm, nước ngọt v.v. và v.v…., kết quả hoàn toàn tốt đẹp mà không gặp bất cứ một sự kháng cự nào vì lúc đó trên đảo chỉ có chim và vích. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ các chiến hạm HQ 17, HQ 7 và HQ 405 rút về, chỉ còn lại soái hạm HQ 5 chạy vòng vòng 5 đảo để tuần tiểu, yểm trợ, tiếp tế, nói chạy vòng vòng chớ mấy đảo này cách nhau rất xa, hết 15 ngày về Vũng Tàu nghĩ bến, tiếp tế sửa chữa linh tinh 2 ngày, lại ra Trường Sa 15 ngày cứ như thế cho đến giữa tháng 4/1974 nghĩa là gần 3 tháng sau ngày xảy ra trận chiến, soái hạm của trận hải chiến Hoàng Sa mới được lệnh về Sài Gòn.
       Trong khi đó các lực lượng tham chiến và các thành phần liên quan đều đã lượt lượt trở về Sài Gòn hết rồi, từ HQ 16 được về sớm nhất, những người đào thoát từ HQ 10, HQ 4, những người đào thoát tù đảo thuộc HQ 16, rồi đến 48 tù binh bị Trung Cộng bắt giữ bao gồm Hải quân, Địa phương quân và Công binh trong đó có 1 cố vấn Mỹ, riêng soái hạm rời vùng lửa đạn sau cùng, ăn đạn nhiều nhất và cũng là chiến hạm về lại Sài Gòn chót nhất. Dầu trở về muộn màng, HQ 5 cũng được đón tiếp, hoan hô và sau đó có nhiều phái đoàn xuống chiến hạm ủy lạo và tặng thưởng, tổng số tiền mà các phái đoàn ủy lạo kể cả trước đó ở Đà Nẵng nằm giữa con số một triệu rưởi và hai triệu đồng tiền VNCH thời điểm 1974, điều này cũng đủ để an ủi, cũng đủ để ấm lòng dù hãy còn nhiều áy náy vì sứ mạng không thành.
       Khi về lại Sài Gòn, tôi có nghe được những lời đồn đại đầy ác ý và bôi bác về Đại Tá Ngạc, nào là trong khi hải chiến Đại Tá Ngạc sợ quá bò lăn bò càng trên đài chỉ huy, nào là sợ quá tìm chỗ ẩn núp v.v… tôi đứng cạnh Đại Tá Ngạc trên đài chỉ huy từ 0400H đến 1500H, nào có thấy gì đâu, ổng lo điều động, chỉ huy, báo cáo, nhận lệnh còn thì giờ đâu mà lo mà sợ, vả lại cái lon Đại Tá của ổng đâu cho phép ổng làm như vậy, nếu ổng không anh hùng thì tôi chắc chắn là ổng cũng không hèn. Ngay chuyện trước mắt đây, Hạm Trưởng Thự nói: “Toàn bài viết của Đại Tá Ngạc (trận hải chiến Hoàng Sa) từ đầu đến cuối là sai sự thật” Đại Tá Ngạc là người trực tiếp chỉ huy trận đánh, mấy chục năm sau ngồi xuống, nhớ lại viết về trận đánh này có thể không hoàn toàn đầy đủ, có thể không hoàn toàn chính xác, có thể có một vài nghi vấn, nhưng không thể hồ đồ kết luận rằng tất cả đều sai sự thật, ngoại trừ phi Đại Tá Ngạc bị lú lẫn, mà tôi tin rằng Đại Tá Ngạc thì không, điều khôi hài là sự kết luận này lại đúng cho chính Hạm Trưởng Thự, nhiều điều trong bài viết của Hạm Trưởng Thự là hoàn toàn sai sự thật, tôi có thể khẳng định như vậy.
       Hạm Trưởng Thự đã nhiều lần tự xác nhận là mình không biết gì về nhiệm vụ và hoạt động của HQ 4 và HQ 5, không biết trước, trong và sau hải chiến HQ 4 và HQ 5 đang ở đâu và đang làm gì thì tốt hơn hết là Hạm Trưởng Thự xin hãy dựa cột mà nghe, đừng có lên tiếng, lên tiếng làm chi, rồi còn hết sự thật này tới sự thật kia, những sự thật trời ơi đất hởi để làm phiền lòng nhau, phiền lòng nhau không phải bởi những điều Hạm Trường Thự nói đúng sự thật, mà bởi những điều nói sai sự thật. Hãy trả sự thật về với sự thật dù là nó không trọn vẹn, không hoàn hảo, còn cái gọi là “Sự Thật Về Trận Hải Chiến Hoàng Sa” xin được trả lại cho Hạm Trưởng Thự để khỏi phiền toái cuộc đời.
       Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã làm tất cả những gì có thể làm được để bảo vệ quê hương và vùng biển thân yêu, nhưng lịch sử có những nghiệt ngã của nó, đã đưa đẩy chúng ta đến chỗ đau lòng, nhìn nước mất nhà tan và vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa lần lượt rơi vào tay bọn quỷ đỏ Bắc phương, và xin hãy nhớ cho một điều quan trọng, chúng ta chỉ có một kẻ thù duy nhất là bọn giặc đỏ Bắc phương.
Bùi Ngọc Nở
- Khoá 19 SQHQ/Nha Trang.
- Nguyên Sĩ Quan Hải Hành, Xử Lý Thường Vụ Trưởng Khối Hành Quân Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ 5
( From : LNTD )

18 tháng 12, 2019

Những ông ‘vua’ ngành thuốc tại Sài Gòn trước 1975


 Trong số những người thành công với nghề dược tại Sài Gòn trước đây, dược sĩ La Thành Nghệ là một khuôn mặt nổi bật, được nhiều người biết tiếng. Vốn người Triều Châu, sinh trong gia đình giàu có, La Thành Nghệ được du học bên Pháp và đậu bằng dược sĩ. Điểm qua những nhân vật giàu có, tiếng tăm thuộc ngành y dược thời đó còn có các dược sĩ Trần Văn Lắm, Nguyễn Cao Thăng, Nguyễn Thị Hai…
La Thành Nghệ được phong là ‘vua thuốc đỏ’, một sản phẩm rất tầm thường, giá trị thấp, nhưng được mọi giới ưa chuộng và rất phổ biến từ thành thị tới thôn quê. Khi chiến tranh càng ngày càng leo thang, nhu cầu sử dụng thuốc đỏ càng nhiều thì La Thành Nghệ được phép làm đại lý độc quyền phân phối thuốc đỏ, đem lại cho ông một nguồn lợi rất lớn, Ít ai nghĩ rằng với một thứ sản phẩm tầm thường, rẻ tiền như thuốc đỏ mà làm nên sự nghiệp kếch xù của La Thành Nghệ. Trước khi miền Nam thất thủ, những ai có dịp đi qua đường Tự Do chắc đã thấy Laboratoire La Thành, nằm giữa hai nhà hàng La Pagode và rạp Eden, Thuốc đỏ, tiếng Pháp gọi là mercure crome, một thứ dung dịch màu đỏ, dùng bôi lên các vết thương nhẹ để sát trùng. Thời đó, thuốc đỏ do Laboratoire La Thành sản xuất, được sử dụng trong các bệnh viện, các quân y viện, các bệnh viện dã chiến, các trung tâm y tế, các đơn vị quân y… và rất được dân chúng từ thành thị tới thôn quê ưa chuộng vì nó rẻ tiền mà lại hiệu nghiệm.

La Thành Nghệ còn nhập cảng các loại thuốc trụ sinh, một thứ thần dược trị các vết thương. Ngoài hai loại thuốc đỏ và trụ sinh, Laboratoire La Thành còn sáng chế một thứ pommade để trị bịnh phong tình. Bịnh này thường có mụn đỏ chung quanh háng và bộ sinh dục. Muốn điều trị chỉ cần xức pommade vào chỗ đó, sau khi rửa vết thương cho sạch bằng thuốc đỏ. Chỉ vài ba lần xức pommade, người bịnh cảm thấy dễ chịu, không ngứa rát và bình phục!..,thanh niên bị bịnh phong tình thường có mặc cảm không muốn đến bệnh viện hay đi bác sĩ tư để chữa trị. Họ mua thuốc pommade của dược sĩ La Thành Nghệ và tự chữa lấy. Nhờ biết được yếu tố tâm lý ấy, sản phẩm của La Thành Nghệ bán chạy như tôm tươi, khi trở nên giàu có, La Thành Nghệ sống thầm lặng, ít khoe khoang hay ăn chơi trác táng như một số nhà giàu khác. Ngược lại, dân ăn chơi Sài Thành, không ai không nghe tiếng hoặc biết đến ‘công tử’ Hoàng Kim Lân, con của ‘vua dây kẽm gai’ Hoàng Kim Quy.

Tôi được nghe, có lần tại vũ trường Maxim, ông Hoàng Kim Lân đứng lên giữa sân khấu tuyên bố: “Hôm nay là ngày sinh nhựt của tôi. Tôi xin đãi tất cả quý vị có mặt tại đây. Quý vị tha hồ ăn uống bất cứ món gì mà không phải trả tiền”. Tiếp theo sau đó, rượu sâm banh chảy ra như suối và khách ăn chơi vỗ tay như sấm để tán thưởng sáng kiến độc đáo của mạnh thường quân Kim Lân!, trở lại chuyện La Thành Nghệ, ông là người chỉ giao thiệp với giới nhà giàu và thượng lưu, trí thức ở Sài Gòn. Tuy sống trên đống vàng, nhưng ông không phung phí tiền bạc để mang tai tiếng như nhiều người khác. Năm 1967, La Thành Nghệ ra ứng cử Nghị sĩ Quốc Hội, chung liên danh Bạch Tượng với Dược sĩ Trần Văn Lắm và đắc cử. Ông Trần Văn Lắm có lúc làm Phó chủ tịch Thượng Viện và Tổng trưởng Ngoại Giao dưới thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, tuy nhiên, danh nghĩa Nghị sĩ Quốc Hội chỉ để trang trí cho La Thành Nghệ hơn là nghề hái ra liền như viện bào chế La Thành của ông. Do đó, trong thời gian tham chính, dư luận hay báo chí không nghe ông tuyên bố hay có hành động chính trị nào… Ông cũng tránh xa các áp-phe làm ăn của các ông tai to mặt lớn khác.

Dược sĩ La Thành Nghệ cuối cùng lại là nạn nhân của Tổng Thống Trần văn Hương, người đã gây khó khăn cho những người di tản bằng sắc lệnh cấm công chức, sĩ quan và thanh niên trong tuổi quân dịch ‘di tản’ vào những ngày cuối cùng của Sài Gòn. La Thành Nghệ vượt biển quá sớm, bị hải quân VNCH bắt đem về đất liền, ở lại Sài Gòn và cuối cùng được ‘chính quyền cách mạng’ cho đi học tập cải tạo.
Một dược sĩ khác cũng thành công và nổi tiếng nhờ thứ thuốc ban nóng, cảm ho của trẻ em là ông Nguyễn Chí Nhiều. Ông Nhiều lập Nguyễn Chí Dược Cuộc, sản xuất vài thứ thuốc thông dụng trong đó nổi bật nhất là Euquinol, thuốc ban nóng dành cho trẻ em. Thuốc Euquinol trở nên quen thuộc đối với các bà nội trợ từ thành thị đến nông thôn. Hễ ai có con nóng đầu, người nhà hay lối xóm liền thúc hối… mua thuốc Euquinol.
Euquinol được bào chế theo dạng thuốc Tây bằng bột màu trắng, khác với hình dạng gói thuốc cao đơn hoàn tán của các tiệm thuốc Bắc. Euquinol của Nguyễn Chí Nhiều vừa rẻ tiền, vừa hiệu nghiệm, lại được quảng cáo sâu rộng, được bày bán trong các tiệm thuốc tây và cả các tiệm tạp hoá nên dân chúng mua dễ dàng. Dần dần, thuốc ban Euquinol đánh bại thuốc “Ngoại cảm tán” của nhà thuốc Nhị Thiên Đường vốn độc chiếm thị trường mấy thập niên trước đó.
Ông Nguyễn Chí Nhiều là người có sáng kiến, biết lợi dụng các cuộc tranh tài thể thao để quảng cáo sản phẩm của mình. Hễ có cuộc đua xe đạp đường trường nào là cũng có các xe thuốc Euquinol đi kèm. Sau này ông trở thành ‘ông bầu’ của đoàn cua-rơ mang tên Euquinol. Đoàn xe đạp này là một ê-kíp gồm những tay đua do chính ông tuyển chọn và tài trợ để tập dượt và tranh tài trong các cuộc đua Vòng Cộng Hoà từ năm 1956 trở đi.
Đội xe đạp Euquinol là một đội đua chuyên nghiệp, dược sĩ Nguyễn Chí Nhiều phát lương để họ tập dợt. Chính ông bỏ tiền ra mua xe đạp và cung cấp phụ tùng. Khi đã trở thành cua-rơ của đội họ khỏi bận tâm lo sinh kế, ngoài chuyện cố tâm luyện lập. Vì thế đội Euquinol thường lập được nhiều thành tích, chiếm các giải đồng đội và cá nhân trên các đường đua.
Những nhà thuốc tây xưa nhất ở Sài Gòn phải kể đến các tiệm Pharmacie Mus của ông Beniot, Pharmacie Sohrenne, Pharmacie Normale, Pharmacie de France… Đó là những nhà thuốc Tây mà chủ nhân đều là dược sĩ người Pháp. Nhà thuốc nào cũng có phòng bào chế riêng để chế thuốc theo toa bác sĩ.
Nhà thuốc của người Việt có Cường Lắm ở góc đường Mac Mahon (Công Lý) và đường Bonard (Lê Lợi), chủ nhân là dược sĩ Trần Văn Lắm. Dưới thời Nguyễn Văn Thiệu, ông Lắm trở thành Thượng nghị sĩ và Ngoại trưởng. Ngoài ra còn có Pharmacie Lý, chủ nhân là dược sĩ Nguyễn Thị Lý; Pharmacie Dương Hữu Lễ của dược sĩ Dương Hữu Lễ ở đường Rue d’Espagne (Lê Thánh Tôn) và Pharmacie Nguyễn Văn Cao ở góc đường Chợ Mới và đường Bonard.
Trong các ngành công kỹ nghệ của Việt nam Cộng hòa (1954-1975), nhiều người cũng biết làm giàu bằng cách ‘chuyên môn hóa’ việc buôn bán một mặt hàng thông dụng, rẻ tiền nhưng có lợi tức lớn lao ít ai ngờ. Thời thế đã giúp họ làm giàu nhanh chóng nhưng cũng không loại trừ khả năng họ phải ‘đóng thuế’ cho phía bên kia để được yên ổn làm ăn. Như vậy, họ phải chịu hai đầu thuế của Cộng hòa và Việt cộng. Tuy nhiên, những chi phí này được tính vào giá thành sản phẩm và thiệt thòi là… người tiêu dùng.
Trong số những nhân vật giàu có này phải kể đến ‘Vua vương quốc Chợ Lớn’ là Bang trưởng Triều Châu Trần Thành; ‘Vua sắt thép, dệt may’ Lý Long Thân; ‘Vua lúa gạo’ Trần Thành, Mã Hỉ và Lại Kim Dung; ‘Vua nông cụ’ Lưu kiệt, Lưu Trung; ‘Vua ngân hàng’ Nguyễn Tấn Đời và ‘Vua bột giặt Viso’ Trương Văn Khôi.
Giới Đông y cũng có những tên tuổi lừng lẫy với các loại thuốc gia truyền, rẻ tiền nhưng lại hiệu nghiệm. Người ta thường nhắc đến Võ Văn Vân, người sáng lập nhà thuốc mang cùng tên với các sản phẩm như “Tam tinh hải cẩu bổ thận hoàn” trị bịnh yếu sinh lý, tráng dương, bổ thận, dùng cho đàn ông để tăng cường sinh lực và “Bá đả quân sơn tán” trị bịnh đau lưng, nhức mỏi rất công hiệu.
Hồi đó, các xe quảng cáo của nhà thuốc Võ Văn Vân còn khoe rằng “Bá đả quân sơn tán” là thuốc dùng khi bị té, đặc biệt là các võ sĩ, người lao động chân tay như làm ruộng, làm công (vác lúa, chèo ghe, móc mương, bồi vườn…) đều ‘phải’ uống thuốc này, vì nó ‘hiệu nghiệm như thuốc tiên’!
Vào khoảng những năm 1955-1957, các nhà thuốc thường tổ chức những xe thuốc đi bán dạo ở miền quê. Mỗi xe có người làm trò vui như xiếc, ảo thuật, phụ họa với dàn kèn trống để thu hút khán giả. Xen kẽ vào những trò vui ấy là màn bán thuốc. Người nhà quê lúc ấy gọi các xe bán thuốc dạo là “Sơn Đông Mãi Võ”.
Tuy là đông y sĩ, nhưng ông Võ Văn Vân lại cho các con qua Pháp du học các ngành y và dược. Trong số các con của Võ Văn Vân, có ông Võ Văn Ứng, từng nổi tiếng là Mạnh Thường Quân của túc cầu Sài Gòn qua cái tên thân mật là ‘Bầu Ứng’. Ông Võ Văn Ứng còn làm Tổng giám đốc Nam Đô Ngân hàng và Khách sạn Nam Đô.
Một nhà thuốc đông y khác, cũng nổi tiếng cùng thời, là nhà thuốc Võ Đình Dần ở Chợ Lớn. Thuốc ích khí bổ thận “Cửu Long Hoàn”, chuyên trị mệt mỏi, lao tâm lao lực, được quảng cáo sâu rộng, nên bán rất chạy. Thời đó, hầu như ai cũng thuộc lòng câu: “Một viên Cửu Long hoàn bằng 10 thang thuốc bổ” của nhà thuốc Võ Đình Dần.
Nhà thuốc này cũng có một đội ngũ chuyên môn đi bán dạo khắp thôn quê, gồm 5 xe cam nhông Sơn Đông Mãi Võ. Theo nhà văn Hồ Trường An, thuốc Cửu Long hoàn được các người lao tâm, lao lực, thức đêm, làm việc nhiều như các vũ nữ ở các vũ trường, các nghệ sĩ sân khấu cải lương, các tay cờ bạc… tóm lại những kẻ ‘lấy ngày làm đêm’, đều dùng Cửu Long hoàn, để phục hồi sức lực, nhà thuốc Nhành Mai ở Phú Nhuận, nổi tiếng với món thuốc dưỡng thai hiệu Nhành Mai. Ngoài ra, món thuốc dán hiệu Nhành Mai, trị mụn nhọt rất hay. Không cần phá miệng mụn nhọt, chỉ cần trét thuốc vào miếng vải cắt tròn, lớn cỡ đồng xu, ở giữa có đục lỗ, rồi dán lên mụt nhọt. Chừng vài ngày sau, gỡ miếng vải ra thì mủ và cùi nhọt… lòi ra.
Hồi Sài Gòn còn xe điện chạy theo lộ trình Galliéni (Trần Hưng Đạo) Sài Gòn-Chợ Lớn và Boulevard de la Somme (Hàm Nghi) đến chợ Tân Định, hai bên thành xe điện có nhiều bảng quảng cáo như: Một viên Cửu Long Hoàn bằng 10 thang thuốc bổ của nhà thuốc Võ văn Vân, Thuốc xổ Nhành Mai, Dầu khuynh diệp bác sĩ Bùi Kiễn Tín, Kem đánh răng Hynos ‘cha-cha-cha’ mang hình anh Bảy Chà ‘đen như cột nhà cháy với hàm răng trắng bóc’, thuốc lá Jean Bastos và thậm chí cả… Hòm Tôbia ‘danh tiếng nhất’.

Nhà thuốc Đại Quang do người Tàu ở Chợ Lớn cũng nổi tiếng với món thuốc “Huyết Trung Bửu”, loại thuốc điều hoà kinh nguyệt dành cho phụ nữ. Thuốc này từ khi xuất hiện trên thị trường đã đánh bạt “Nữ Kim Đơn” vì nhờ quảng cáo mạnh trên các báo chí. Đã vậy, hãng Đại Quang cũng như nhà thuốc Ông Tiên (của Nguyễn Hoàng Hoạnh), cứ mỗi năm cho ra cuốn sách quảng cáo, có truyện ngắn, thơ, có chuyện lịch sử, bài ca vọng cổ… để giới thiệu các thứ thuốc của hãng mình cho khắp đồng bào Lục tỉnh.

Nhà thuốc Đại Từ Bi cũng có xe cam nhông bít mui, bán dạo khắp Nam Kỳ, từ thành thị đến thôn quê, đặc biệt là các tài tử biết đờn ca vọng cổ, biết đóng tuồng cải lương, hát giúp vui mỗi khi xe neo ở một địa điểm nào đó để bán thuốc. Tuồng tích phần nhiều kể chuyện Ông Trương Tiên Bửu, Kim Vân Kiều, Cánh Buồm Đen…
Trước năm 1954, dân Nam Kỳ, nhứt là dân ‘thủ cựu’ ở thị thành và dân ở các vùng nửa chợ nửa quê, dân miệt vườn… đều chê thuốc Tây nóng nên không dùng. Cũng vì thế các tiệm thuốc Bắc mọc lên như nấm.
Người khách trú, một khi mở tiệm thuốc, ngoài các dược thảo, dược phẩm, còn bán thêm các loại cao đơn hoàn tán do các nhà thuốc Việt Nam bào chế, lại thêm các loại thuốc đặc chế từ bên Tàu như Thượng Hải, Hồng Kông, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây nhập cảng vào. Thị trường thuốc tây, thuốc nam, thuốc bắc tại Sài Gòn và cả miền Nam phát triển mạnh. ‘Trăm hoa đua nở, trăm nhà… uống thuốc’!

Bên cạnh mỹ phẩm như Bạch ngọc cao, một loại kem xức cho da mặt mịn màng, còn có Bóng nha duyên dùng để chà răng cho trắng. Bóng nha duyên xúc miệng không thơm bằng phấn chà răng của Tây đặc chế như Kool, Gibbs, nên bán không chạy. Dân miệt vườn thì dùng xác cau khô để chà răng, chưa quen với việc dùng bàn chải, đến khi kem đánh răng Leyna xuất hiện với hình nữ minh tinh Kim Vui cười phô hàm răng trắng đều, và sau đó là kem Hynos của ông Vương Đạo Nghĩa (1965) với người đàn ông da đen cười răng trắng nhởn, thì Kool, Gibbs, Perlon bị cáo chung. Bóng nha duyên cũng rút lui không kèn không trống, điểm nổi bật của ông chủ trẻ Vương Đạo Nghĩa là nghệ thuật quảng cáo cho kem đánh răng Chú Chà Và Hynos sau khi anh được thừa hưởng gia tài từ một ông chủ người Mỹ có vợ Việt. Hình ảnh chú Hynos xuất hiện hầu như khắp hang cùng ngõ hẻm Sài Gòn. Bên cạnh đó, điệp khúc Hynos cha cha cha… trên đài phát thanh và trên chiếc deux chevaux (2CV) bán hàng tại các chợ Sài Gòn, người ta nói ông chủ Hynos đã không ngần ngại trích ra 50% lợi nhuận cho việc quảng cáo. Có thể nói, đây là một tỷ lệ quảng cáo đột phá và đầy ấn tượng trong bối cảnh nền thương mại của Sài Gòn xưa đang trên đường hội nhập vào thế giới tư bản.

16 tháng 12, 2019

Lịch sử Quân đội Việt Minh - Quân đội nhân dân Việt Nam (theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944. Lễ thành lập được tổ chức tại khu rừng Sam Cao nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám thuộc Châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng).

Ban đầu gồm 34 chiến sĩ trong đó có 3 nữ với 34 khẩu súng các loại do Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung; Hoàng Sâm được chọn làm đội trưởng; Xích Thắng, tức Dương Mạc Thạch, làm chính trị viên, Hoàng Văn Thái phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến; Lâm Cẩm Như, tức Lâm Kính, phụ trách công tác chính trị; Lộc Văn Lùng tức Văn Tiên làm quản lý.

Ngày 15 tháng 4 năm 1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp tại Hiệp Hòa, Bắc Giang quyết định Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sáp nhập với lực lượng Cứu quốc quân do Chu Văn Tấn chỉ huy, đổi tên thành Giải phóng quân, lực lượng quân sự chính của Việt Minh để giành chính quyền năm 1945. Lễ hợp nhất được tổ chức ngày 15 tháng 5 năm 1945 tại rừng Thàn Mát, xã Định Biên, huyện Định Hóa (Thái Nguyên).

Trận đánh đầu tiên của đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là trận Phai Khắt, Nà Ngần ngày 25 và 26 tháng 12 năm 1944.

Ngày 16 tháng 8 năm 1945, trong Cách mạng Tháng Tám, khi tiến đánh Thái Nguyên, quân số Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã khoảng 450 người, biên chế thành một chi đội (tiểu đoàn), do Lâm Cẩm Như làm chi đội trưởng. Sau 7 ngày, quân Nhật ở Thái Nguyên mới chịu chấp nhận giao nộp vũ khí cho Giải phóng quân.

Kháng chiến chống Pháp

Từ năm 1945, Giải phóng quân của Việt Minh là lực lượng nòng cốt quân đội quốc gia của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tháng 11 năm 1945 Việt Nam giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn, còn gọi là Vệ quốc quân. Lúc này quân số khoảng 50.000 người, tổ chức thành khoảng 40 chi đội ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ. Một số chi đội đã "Nam tiến" để giúp quân dân miền Nam chống lại quân Pháp đang tấn công trở lại ở Nam Bộ. Riêng tại Bắc Bộ, Nam Trung Bộ, Nam Bộ và cả Tây Nguyên cũng có những tổ chức vũ trang do các giáo phái hoặc các đảng phái quốc gia thành lập và lãnh đạo chống Pháp, một số hợp tác với Việt Minh, một số chống Việt Minh.
Ngày 22 tháng 5 năm 1946, theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch nước, Vệ quốc đoàn đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam,[3] được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu. Quân đội tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội... Cùng với việc xây dựng quân đội quốc gia, chính phủ đặc biệt coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, lực lượng bán vũ trang, bao gồm: dân quân ở nông thôn và tự vệ ở đô thị. Lực lượng này tồn tại trên toàn quốc, nhiều đội du kích nổi tiếng và còn dư âm đến tận bây giờ, tiêu biểu như du kích Nha Trang, du kích Ba Tơ, Bến Tre... Đến cuối năm 1946, có khoảng 1 triệu dân quân tự vệ đã được tổ chức và huấn luyện quân sự.[4] Ngoài lực lượng Quân đội Quốc gia Việt Nam, tại miền Nam thời điểm này còn có các đơn vị quân sự khác do các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên và các đảng phái quốc gia như Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng chỉ huy. Trong thời kỳ 1945 – 1950, có những người nước ngoài đã tình nguyện tham gia chiến đấu và các ngành khác như chỉ huy, tham mưu, kỹ thuật, huấn luyện, quân y, quân giới, tuyên truyền... được gọi là Chiến sĩ "Việt Nam mới". Nhiều người được giao trọng trách và phong quân hàm sĩ quan cao cấp. Họ đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng quân đội Việt Nam trong thời kì non trẻ.
Năm 1949, hoàn thiện tổ chức tiểu đoàn bộ binh. Đơn vị này gồm 3 đại đội bộ binh, một đại đội hỏa lực mạnh. Có súng máy hạng nặng và súng cối. Hầu hết các đơn vị bộ đội chủ lực được thành lập tại Việt Bắc, và từ sau năm 1949, nhiều đơn vị được huấn luyện tại các doanh trại của Trung Quốc ở Vấn Sơn (Wenshan), Long Châu (Long Zhou), Tĩnh Tây (Jing Xi) và Tư Mao (Szu Mao). Họ nhận được các trang thiết bị tốt hơn, các tuyến tiếp vận từ Trung Quốc vào Bắc Kỳ được phục vụ bằng một đội xe tải lên đến gần 600 chiếc vào cuối năm 1953. Bộ đội chủ lực được huấn luyện kỹ lưỡng bởi các chuyên viên huấn luyện giàu kinh nghiệm của Trung Quốc, 261 chuyên viên cũng vượt biên giới vào Bắc Kỳ vào tháng 7 năm 1950 để thực hiện nhiệm vụ cố vấn. Gan dạ và được chỉ huy tốt, bộ đội chủ lực tạo thành một đạo quân vận động quy mô lớn dưới quyền trực tiếp của tướng Giáp và các cấp phó của ông. Đội hình chủ lực đầu tiên là Liên Trung đoàn 308 được thành lập vào tháng 8 năm 1949, bao gồm các trung đoàn 308, 92 và 102. Đến cuối năm 1949, nó trở thành Đại đoàn 308, được bổ sung thêm các trung đoàn 174 và 209, từng được trang bị và huấn luyện tại Trung Quốc. Các sư đoàn bộ đội chủ lực có một phiên chế gồm 3 trung đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn pháo binh; trong đó mỗi trung đoàn lại bao gồm 4 tiểu đoàn bộ binh và một đơn vị vũ khí hạng nặng (thông thường là 4 khẩu pháo 75mm, 4 khẩu cối 120mm). Các đơn vị hỗ trợ phát triển chậm chạp, bởi vì hầu hết pháo và cối hạng nặng đều được giữ lại để dành cho đội hình song song của đại đoàn "công pháo" được đánh số là 351. Quân số của sư đoàn ban đầu ở mức khoảng 12.000 người, và sau này được thiết đặt ở mức khoảng 10.000 người. Mỗi tiểu đoàn 800 người có 20 khẩu súng máy, 8 khẩu cối 82mm, 3 khẩu súng không giật 75mm và một số súng ba-dô-ka thêm vào cho các vũ khí loại nhỏ.
Đầu năm 1950, bộ đội chủ lực đã có những trung đoàn hoàn chỉnh thành thạo việc đánh công kiên. Một vài trung đoàn trong số này còn tồn tại đến nay.[5] Cũng thời gian này, để chuẩn bị thời phản công, các sư đoàn quan trọng được thành lập, đến nay vẫn là khối cơ động chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhóm các đơn vị thuộc khối quân cơ động trung ương (thành lập 1950–1951) gồm các đại đoàn 304, 308, 312, 316, 320, 351. Sau này có thêm các đơn vị pháo binh, phòng không, pháo phản lực trong đại đoàn 351 như trung đoàn 237 (cối lớn), trung đoàn 367 (phòng không 37mm). Sư đoàn 351 còn được gọi là bộ binh nặng, công pháo (công binh, pháo binh). Đại đoàn Bình Trị Thiên (sư 325) do Trần Quý Hai chỉ huy được thành lập ở miền Trung.
Từ giai đoạn 1948–1949, một lực lượng bản xứ đã được thành lập trong chiến lược Da vàng hóa chiến tranh, cũng mang tên Quân đội Quốc gia Việt Nam. Quân đội này được thành lập dựa trên Hiệp định quân sự giữa Pháp và chính phủ Quốc gia Việt Nam (trực thuộc Liên hiệp Pháp) bằng cách đặt một số đơn vị quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của chính quyền Bảo Đại. Tuy nhiên, quyền quyết định tối cao trên chiến trường vẫn thuộc về người Pháp.[6] Quân đội Quốc gia Việt Nam tham chiến cùng quân đội Pháp chống lại quân đội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và đây chính là tiền thân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa sau này.
Để tránh nhầm lẫn với quân đội của Bảo Đại, bắt đầu từ giai đoạn này quân đội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dần chuyển sang sử dụng danh xưng Quân đội nhân dân Việt Nam. Mặc dù vậy danh xưng chính thức trên các văn bản hành chính vẫn sử dụng tên gọi Quân đội Quốc gia Việt Nam.
Đến cuối năm 1951, Quân đội nhân dân Việt Nam đã thành lập được các sư đoàn sau[7]:
Đại đoàn 304 (gồm các trung đoàn 9, 57, 66 và tiểu đoàn pháo binh 345); Đại đoàn 308 (gồm các trung đoàn 36, 88, 102); Đại đoàn 312 (gồm các trung đoàn 141, 165, 209 và tiểu đoàn pháo binh 154); Đại đoàn 316 (gồm các trung đoàn 98, 174, 176 và đại đội vũ khí hạng nặng 812); Đại đoàn 320 (gồm các trung đoàn 48, 52, 64). Vào cuối năm đó, Đại đoàn 325 cũng được thành lập – ít nhất về mặt hành chính – từ các trung đoàn 18, 95 và 101 ở khu vực Thừa Thiên của Trung Kỳ.
Ngoài ra, còn có các trung đoàn độc lập tại Bắc Kỳ là: 148 (vùng trung du), 42, 46 và 50 (vùng châu thổ sông Hồng), 238 và 246 (bảo vệ các an toàn khu tại Việt Bắc); tại Trung Kỳ có các trung đoàn độc lập là 96, 108 và 803; còn tại Nam Kỳ có Trung đoàn Đồng Nai (các tiểu đoàn 301, 302, 303 và 304), Trung đoàn Đồng Tháp Mười (các tiểu đoàn 307, 309 và 311, hoạt động tại vùng Đồng Tháp Mười), Trung đoàn 300 (khu vực Phú Mỹ), Trung đoàn 950 (cho các chiến dịch đánh Sài Gòn), Trung đoàn Cửu Long (các tiểu đoàn 308, 310 và 312, hoạt động tại vùng Trà Vinh) và Trung đoàn Tây Đô (các tiểu đoàn 402, 404 và 406, hoạt động tại vùng Cần Thơ).
Đến năm 1953, các đơn vị của Đại đoàn Công pháo 351 gồm có: Trung đoàn Công binh 151, Trung đoàn vũ khí nặng 237 (cối 82mm), Trung đoàn pháo binh 45 (lựu pháo 105mm), Trung đoàn pháo binh 675 (sơn pháo 75mm và cối 120mm), và Trung đoàn phòng không 367 (pháo phòng không 37mm và súng máy cỡ đạn 50cal).
Quân đội nhân dân Việt Nam phất cao lá cờ chiến thắng trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
Các nguồn tư liệu đưa ra con số khác nhau về quân số của Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, nhưng vào đầu năm 1947, họ có tổng cộng khoảng 50.000 bộ đội chủ lực, 30.000 bộ đội địa phương và 50.000 dân quân du kích. Vào mùa hè năm 1950, khoảng 25.000 bộ đội địa phương được nâng cấp lên thành bộ đội chủ lực, đem lại cho tướng Giáp khoảng 60 tiểu đoàn chủ lực cho chiến dịch đầu tiên của ông. Những con số ước tính vào các năm kế tiếp như sau: đến cuối năm 1951 có 110.000 bộ đội chủ lực, từ 200.000 đến 250.000 bộ đội địa phương và dân quân du kích; mùa hè năm 1952 có 110.000 bộ đội chủ lực, 75.000 bộ đội địa phương và 120.000 dân quân du kích; mùa xuân năm 1953 có 125.000 bộ đội chủ lực, 75.000 bộ đội địa phương và 250.000 dân quân du kích[8].
Năm 1954, với thắng lợi của trận Điện Biên Phủ, đây là đội quân đầu tiên của một đất nước thuộc địa đánh bại một quân đội thực dân cũ trong lịch sử thế giới của thế kỷ XX. Sau năm 1954, bộ phận Quân đội nhân dân Việt Nam tại miền Nam (dưới vĩ tuyến 17) cùng với thành viên Việt Minh (khoảng 140 ngàn người) tập kết về miền bắc Việt Nam, và được chính quy hóa. Cuối chiến tranh, Quân đội nhân dân Việt Nam có khoảng 24 vạn quân chủ lực và gần 1 triệu du kích.
Thiếu tá Bi-gia, đã có kinh nghiệm chiến trường chín năm liền ở Đông Dương, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ từ lúc xây dựng cứ điểm đến khi đầu hàng, đã bày tỏ sự kính trọng của mình đối với Quân đội nhân dân Việt Nam: "Tôi đã thấy họ khởi sự từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau đó, tháng này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các nhóm nhỏ thành trung đội, từ các trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoàn và lữ đoàn và cuối cùng là thành các sư đoàn đủ quân. Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể nói với các vị rằng họ đã trở thành những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế giới. Những người lính dẻo dai này có thể đi bộ 50 km trong đêm tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra trận. Theo quan điểm của tôi, họ đã trở thành những người lính bộ binh ngoại hạng và họ đã đánh bại được chúng ta".[9]
Ngày 24 tháng 9 năm 1954, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Quyết định số 400/TTg quy định "Quân đội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ nay gọi thống nhất là: Quân đội nhân dân VIỆT NAM". Danh xưng này được sử dụng cho đến ngày nay.

Kháng chiến chống Mỹ

Sau 1954, Hoa Kỳ bắt đầu nhảy vào Đông Dương thế chân Pháp. Kế thừa chính sách Da vàng hóa chiến tranh của Pháp, Hoa Kỳ hỗ trợ chế độ Việt Nam Cộng hòa từ chối thi hành hiệp định Geneve, nhằm chia cắt lâu dài Việt Nam và ngăn chặn đến cùng sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản. Với mục tiêu "đánh đổ sự thống trị thực dân mới của Mỹ", ngày 15 tháng 2 năm 1961, tại Chiến khu Đ, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, gọi tắt là Giải phóng quân, được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Trong thời kỳ đầu, hầu hết quân Giải phóng là người miền Nam, về sau được tăng viện thêm bộ đội hành quân từ miền Bắc vào.
Du kích Nam bộ của Quân đội nhân dân Việt Nam
Người Mỹ thường phân biệt Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (mà Mỹ gọi là "Việt Cộng", hoặc vi-xi) với Quân đội nhân dân Việt Nam (mà Mỹ gọi là "Quân đội Bắc Việt Nam") và cho rằng đây là hai quân đội khác nhau. Nhưng thực ra, Quân Giải phóng miền Nam là một bộ phận không tách rời của Quân đội nhân dân Việt Nam[10] Cũng như cuộc chiến chống Pháp trước đó, cuộc chiến chống Mỹ của người Việt Nam ngay từ ban đầu đã mang tính chất toàn quốc, với sự tham chiến của cả ba miền. Người miền Nam đã trực tiếp đánh Mỹ ở tuyến đầu, còn miền Bắc chi viện và bổ sung nhân lực cho chiến trường miền Nam. Trong hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam đóng ở chiến trường miền Nam và Campuchia, Lào luôn tồn tại tỷ lệ lớn bộ đội có lý lịch quê quán ở miền Nam. Trong hàng ngũ du kích, bộ đội địa phương (chia thành các "huyện đội, tỉnh đội"), tỷ lệ người miền Nam chiếm đại đa số. Trong suốt chiến tranh, nhân dân cả ba miền Việt Nam luôn đoàn kết, ủng hộ và là hậu phương to lớn tiếp sức cho Quân đội nhân dân Việt Nam chống lại Hoa Kỳ. Chính người dân miền Nam đã đóng góp hàng trăm nghìn chiến sĩ cho Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng như chịu những hy sinh lớn nhất với 29.220 trong số 44.253 Bà mẹ Việt Nam anh hùng (chiếm tỷ lệ 2/3) là người miền Nam,[11] huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam (cũng thuộc miền Nam) là huyện có nhiều liệt sĩ nhất Việt Nam với 18.773 người.[12] Công trình tiêu biểu về sự can trường của người dân miền Nam chống Mỹ chính là địa đạo Củ Chi, chỉ cách Sài Gòn 70 km; và nhân dân huyện Củ Chi cũng đã có 10 nghìn thanh niên (cả nam và nữ) hy sinh khi chiến đấu trong hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam từ năm 1955 đến ngày 28/4/1975.
Bộ đội vượt Trường Sơn vào miền Nam.
Chiếc võng Trường Sơn
Về mặt chính trị và lãnh đạo, Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam là một nhưng về pháp lý đây là hai đội quân độc lập. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có lực lượng xuất thân từ mọi miền Việt Nam, không có gì phân biệt về vùng miền, tổ chức, chỉ huy. Nguồn gốc của Quân Giải phóng là lực lượng bán vũ trang của Quân đội nhân dân Việt Nam đóng ở miền Nam Việt Nam (không bị buộc phải tập kết theo Hiệp định Geneva 1954), kết hợp cả bộ phận tăng viện từ miền Bắc cũng như chiêu mộ những người chống Mỹ tại miền Nam, tạo thành lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Cán bộ, chỉ huy và chiến sĩ có cả giọng nói Bắc và Nam. Quân đội nhân dân Việt Nam khẳng định họ là lực lượng đại diện cho toàn dân tộc Việt Nam chứ không chỉ riêng vùng miền nào.
Với mục tiêu "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào",[13] Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã liên tiếp làm phá sản 3 chiến lược chiến tranh của Mỹ, bất chấp việc Mỹ vào lúc cao điểm đã huy động hơn một nửa lực lượng quân đội cho chiến trường Việt Nam. Sau nhiều năm sa lầy và chịu những tổn thất lớn về người và của, Mỹ buộc phải rút quân khỏi Việt Nam bằng việc ký kết hiệp định Paris năm 1973.[14] Mất đi sự tham chiến của quân đội Mỹ và viện trợ quân sự dồi dào, chỉ 2 năm sau, hơn 1 triệu quân Việt Nam Cộng hòa cũng bị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh tan chỉ sau vỏn vẹn 55 ngày đêm của chiến dịch Mùa Xuân 1975. Đây là lần đầu tiên và cũng là duy nhất cho tới nay, quân đội Mỹ phải chấp nhận thất bại trong một cuộc chiến tranh.
Tướng Lindsey Kiang là một nhà sử học Mỹ có nhiều năm công tác tại Việt Nam. Ông nhận xét: Trong mắt nhiều lính Mỹ, bộ đội Việt Nam là những người có kỷ luật, chiến đấu thông minh và rất gan dạ. Ông nói[15]:
Đã gần 50 năm kể từ khi những người lính Mỹ đặt chân đến Việt Nam. Đối với nước Mỹ, đó là khởi đầu của một cuộc chiến dài, cay đắng và không nhận được nhiều sự ủng hộ. Đối với người dân Việt Nam, cuộc chiến còn tàn phá khủng khiếp hơn, nhưng cuối cùng họ đã thắng và giành được độc lập, thống nhất, điều mà họ khao khát đã quá lâu rồi.
Tất cả những điều tôi đọc, tôi nghe được từ họ đều toát lên một sự tôn trọng dành cho các cựu chiến binh Việt Nam, bất kể đó là Giải phóng quân của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam hay quân chính quy từ miền Bắc vào. Những nhận xét đó thường là: Bộ đội Việt Nam thông minh, tiết tháo, có kỹ năng và lòng quyết tâm. Họ cũng là những người dũng cảm tuyệt vời trước hỏa lực khủng khiếp của pháo binh và không quân Mỹ. Nhiều cựu chiến binh Mỹ thường nhắc lại với niềm cảm phục sâu sắc khả năng chống đỡ của đối thủ dưới làn đạn mà những trận rải thảm B-52 là ví dụ điển hình.
Ở miền Nam, lính Mỹ cũng đánh giá cao bộ đội của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Mặc dù có số lượng và hỏa lực áp đảo, có nguồn lực dồi dào và khả năng di chuyển cao nhưng lính Mỹ và đồng minh luôn vấp phải những khó khăn khi đối đầu với đối thủ, những người được quyết định đánh khi nào. Có thể thấy rằng, những người lính dũng cảm này đã tận dụng được yếu tố bất ngờ để giành chiến thắng trong những tình thế ngặt nghèo nhất
Miền Trung Việt Nam là nơi những đội quân tinh nhuệ nhất của quân đội Mỹ đối đầu với quân chính quy Bắc Việt Nam... một trung sĩ lính thủy đánh bộ nói với bạn tôi rằng: “Thưa ngài, lính Bắc Việt Nam đánh giỏi như chúng ta". Nên biết rằng, lính thủy đánh bộ Mỹ là những chiến binh ưu tú nhất, được chọn từ bộ binh sang. Đó quả là một lời khen ngợi đối thủ. “Họ rất dũng cảm, rèn luyện tốt và có tinh thần chiến đấu cao" - Anh ấy nói.
Do phải chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn hỏa lực mạnh, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tập trung phát triển các chiến thuật bộ binh phù hợp với số vũ khí hạn chế có trong tay và đúc kết kinh nghiệm thu được trong quá trình chiến đấu. Kết quả là Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã có lực lượng bộ binh hạng nhẹ được coi là một trong những lực lượng thiện chiến hàng đầu trên thế giới. Trong một cuộc khảo sát sau cuộc chiến với các sĩ quan Hoa Kỳ từng phục vụ trong chiến tranh Việt Nam, 44% đánh giá Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là "thiện chiến và gan góc". Một sĩ quan nhận xét "Có một khuynh hướng đánh giá thấp đối thủ. Trong thực tế, họ là địch thủ giỏi nhất mà chúng ta từng phải đối mặt trong lịch sử".[16]
Nhờ sự kiên trì xây dựng từng bước lực lượng cũng như viện hỗ trợ của các nước xã hội chủ nghĩa, năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam với 1,26 triệu quân chủ lực và địa phương, đứng thứ tư thế giới về số lượng (sau Liên Xô, Trung Quốc, Hoa Kỳ) và tương đương với các nước Đông Nam Á khác cộng lại, cùng với hàng triệu dân quân, du kích, tự vệ, so sánh với dân số Việt Nam lúc đó đứng hàng 15 trên thế giới. Quân đội cũng được tổ chức và xây dựng thành những quân đoàn chủ lực cơ động mạnh. Năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam có 4 quân đoàn chủ lực mang số thứ tự 1, 2, 3 và 4, gần 30 sư đoàn bộ binh, 40 trung đoàn pháo...

Chiến tranh biên giới (1975–1989)

Quân đội Việt Nam tiến vào giải phóng Phnom Penh năm 1979
 
Năm 1975, đất nước Việt Nam thống nhất. Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam hợp nhất thành Quân đội nhân dân Việt Nam. Do yêu cầu tình hình chính trị - quân sự trên bán đảo Đông Dương đặc biệt là cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ và cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc chống lại sự xâm lược của Trung Quốc năm 1979, lực lượng vũ trang Việt Nam lúc cao điểm (thập niên 1980) được phát triển lên đến 1,6 - 2 triệu quân thường trực, xếp hạng thứ 4 thế giới về quân số.
Quân đội được tổ chức thành nhiều quân đoàn chủ lực, 8 quân khu và 2 bộ tư lệnh quân tình nguyện tại Lào và Campuchia. Thời kỳ này, chỉ riêng lực lượng cơ động chiến lược đã có 5 quân đoàn, mỗi quân đoàn bình quân có 4 sư đoàn. Lực lượng mỗi quân khu có ít nhất 5 sư đoàn, riêng quân khu I có trong tay 11 sư đoàn (gồm 2 quân đoàn và nhiều sư đoàn độc lập)... Lực lượng quân tình nguyện ở Campuchia thường xuyên ở mức từ 12 đến 16 sư đoàn, tại Lào thường có 4 sư đoàn. Các đơn vị bộ đội tại Campuchia thường chỉ được biên chế 60-70% quân số. Tổng cộng trong thời kỳ này, quân đội Việt Nam có trong tay từ 70-80 sư đoàn bộ binh, nhiều sư đoàn quân binh chủng.
Tuy vậy, thời kỳ này, một số đơn vị quân đội đóng ở Campuchia có hiện tượng duy trì kỷ luật không tốt, có những đơn vị để xảy ra tình trạng chiến sĩ đào ngũ hoặc bị kỷ luật khá phổ biến.
Theo C.Thayer, tổng viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam trong giai đoạn từ 1974–1989 lên đến chừng 14,5 tỷ đô la.[17] Nhờ đó, trang bị của quân đội Việt Nam rất dồi dào và tương đối hiện đại. Một số tài liệu đánh giá đến năm 1985, riêng không quân đã có đến 1.000 máy bay, lực lượng xe tăng, xe thiết giáp có 3.000 chiếc.

Đây là giai đoạn Quân đội nhân dân Việt Nam được đánh giá là mạnh nhất trong khu vực, có lực lượng thiện chiến, quân số đông, kỹ năng tác chiến cao. Tuy chính sách của nhà nước Việt Nam không tiến hành đe dọa an ninh với các nước trong khu vực nhưng việc quân đội Việt Nam có quân số đông cùng với việc đóng quân ở Campuchia và Lào đã khiến các nước Đông Nam Á nhất là Thái Lan lo sợ một cuộc xâm lược lớn từ Việt Nam. Tuy nhiên việc duy trì lực lượng quân đội lớn tạo ra gánh nặng cho nền kinh tế Việt Nam. Giai đoạn này, quân đội Việt Nam tiếp tục tham chiến tiêu diệt tàn quân du kích Khmer Đỏ của Campuchia; đánh bại các cuộc tiến công lấn chiếm của Trung Quốc, đồng thời cũng có nhiều đợt xung đột với Thái Lan.