11 tháng 10, 2016

Khởi nghĩa Tây Sơn (1771-1789)




Đây là cuộc chiến tranh giai cấp quyết liệt nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Ngay từ đầu, nghĩa quân đã lấy khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo” để hiệu triệu và tập hợp quần chúng bị áp bức.
Lược đồ khởi nghĩa Tây Sơn (1771-1789)
Từ căn cứ Tây Sơn, nghĩa quân tiến xuống đồng bằng giải phóng các làng xã, các huyện lỵ. Bọn quan lại, cường hào, ác bá bị trừng trị. Của cải của chúng và lương thực của cải trong kho nhà nước phong kiến bị tịch thu chia cho dân nghèo. Mọi thứ thuế được tuyến bố bãi bỏ, nhữung người bị giam cầm trong nhà ngục được giải phóng. Nhân dân các địa phương nô nức tham gia khởi nghĩa, trong đó có cả các thương nhân ở các thành thị. Một số nho sĩ tiến bộ, một số quan lại, thổ hào lớp dưới đã sớm tham gia khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa phát triển nhanh chóng với khí thế hết sức mạnh mẽ.
Mùa thu năm 1773, nghĩa quân hạ thành Quy Nhơn rồi tiến ra chiếm Quảng Ngãi, tiến vào giải phóng Phú Yên, Bình Thuận. Sau khi điều đình tạm hoà hoãn với quân Trịnh ở mặt Bắc để tập trung diệt quân Nguyễn ở phía nam, liên tục các năm 1776, 1777, 1778, 1782, 1785, 5 lần quân Tây Sơn tiến công vào Gia Định. Cả 5 lần quân Nguyễn đều thất bại, lực lượng bị tan rã phải chạy trốn ra các hải đảo sang sống lưu vong bên đất Xiêm. Chính quyền họ Nguyễn cát cứ trên 200 năm bị đánh đổ. Phong trào Tây Sơn đã giải phóng hầu hết đất Đàng Trong.
Sau khi đánh tan 5 vạn quân Xiêm can thiệp xâm lược, từ tháng 6/1786, quân Tây Sơn chuyển hoạt động ra hướng Bắc. Trong vòng 10 ngày, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã đánh tan 3 vạn quân Trịnh (mới vượt sông Gianh vào chiếm Phú Xuân của họ Nguyễn), giải phóng toàn bộ đất Đàng Trong. Thừa thắng, Nguyễn Huệ quyết định tiến quân ra Bắc.
Tình hình Bắc Hà lúc này đang rối loạn. Chính quyền Lê - Trịnh mục nát cực độ. Binh lính thì đang tan rã, lưu manh hoá và nổi loạn. Quân Tây Sơn với hơn 1.000 chiến thuyền vượt biển đánh chiếm vùng Nam Định rồi tiến thẳng về giải phóng Thăng Long ngày 21/7/1786. Như thế chỉ chưa đầy một tháng, bằng cuộc tiến công vũ bão, quân Tây Sơn đã đập tan lực lượng quân sự của họ Trịnh, lật đổ chính quyền họ Trịnh tồn tại gần 300 năm, giải phóng Đàng Ngoài.
Cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn là sự quật khởi của các tầng lớp nhân dân bị áp bức đứng lên lật đổ các thế lực phong kiến thống trị suy tàn, phản dân, hại dân, đảm nhiệm sứ mệnh của dân tộc khôi phục quốc gia thống nhất, đánh bại các đạo quân xâm lược, bảo vệ nền độc lập của đất nước.
Nguồn: Từ điển bách khoa Tri thức quốc phòng toàn dân.-H.: Chính trị Quốc gia, 2002.

11 tháng 9, 2016

Sân bay Tân Sơn Nhất 100 năm trước của Sài Gòn

Tọa lạc tại ngôi làng nằm trên gò đất cao nhất của Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất hồi đầu thế kỷ 20 chỉ có một đường băng bằng đất, xung quanh trồng cỏ. 

Nằm cách trung tâm TP SG 8 km về phía Bắc, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (quận Tân Bình) là đầu mối giao thông quan trọng của cả miền Nam. Năm 2015, sân bay phục vụ hơn 26,5 triệu lượt khách, nằm trong nhóm 50 sân bay có lượng khách nhiều nhất thế giới.
san-bay-tan-son-nhat-100-nam-truoc-cua-sai-gon
Không ảnh sân bay Tân Sơn Nhất năm 1968, khu vực trên và dưới đường băng vốn là căn cứ quân sự nay thành khu dân cư và sân golf. Ảnh: Flickr
Theo cuốn Chế độ thực dân Pháp trên đất Nam KỳTân Sơn Nhứt (tên ngày xưa) trước năm 1919 là tên một ngôi làng nằm trên gò đất cao ráo phía Bắc Sài Gòn có từ thời Nguyễn Hữu Cảnh vào khai phá, lập nên đất Sài Gòn – Gia Định. Về địa giới hành chính, làng thuộc phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định và giáp các thôn Tân Sơn Nhì, Hạnh Thông Tây, Phú Nhuận... nay đều là tên các địa danh ở thành phố.
Đến năm 1920, khi thành lập phi đội Nam kỳ, chính quyền thực dân Pháp lấy phần lớn diện tích của làng Tân Sơn Nhứt để xây dựng sân bay. Tên của làng cũng thành tên sân bay từ đó. Phần đất còn lại của ngôi làng nhỏ hẹp không đủ tiêu chuẩn lập làng riêng, nên hợp với làng Chí Hòa thành làng Tân Sơn Hòa.
Ban đầu sân bay Tân Sơn Nhứt có một đường băng, nền đất, xung quanh trồng cỏ chỉ dùng cho quân sự. Năm 1921 tuyến bay thẳng Hà Nội – Sài Gòn đầu tiên được khai trương, một lượt bay mất 8 giờ 30 phút.
Năm 1930, chính quyền Sài Gòn muốn mở rộng sân bay phục vụ mục đích dân sự nhưng giá đất xung quanh sân bay đã cao vọt lên, không đủ ngân sách để bồi thường. Người ta nghĩ tới việc tìm ở Cát Lái thuộc Thủ Đức một khu đất vuông vức, mỗi chiều 1.400 m để xây dựng sân bay khác.
Công việc chưa kịp tiến hành thì gặp lúc khủng hoảng kinh tế thế giới, nếu xây dựng lại từ đầu tốn kém nên chương trình làm sân bay mới đành hủy bỏ. Nhà chức trách lúc bấy giờ quay lại việc đền bù để mở rộng sân bay Tân Sơn Nhứt.
san-bay-tan-son-nhat-100-nam-truoc-cua-sai-gon-1
Sân bay Tân Sơn Nhất năm 1938 trong lần đón Bảo Đại bị thương khi đi săn ở Đà Lạt về Sài Gòn chữa trị. Ảnh: Tư liệu
Cuối năm 1933, chuyến bay quốc tế đầu tiên của Hãng hàng không Pháp (Air France) bay tuyến Paris – Sài Gòn (hồi đó không bay đêm) mất đúng một tuần mới hạ cánh Tân Sơn Nhất. Sau đó, nhiều tuyến bay quốc tế khác được mở. Đến năm 1937, toàn quyền Đông Dương cho thành lập Sở hàng không dân dụng Đông Dương thay thế cho Sở Hàng không dân sự, để lo việc khai thác các chuyến bay.
Khi vào Việt Nam, Mỹ cho xây dựng sân bay rộng hơn, dài hơn 3.000 m bằng bêtông thay cho đường băng đất đỏ Pháp làm trước đó. Sân bay mới vừa phục vụ thương mại vừa là nơi không quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn sử dụng làm căn cứ.
Theo một chuyên gia ngành hàng không, trước năm 1975, Tân Sơn Nhất có số lượng chuyến bay mỗi ngày cao nhất tại Đông Nam Á. Quỹ đất để phát triển lâu dài sân bay lúc đó khoảng 3.600 ha, gấp ba lần quỹ đất sân bay Changi ở Singapore.
Phần đất này sau 1975 được cắt ra trong quá trình đô thị hóa, giao cho một số quận như Tân Bình, Gò Vấp quản lý. Theo đó, đoạn từ ngã tư Bảy Hiền dọc đường Trường Chinh về ngã tư An Sương hay từ Phổ Quang sang Nguyễn Kiệm, Nguyễn Oanh, Quang Trung... vốn nằm trong hàng rào sân bay Tân Sơn Nhất xưa.
Hiện sân bay chỉ còn khoảng 1.500 ha, trong đó 850 ha được sử dụng dân dụng, phần còn lại do Bộ Quốc phòng quản lý. Trong đất quân đội này có 160 ha để làm sân golf và dịch vụ. Cuối năm 2015, Bộ Quốc phòng cũng thông tin sẵn sàng nhường 20 ha đất ở khu vực sân bay cho Bộ Giao thông Vận tải để mở rộng Tân Sơn Nhất nhưng đến nay việc bàn giao chưa hoàn tất.
san-bay-tan-son-nhat-100-nam-truoc-cua-sai-gon-2
Không ảnh sân bay Tân Sơn Nhất hiện tại. Ảnh: Panoramio
Tân Sơn Nhất hiện quá tải do tốc độ phát triển nhanh trong khi việc mở rộng bị đình trệ. Thêm nữa, sân bay phải đối diện việc ngập nước, ảnh hưởng đến hàng chục chuyến bay cũng như đe dọa an toàn bay.
Chiều tối 26/8 mưa lớn, khu vực bãi đỗ máy bay gần kênh thoát nước A41 bị ngập hơn 30 cm khiến hàng chục chuyến bay bị ảnh hưởng, nhiều chuyến phải chuyển sang đáp ở các sân bay lân cận hoặc nước ngoài.
Sơn Hòa

Vợ chồng võ tướng nức danh sử Việt

Được xem là trường hợp đặc biệt nhất trong lịch sử Việt Nam là vợ chồng Trần Quang Diệu - Bùi Thị Xuân khi ông bà đều là tướng lĩnh trụ cột của một triều đại.

Trong các vị tướng tài thuộc hàng trụ cột của nhà Tây Sơn, vợ chồng võ tướng Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân là những người sớm tham gia cuộc khởi nghĩa. Họ cũng là trường hợp hiếm hoi trong lịch sử khi đều là danh tướng lập nhiều chiến công hiển hách và cùng phò tá vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) từ khi còn áo vải đến khi lên ngôi hoàng đế.
Trần Quang Diệu (1746-1802) người làng Kim Giao, xã Liên Chiểu (nay thuộc xã Phổ Thuận, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi). Cũng có tài liệu cho rằng ông tên Trần Văn Đạt, là người ở làng An Hải (trước thuộc huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam nay thuộc quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng).
Tham gia phong trào Tây Sơn từ những ngày đầu, theo sử liệu, Trần Quang Diệu là võ tướng quan trọng nhất của nhà Tây Sơn, được coi là một trong "Tây Sơn Thất Hổ Tướng" và cũng là một trong những tướng lãnh trung thành cuối cùng đã chiến đấu bảo vệ sự tồn tại của triều Tây Sơn.
vo-chong-vo-tuong-nuc-danh-su-viet
Tượng thờ thái phó Trần Quang Diệu trong Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt ở Bảo tàng Quang Trung, tỉnh Bình Định. Ảnh: Wikipedia
Bùi Thị Xuân (chưa rõ năm sinh-1802) người làng Phú Xuân (xã Bình Phú, huyện Tây Sơn, Bình Định) là cháu của thái sư Bùi Đắc Tuyên. Theo sử sách, bà rất xinh đẹp, giỏi võ nghệ. Ngoài tài kiếm thuật, bà còn giỏi bắn cung, cưỡi ngựa và luyện voi.
Cùng với ý chí kiên cường và lòng dũng cảm bà đã lập được nhiều chiến công, trở thành nữ tướng kiệt xuất của nghĩa quân Tây Sơn với tư cách là người chỉ huy đội tượng binh - binh chủng đặc biệt và dũng mãnh này khiến quân Trịnh, Nguyễn và Mãn Thanh khiếp sợ.
Ngay từ khi chưa theo quân Tây Sơn bà đã tự phong là "Tây Sơn nữ tướng". Đến khi gặp Nguyễn Huệ, ông cũng thừa nhận bà rất xứng với danh xưng đó và còn ban tặng thêm bốn chữ "Cân quắc anh hùng" - bậc nữ lưu có khí phách.
Tương truyền, Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân gặp gỡ rất tình cờ. Trên đường đến Tây Sơn tụ nghĩa ông Diệu đã đánh nhau với con hổ lớn, rất hung dữ. Nhân đi qua, bà Xuân rút kiếm xông vào cứu và đưa ông Diệu bị hổ vồ trọng thương về nhà chữa trị.
Sau hai người thành gia thất rồi cùng về tòng quân dưới ngọn cờ Tây Sơn, nhanh chóng trở thành những tướng lĩnh trụ cột, góp công lớn trong cuộc chiến chống quân Xiêm, Mãn Thanh và những trận chiến quyết liệt với quân của Nguyễn Ánh trong suốt 10 năm trời.
Trước khi đưa quân đánh chiếm thành Quy Nhơn mở đầu cho khởi nghĩa Tây Sơn, Trần Quang Diệu được phong làm Đô đốc, vợ ông được phong Đại Tổng lý, cả hai đều là quan võ. Riêng Bùi Thị Xuân còn có nhiệm vụ rèn luyện voi chiến và điều hành đội nữ binh trên 2.000 người. Sau khi chiếm được thành Quy Nhơn, Trần Quang Diệu được phong Thiếu phó và Bùi Thị Xuân là Đô đốc.
Suốt những năm tháng theo nhà Tây Sơn, Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân có lúc phải cách xa, có lúc cùng nhận một trọng trách như trận Rạch Gầm - Xoài Mút cả hai đều thống lĩnh, điều khiển lực lượng bộ binh. Trong trận này, Bùi nữ tướng đã chém bay đầu tướng Xiêm là Lục Côn.
Trong trận Ngọc Hồi - Đống Đa chống quân nhà Thanh xâm lược (Tết Kỷ Dậu 1789), vợ chồng Thiếu phó là hai trong những vị tướng đã lập công xuất sắc. Sau chiến thắng này, Quang Diệu được Nguyễn Huệ cử làm Đốc Trấn Nghệ An, ông nhanh chóng ổn định xã hội tạo điều kiện cho nhân dân yên tâm làm ăn sinh sống, ngoài ra ông còn chứng tỏ được biệt tài của mình khi tổ chức xây dựng thành Phượng Hoàng Trung Đô.
vo-chong-vo-tuong-nuc-danh-su-viet-1
Tượng Đô đốc Bùi Thị Xuân trong Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt tại Bảo tàng Quang Trung, tỉnh Bình Định. Ảnh: Wikipedia
Theo sách Đại Nam Liệt truyện chính biên của Quốc sử quán triều Nguyễn, năm 1792, Quang Trung (Nguyễn Huệ) đột ngột qua đời. Triều đại Tây Sơn bắt đầu suy yếu do vua Cảnh Thịnh (Quang Toản) còn nhỏ, bị họ ngoại chuyên quyền, dẫn đầu là cậu họ Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Các đại thần kết bè phái, nội bộ lục đục, triều chính suy vi khiến lòng dân vốn đã sống quá nhiều năm trong cảnh máu lửa càng thêm oán ghét cảnh phân tranh, loạn lạc...
Năm 1799, Nguyễn Ánh xua quân chiếm lại Quy Nhơn. Bùi Thị Xuân cùng chồng vừa tham gia củng cố triều chính vừa chỉ huy quân sĩ giữ lũy Trấn Ninh, chống lại quân nhà Nguyễn. Trong cuộc đối đầu quyết liệt với Nguyễn Ánh (vua Gia Long), vợ chồng tướng Trần Quang Diệu đã nhiều phen làm quân của Nguyễn Ánh thất điên bát đảo, nhất là trận Quy Nhơn năm 1801.
Cũng trong trận chiến này, sau khi chiếm được Quy Nhơn, Trần Quang Diệu đối xử rất tử tế với các tướng và binh sĩ của nhà Nguyễn chỉ để giữ lời hứa với tướng địch là Võ Tánh trong giờ phút cuối cùng. Với việc tha chết cho binh sĩ của đối phương, Trần Quang Diệu được các nhà sử học đánh giá là người tín nghĩa, nhân đức.
Tuy nhiên, lúc này triều Tây Sơn đã không còn vững như trước. Với sự tấn công mạnh mẽ từ nhiều phía của quân Nguyễn Ánh, các thành luỹ của Tây Sơn nhanh chóng bị mất. Năm 1802, trong một trận ác chiến với quân Nguyễn Ánh ở Nghệ An, vợ chồng tướng quân Trần Quang Diệu cùng con gái bị bắt khi đang dọc đường rút quân ra Bắc.
Khi vua Gia Long chiêu hàng Trần Quang Diệu, ông đáp: "Trung thần không thờ hai vua, nay tôi bị bắt thì chỉ có tội chết. Nếu nhà vua rộng lượng tha cho, như trước đây tôi đã tha cho các tướng ở Quy Nhơn, thì tôi sẽ về ở nơi thôn dã, cày ruộng, nộp thuế như người thường dân, chứ nhận chức quan của triều đại mới thì không phải là trượng phu". Sau đó, vợ chồng tướng Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và cô con gái 15 tuổi đều bị xử tội chết.
Theo tư liệu của De La Bissachère - một giáo sĩ phương Tây, người chứng kiến cuộc hành hình, đã miêu tả cái chết lẫm liệt của bà như sau: "Bùi Thị Xuân không hề biến đổi sắc mặt, tiến trước đầu voi một cách bình tĩnh. Mấy tên lính thét la om sòm, bảo bà quỳ xuống nhưng bà vẫn thản nhiên tiến bước. Voi lùi lại, bọn lính phải lấy giáo nhọn thọc vào đùi con vật mới dùng vòi quặp bà tung lên trời...".
Giáo sư sử học Nguyễn Khắc Thuần thì đánh giá: "Trong khởi nghĩa Tây Sơn nói riêng và trong lịch sử quân sự Việt Nam nói chung, Bùi Thị Xuân là một hiện tượng rất đặc biệt. Cùng với chồng và hàng vạn các nghĩa sĩ Tây Sơn, bà đã đi suốt cả một cuộc trường chinh ba chục năm trời, anh dũng chống cả thù trong lẫn giặc ngoài, một lòng một dạ vì sự nghiệp cứu dân cứu nước. Từ một phụ nữ bình thường, Bùi Thị Xuân đã trở thành một danh tướng được đời đời kính trọng...".
Trung Sơn

2 tháng 9, 2016

Vua Khải Định làm gì trong chuyến ‘Ngự giá Bắc tuần'

Đi bằng tàu hỏa và ôtô, nhiều nơi đi bộ, vua Khải Định đã có chuyến hành trình dọc các tỉnh Bắc Trung Bộ tới Hà Nội, lên tới biên giới ở Lạng Sơn, rồi về đến Hải Phòng, trước khi quay về.

Theo sử triều Nguyễn, các vua đầu nhà Nguyễn đều có chuyến “ngự giá Bắc tuần” trong thời gian trị vì. Vua Gia Long vào năm 1803 và 1804, vua Minh Mạng năm 1821, vua Thiệu Trị năm 1842. Đa phần các vua đều ra thành Thăng Long nhận sắc phong của vua nhà Thanh. Từ triều Tự Đức, khi Pháp kéo quân xâm lược và bắt đầu áp đặt chế độ bảo hộ, việc nhận sắc phong từ nhà Thanh không còn nữa.
Là vua thứ 12 nhà Nguyễn, lên ngôi từ năm 1916 khi 31 tuổi, vua Khải Định rất mong muốn được ra thăm miền Bắc. Trước khi lên làm vua, ông từng có những chuyến thăm thú tới Quảng Trị, Đà Nẵng, Sài Gòn, Chợ Lớn, Biên Hòa… 
Chuyến thăm miền Bắc của vua Khải Định được tác giả R.Orband ghi lại trong phóng sự “Voyage de S.M. Khai Dinh dans le Nord Annam et au Tonkin” (Chuyến du hành của Hoàng đế Khải Định ra Bắc kỳ và Trung kỳ), đăng trong Tập san Đô thành Hiếu cổ (Buletin des Amis due Vieux Hue - BAVH, số 3 năm 1918).
Trái với các vua khác đi cùng phái đoàn tới cả nghìn quan văn võ và vài nghìn lính hộ vệ, phái đoàn của vua Khải Định chỉ có 20 người, gồm: Viện trưởng Viện Cơ mật kiêm Thượng thư Bộ Hình Tôn Thất Hân, Thượng thư Bộ Công kiêm Bộ Binh Đoàn Đình Duyệt, Thống chế Lê Văn Bá, Tham tri Bộ Lễ Lê Bửu Trạch, Chưởng vệ Nguyễn Hữu Tiễn, Tham tá Nội các Phạm Hoan, Ngự tiền văn phòng kiêm thông ngôn Hường Đề, Lang trung Ty Cẩn tín Ưng Bàng, hai quan ngự y, tám thị vệ, hai quan Nội các và một nhân viên Viện Cơ mật.
vua-khai-dinh-lam-gi-trong-chuyen-ngu-gia-bac-tuan
Vua Khải định đang làm việc. Ảnh tư liệu.
Trong khi vắng mặt, vua ra dụ ngày 12/4/1918 giao cho Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài và Thượng thư Bộ Học Hồ Đắc Trung điều hành việc triều chính. Trung quân Đô thống Hường Thỏa và Thống chế Võ Văn Khiêm trông coi về an ninh kinh thành và đại nội.
Đoàn tùy tùng của vua Khải Định xuất hành lúc 12h30 ngày 19/4/1918 tại ga Huế, với lễ tiễn đưa của các quan chức Pháp, quan Nam triều và tỉnh Thừa Thiên, học sinh các trường và rất đông dân chúng. Tàu dừng bánh tại ga Quảng Trị ít phút để Công sứ Pháp (đại diện chính quyền bảo hộ) và Tuần vũ Quảng Trị (đại diện chính quyền Nam triều) lên tàu chào vua và tiễn phái đoàn ra Đông Hà.
Thời đó, đoạn đường sắt Đông Hà - Vinh chưa hoàn thành, nên phái đoàn lên 8 ôtô để theo đường bộ ra Đồng Hới. Khi qua sông, người ta kết đò lót ván làm cầu phao cho xe qua. Ngày 20/4, đoàn ra đến Hà Tĩnh, nghỉ lại 2 ngày rồi 22/4 ra đến Vinh, và 23/4 đến Thanh Hóa. Nơi nào vua cũng được chào đón bằng 21 phát đại bác, có quân lính dàn chào, có các quan chức Pháp Việt trong tỉnh cùng các học sinh nghênh đón.
Tại các tỉnh, vua thường về nghỉ tại tòa Công sứ Pháp, trừ ở Thanh Hóa có Hành cung nằm trong Thành Thanh Hóa có đầy đủ tiện nghi thì vua và phái đoàn nghỉ tại Hành cung. Chương trình làm việc tại các tỉnh gồm đi thăm bệnh viện, trại lính, trường học. Ở các tỉnh Hà Tĩnh và Thanh Hóa, vua còn thăm các đồn điền, xưởng kỹ nghệ.
Từ Vinh ra Thanh Hóa, phái đoàn đi tàu hỏa. Ở Thanh Hóa, quê hương phát tích của nhà Nguyễn, có 3.000 dân ra ga đón chào. Ngày 24/4, vua dành trọn một ngày đi viếng lăng Trường Nguyên (lăng Triệu tổ của nhà Nguyễn là tướng Nguyễn Kim) tại núi Triệu Tường, Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn (nay là Hà Trung) và làm lễ tế tại Nguyên Miếu (miếu thờ các tổ nhà Nguyễn là Nguyễn Kim, Nguyễn Hoàng).
Sau đó viếng đền Phố Cát thờ công chúa Liễu Hạnh. Sang đến ngày 25, vua mới nhận lễ lạy mừng của các quan tỉnh Thanh Hóa ở Hành cung, rồi thăm trường học, bệnh viện, trại lính, cơ sở từ thiện, lò gốm Nguyễn Văn Được, nhà máy Diêm Hàm Rồng.
13h chiều 26/4, vua lêu tàu tiếp tục hành trình. Khi đến ga Đồng Giao là ranh giới giữa Trung kỳ và Bắc kỳ, tỉnh Ninh Bình đã dựng cổng chào rất lớn để đón mừng, đại diện Thống sứ Bắc kỳ là Thanh tra Conrandy vào đón.
Ra đến Hà Nội, vua được Toàn quyền Albert Sarraut đón tận ga. Sau khi nghe diễn văn chào mừng của Đốc lý (thị trưởng) Hà Nội Jabouille, vua về dinh Toàn quyền (nay là Phủ chủ tịch). Tại đây, Toàn quyền Sarraut đọc diễn văn chào mừng và vua đọc đáp từ bằng tiếng Việt. Sau lễ tiếp tân, vua về phòng riêng trong dinh Toàn quyền.
Sáng 27/4, vua nhận lễ lạy mừng của các quan người Việt ở Hà Nội. Sau đó, vua thay thường phục để đến đặt vòng hoa tại tượng đài Toàn quyền Paul Bert (tại vị trí vườn hoa Lý Thái Tổ hiện nay). Sau đó, vua vào bệnh viện trực tiếp xem một ca mổ, rồi đi thăm trường y, trường trung học bảo hộ (trường Bưởi, nay là trung học Chu Văn An), nhà máy thuốc lá.
Ngày 28/4, vua đi thăm Viện bảo tàng Thương mãi, dự lễ khánh thành Đại học Đông Dương (tại vị trí Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia ở phố Lê Thánh Tông hiện nay), thăm Văn Miếu và dự hội chợ từ thiện do Hội chữ thập đỏ Pháp ở Đông Dương tổ chức.
Ngày hôm sau, vua cùng toàn quyền dự lễ duyệt binh. Trong bức ảnh chụp buổi lễ này, vua Khải Định mặc bộ võ phục do vua tự cải tiến, đội nón vàng, đeo ngù vàng ở vai, mang kiếm ở thắt lưng và đi bốt da cao tới gần đầu gối. Sau đó, vua đi thăm tỉnh Sơn Tây, thăm đồn điền cà phê dưới chân núi Ba Vì.
vua-khai-dinh-lam-gi-trong-chuyen-ngu-gia-bac-tuan-1
Bộ võ phục do vua Khải Định cải biên. Ảnh tư liệu.
Ngày 30/4, vua cùng toàn quyền đi thăm tòa án tối cao của Pháp tại Đông Dương, trường trung học Paul Bert (nay là trường trung học Trưng Vương) và Bệnh viện Mắt, tòa báo và nhà in Viễn Đông, cơ sở in ấn to nhất Đông Dương lúc đó. Vua ngạc nhiên khi chứng kiến nhà in đang in số báo “Tập san đô thành hiếu cổ”, chuyên đề nghệ thuật Huế, với rất nhiều hình màu đẹp mắt. Đến chiều, vua cùng Toàn quyền Sarraut và Thống sứ Bắc kỳ Bouvier St-Chaffray lên tàu hỏa đi thăm Lạng Sơn.
Qua cầu Long Biên, đến ga Gia Lâm, đoàn lại xuống tàu đi ôtô. Tại tỉnh Bắc Ninh, do quan lại và dân chúng chào đón nồng nhiệt, vua và phái đoàn xuống đi bộ để đáp lễ. Chiều hôm đó, đoàn viếng nghĩa trang của các binh lính và sĩ quan Pháp chết trong trận đánh với quân Trung Quốc năm 1884 trong trận Bắc Lệ.
Sáng 1/5, đoàn đi thăm pháo đài Brière de I’Isle, đồn Đồng Đăng, hang Kỳ Lừa, các động Nhị Thanh, Tam Thanh. Bức ảnh ghi lại sự kiện này cho thấy vua Khải Định mặc áo đen, đeo kim khánh trước ngực, quần trắng, đội khăn xếp bên trong và nón bên ngoài, mang giày da cổ thấp và đi bộ trên một con đường giữa hai khoảnh ruộng. Đoàn về Hà Nội chiều hôm đó bằng tàu hỏa.
Ngày 2/5, vua cùng Thống sứ Bắc kỳ lên tàu đi thăm Hải Phòng, trên đường có dừng chân nhận sự chào mừng của người dân tại ga Hải Dương. Đốc lý Hải Phòng Maspéro cùng các quan chức thành phố đưa vua về tòa Đốc lý. Trưa hôm đó, vua đi thăm biển Đồ Sơn và ăn trưa ở biệt thự St. Mathurin. Buổi chiều, đoàn thăm nhà máy cơ khí Robert, Guerin et Théard. Vua thích thú quan sát các máy móc hoạt động. Đoàn cũng thăm bến cảng, nhà máy thủy tinh, nhà máy xi măng.
vua-khai-dinh-lam-gi-trong-chuyen-ngu-gia-bac-tuan-2
Cảnh đón tiếp vua Khải Định ở ga Nam Định.
Tối hôm đó, Toàn quyền Sarraut mới đến. Đêm, cả đoàn đi xà-lúp sang tỉnh Quảng Yên và sáng 3/5 thăm vịnh Hạ Long. Tối khuya, xà-lúp về neo tại bến Cẩm Phả và sáng hôm sau lên thăm mỏ than. Chiều ngày 4/5, đoàn về Hải Phòng và lên tàu về Hà Nội ngay đêm đó.
Chiều 5/5, Toàn quyền Sarraut đưa vua đi thăm thư viện (nay là Thư viện quốc gia) và Viện bảo tàng của trường Viễn Đông Bác cổ (nay là Bảo tàng lịch sử Việt Nam) và Phòng Thương mãi.
Ngày 6/5, vua rời Hà Nội, Toàn quyền Đông Dương, Thống sứ Bắc kỳ, Khâm sứ Trung kỳ (mới từ Huế ra) đều lên tàu cùng vua. Tàu dừng ở ga Phủ Lý để nhận sự nghênh đón của địa phương. Tại đây, nhân danh chính phủ Pháp, Toàn quyền tặng vua Bắc đẩu bội tinh. Ở Nam Định, vua đi thăm bệnh viện, nhà máy sợi và nhà máy dệt.
Sáng 7/5, vua và Khâm sứ lên tàu từ Nam Định về Huế, Toàn quyền và Thống sứ Bắc kỳ quay về Hà Nội. Đoàn đi thẳng về đến Quảng Trị, có thái tử Vĩnh Thụy ra đón. Tại đây, vua đi thăm rất nhanh đồn điền của Thượng thư Nguyễn Hữu Bài. Chiều 8/5, đoàn về đến ga Huế trong sự tiếp đón long trọng của chính quyền Nam triều và dân chúng, với bảy phát súng lệnh nổ trước kỳ đài.
Chuyến “Ngự giá Bắc tuần” của Vua Khải Định kết thúc tốt đẹp, đúng như mong muốn nhà vua. 
Lê Tiên Long

31 tháng 8, 2016

Tại sao Ngô Đình Diệm không làm thủ tướng năm 1945?


1. VUA BẢO ĐẠI TÌM KIẾM NGƯỜI XƯA

Sau khi đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945, Nhật Bản quyết định trao trả độc lập lại cho Việt Nam. Vua Bảo Đại tuyên bố độc lập ngày 11-3-1945 và tìm chọn người lập chính phủ. Nhà vua nhờ người Nhật tìm quan Lại bộ thượng thư cũ (năm 1933) là Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn, nhưng đợi mãi không gặp, vua giao cho học giả Trần Trọng Kim làm thủ tướng.

Ông Trần Trọng Kim
Ông Trần Trọng Kim
Vua Bảo Đại xác nhận điều nầy trong đạo dụ số 5 ngày 17-4-1945, chuẩn y nội các Trần Trọng Kim. Nhà vua tuyên bố: “Trẫm đã định giao quyền tổ-chức Nội-các mới cho nguyên Lại bộ thượng-thư Ngô-đình-Diệm và đã nhờ Quí-quan tối-cao Cố-vấn [Nhật tên Masayuki Yokoyama] và sắc phong Ngự-tiền văn-phòng gửi thư và đánh điện tuyên triệu. Nhưng ngày hôm qua Quí-quan tối cao Cố-vấn phúc rằng Ngô khanh đau không về chầu được.” (Nguyễn Duy Phương, Lịch-sử và nội-các đầu tiên Việt-Nam, Hà-Nội: Việt-Đông xuất-bản cục, 1945, tr. 4.)

Kể lại chuyện vua Bảo Đại gợi ý việc lập chính phủ, Trần Trọng Kim thuật như sau:

“Tôi tâu rằng:“Việc lập chính phủ, Ngài nên dùng người đã dự định từ trước, như Ngô-Đình-Diệm chẳng hạn, để có tổ chức sẵn sàng. Tôi nay phần thì già yếu bệnh tật, phần thì không có đảng phái và không hoạt động về chính trị, tôi xin Ngài cho tôi về nghỉ.

Ngài nói: “Trẫm có điện gọi cả Ngô-Đình-Diệm về, sao không thấy về.

Tôi tâu: “Khi tôi qua Sàigòn, có gặp Ngô-Đình-Diệm và ông ấy bảo không thấy người Nhật nói gì cả. Vậy hoặc có sự gì sai lạc chăng. Ngài cho điện lần nữa gọi ông ấy về. Còn tôi thì xin Ngài cho tôi ra Bắc.

Ngài nói:“Vậy ông ở đây nghỉ ít lâu, xem thế nào rồi hãy ra Bắc.

Lúc ấy tôi mệt nhọc lắm, và có mấy người như bọn ông Hoàng-Xuân-Hãn đều bảo tôi thử trở lại. Tôi chờ đến gần mười ngày. Cách đó ba bốn hôm tôi lại đi hỏi ông tối cao cố vấn Nhật xem có tin tức gì về ông Diệm chưa. Trước thì cố vấn Nhật nói chưa biết ông Diệm ở đâu, sau nói ông Diệm đau chưa về được. Đó là lời tối cao cố vấn, chứ tự ông Diệm không có điện riêng xác định lại.

Vua Bảo Đại thấy tình thế kéo dài mãi cũng sốt ruột, triệu tôi vào bảo tôi chịu khó lập chính phủ mới.” (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn: Nxb. Vĩnh Sơn, 1969, tt. 49-50.)

Như thế, theo Trần Trọng Kim, vua Bảo Đại thực tâm có ý muốn tìm Ngô Đình Diệm về Huế lập chính phủ, nhưng sau lần thứ hai nhờ người Nhật, thì được tin ông Diệm đau không về Huế được. Vua Bảo Đại phải mời Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Trần Trọng Kim kiếm cách từ chối, thì vua Bảo Đại nói:

“Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải là độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tức họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh thì rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.

Tôi thấy vua Bảo Đại thông minh và am hiểu tình thế liền tâu rằng: “Nếu vì quyền lợi riêng, tôi không dám nhận chức gì cả, song Ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức….” (Trần Trọng Kim, sđd. tr. 51.)

Ông Kim nói đã gặp ông Diệm ở Sài Gòn, vì khi ông Kim từ Bangkok về đến Sài Gòn ngày 30-3-1945 và tạm trú ba ngày tại nhà một người Nhật tên là Mitsuhiro Matsushita, thì ông Kim gặp ông Diệm tại đây. Đây là lần đầu tiên hai người gặp nhau. (Masaya Shiraishi, “The Background to the Formation of the Tran Trong Kim Cabinet in April 1945:Japanese Plans for Governing Vietnam”, đăng trong sách Indochina In The 1940s And 1950s, Takashi Shiraishi và Motoo Furuta chủ biên, New York: Cornell, 1992, tr. 138.)

Vua Bảo Đại. Ảnh Wikipedia
Vua Bảo Đại. Ảnh Wikipedia
2. CHỦ TRƯƠNG CỦA NGƯỜI NHẬT

Về phía người Nhật, người Nhật tính toán thật kỹ ngay từ khi mới đến Đông Dương năm 1940. Người Nhật chủ trương chẳng những duy trì sự cai trị của người Pháp mà còn khuyến khích và tăng cường sự hợp tác giữa hai bên Pháp-Nhật. Bộ tổng tham mưu quân đội Nhật và đại tướng Hideki Tojo, thủ tướng Nhật từ 17-10-1941 đến 22-7-1944, cho rằng loại bỏ người Pháp ở Đông Dương đồng nghĩa với việc người Nhật phải tăng quân tại Đông Dương và nhứt là phải lo tổ chức hành chánh và bảo vệ Đông Dương cùng những hệ lụy phức tạp khác. Lúc đó, Đông Dương là thuộc địa của thực dân da trắng duy nhứt ở Đông Nam Á dưới sự kiểm soát của người Nhật. (Masaya Shiraishi, bđd., sđd. tt. 114-115.)

Tuy nhiên, người Nhật vẫn chuẩn bị những lá bài dự bị để ứng phó với tình thế khi cần. Ví dụ trường hợp Trần Trọng Kim và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để với Ngô Đình Diệm.

Hầu Cường Để
Hầu Cường Để
Trần Trọng Kim (1882-1953), sinh tại Hà Tĩnh, học trường Vinh, rồi trường thông sự Ninh Bình. Năm 1905, ông qua Pháp học trường Thương mại La Salle tại Lyon, sau chuyển qua học trường Thuộc Địa ở Paris, rồi trường Sư phạm Melun. Tốt nghiệp năm 1911, ông về nước dạy học rồi làm thanh tra tiểu học và cuối cùng hưu trí năm 1942. Ông viết nhiều sách giá trị về văn chương, triết học, nhất là bộ Việt Nam sử lược, xuất bản lần đầu năm 1920 tại Hà Nội. Do những trao đổi về văn hóa với người Nhật, Trần Trọng Kim bị người Pháp nghi ngờ và theo dõi. Năm 1943, người Nhật đưa Trần Trọng Kim vào Sài Gòn cùng Dương Bá Trạc, rồi đưa hai ông cùng Trần Văn Ân và Nguyễn Văn Sâm qua Singapore, đầu năm 1944. Tại đây ông Trạc từ trần vào cuối năm 1944. Đầu năm 1945, ông Kim đi Bangkok. Sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945, đại uý Michio Kuga, thuộc văn phòng liên lạc quân đội Nhật ở Sài Gòn qua Bangkok đưa ông Kim về Việt Nam ngày 30-3. Trần Trọng Kim đến Huế ngày 5-4-1945 và được mời triều yết vua Bảo Đại ngày 7-4-1945.

Ngô Đình Diệm
Ngô Đình Diệm
Trường hợp Kỳ Ngoại Hầu Cường Để và Ngô Đình Diệm cũng do người Nhật sắp đặt. Cường Để qua Nhật từ 1906, thời phong trào Đông du. Pháp biết được hoạt động Đông du, liền liên lạc với Nhật và yêu cầu Nhật trục xuất nhóm Đông du để đổi lại nhiều quyền lợi kinh tế ở Đông Dương. Phan Bội Châu và Cường Để phải rời Nhật Bản năm 1909. Riêng Cường Để, sau một thời gian lưu lạc ở Trung Hoa và các nước Âu Châu, trở lại Nhật năm 1915 theo lời mời của chính khách Nhật là Inukai Ki (Khuyển Dưỡng Nghị). Từ đó, Cường Để âm thầm hoạt động giữa Nhật Bản và Trung Hoa. Năm 1936, Cường Để thành lập Việt Nam Độc Lập Vận Động Đồng Minh Hội. Tổ chức nầy đổi tên thành Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội năm 1938, gọi tắt là Đồng Minh Hội, trụ sở chính tại Tokyo, với sự giúp đỡ của đại tá tình báo Nhật là Takaji Wachi. Đồng Minh Hội ra mắt ngày 12-3-1939.

Kỳ Ngoại Hầu Cường Để liên lạc ở trong nước với giáo phái Cao Đài ở Tây Ninh, giao cho Trần Quang Vinh và Trần Văn Ân phụ trách liên lạc miền Nam, Ngô Đình Diệm và Phan Thúc Ngô phụ trách liên lạc miền Trung, Dương Bá Trạc, Vũ Đình Dy và Nguyễn Xuân Chữ phụ trách liên lạc miền Bắc. (Trần Mỹ Vân, A Vietnamese Royal Exile in Japan, Prince Cường Để (1882-1951), New York: Routledge, 2005, tt. 142-143.) Trong số những người theo Cường Để trên đây, năm 1943, Vũ Đình Dy ở Hà Nội và Phan Thúc Ngô ở Huế, qua Nhật gặp Cường Để. (Masaya Shiraishi, bđd.sđd. tt. 116-118.)

Ngô Đình Diệm (1901-1963) xuất thân từ Trường Hậu bổ Huế năm 1921, làm quan lên dần tới thượng thư bộ Lại năm 1933, nhưng từ chức ba tháng sau đó. Ông tham gia Quang Phục Hội do Cường Để lãnh đạo năm 1939. Ông Diệm bị Pháp nghi ngờ nên vào tháng 7-1944, viên thư ký Tòa lãnh sự Nhật ở Huế là Masao Ishida nhờ hiến binh Nhật (Kempeitai) giúp bảo vệ ông Diệm. Người Nhật đưa ông Diệm vào Đà Nẵng, rồi đưa ông Diệm đáp máy bay quân sự Nhật vào Sài Gòn. Từ đó, ông Diệm được đạo quân Nhật đồn trú ở Sài Gòn trực tiếp bảo vệ. (Masaya Shiraishi, bđd, sđd, tr. 118.)

Được tin Ngô Đình Diệm bị Pháp theo dõi và đe dọa, từ Vĩnh Long, giám mục Ngô Đình Thục, gởi cho đô đốc Jean Decoux, toàn quyền Pháp ở Đông Dương, một thư viết tay bằng tiếng Pháp đề ngày 21-8-1944, với lời lẽ rất thống thiết bảo lãnh em mình. (Nguyên văn thư nầy được photocopy và đăng trong sách Nguyên Vũ, Paris Xuân 96, Houston, Nxb. Văn Hóa, tr. 172 và đăng lại trên Internet.

3. NHẬT QUYẾT ĐỊNH ĐẢO CHÁNH

Trong khi đó, người Nhật gởi Vũ Đình Dy từ Nhật về lại Sài Gòn với mục đích là thay mặt Cường Để liên lạc với các thành phần thân Nhật và kiếm cách đưa họ qua Nhật. Vũ Đình Dy cùng Ngô Đình Diệm hội họp với nhóm hoạt động chính trị thân Nhật như Nguyễn Xuân Chữ, Lê Toàn… Cuộc họp đưa đến thỏa thuận vào tháng 10-1944 là cùng nhau hợp tác dưới sự lãnh đạo của Ngô Đình Diệm, đồng thời đề nghị người Nhật thành lập một chính quyền mới do ông Diệm lãnh đạo khi điều kiện thuận lợi. Cũng vào tháng 10-1944, thiếu tướng Saburõ Kawamura, tham mưu trưởng đạo quân Nhật đồn trú tại Sài Gòn đi Nhật, đưa Lê Toàn cùng một đồng đội của Toàn đi theo. (Masaya Shiraishi, bđd, sđd, tr. 118.)

Những biến chuyển trên đây cho thấy là sắp đến lúc quân đội Nhật tổ chức lật đổ chính quyền Pháp ở Đông Dương. Thật vậy, trong cuộc họp ngày 14-9-1944, Hội đồng tối cao Kế hoạch Chiến tranh của Nhật Bản bàn về “Những biện pháp đối với Đông Dương thuộc Pháp nhằm đối phó với sự thay đổi tình hình”, vì lúc đó tại Âu Châu, Đức bắt đầu thất bại, chính phủ Vichy thân Đức ở Pháp do thống chế Pétain cầm đầu sụp đổ vào tháng 8-1944, và thiếu tướng Charles de Gaulle về Paris lập chính phủ lâm thời.

Trong cuộc họp nầy, Hội đồng tối cao Kế hoạch Chiến tranh dự tính rằng biện pháp quân sự ở Đông Dương chỉ được sử dụng trong hoàn cảnh không thể tránh được. Điều nầy phản ảnh chủ trương của giới quân sự cao cấp, không muốn sử dụng quân đội để lật đổ chính quyền Pháp tại Đông Dương, bởi vì lúc đó Nhật đang tập trung lực lượng cho chiến dịch Philippines. Tuy nhiên, giới quân sự Nhật ở Đông Dương lại diễn dịch quyết định ngày14-9 rằng đã đến lúc cần phải lật đổ Pháp bằng quân sự. Khi từ Tokyo về Sài Gòn, thiếu tướng Kawamura ra lệnh soạn thảo dự án cai trị Đông Dương sau cuộc đảo chánh quân sự.

Theo Hidezumi Hayashi, lúc đó là trung tá hiến binh Nhật đồng thời là phụ tá chính trị cho thiếu tướng Kawamura, thì bản dự thảo nầy phỏng theo cách cai trị của quân đội Nhật ở các vùng khác do Nhật chiếm đóng tại Đông Nam Á. Hayashi không đồng ý kế hoạch nầy vì ba lý do:

Quân đội Nhật ở Đông Dương cần tập trung ở Cánh đồng Chum (Lào), vì vậy không nên dính sâu vào những vấn đề chính trị.
Đông Dương không đủ tài nguyên cần thiết cho cuộc cai trị của quân đội.
Cần thu phục nhân tâm dân bản xứ Đông Dương nhằm đừng đẩy họ về phía Đồng minh Tây phương. Để lôi kéo họ thì cần thỏa mãn nguyện vọng sâu xa của họ là giải thoát khỏi ách thống trị của Pháp, nghĩa là phải trả độc lập cho họ. Tuy nhiên, không thể tức khắc chuyển giao nền hành chánh trung ương (toàn quyền Pháp ở Đông Dương) cho ba nước Việt, Miên, Lào, nên quân đội Nhật phải tạm thời đảm trách một thời gian cho đến khi chuyển giao được cho ba nước nầy.
Dựa trên những quan niệm trên đây, Hayashi đưa ra đề nghị trao trả độc lập cho ba nước Đông Dương và thành lập một chính quyền thân Nhật ở Việt Nam do Cường Để đứng đầu và Ngô Đình Diệm làm thủ tướng. Ngày 27-12-1944, Hayashi trình lên thiếu tướng Saburõ Kawamura, nay là tham mưu trưởng Quân đoàn 38 vì từ tháng 12-1944, đạo quân Nhật đồn trú ở Sài Gòn được chuyển đổi thành Quân đoàn 38. Thiếu tướng Kawamura chính thức thừa nhận kế hoạch Hayashi trong một cuộc họp quân sự trong ngày hôm sau 28-12-1944. (Masaya Shiraishi, bđd, sđd, tr. 120-121.)

Tuy nhiên nhiên kế hoạch nầy phải đợi sự chấp thuận của tân tư lệnh Quân đoàn 38 là trung tướngYũichi Tsuchihashi. Sau khi bàn giao đơn vị cũ ở Timor, trung tướng Tsuchihashi đến Sài Gòn ngày 14-11-1944 và nhận chức vụ mới là tư lệnh Quân đoàn 38 ngày 14-12-1944 thay trung tướng Kazumoto Machijiri. Ngay sau đó, trung tướng Tsuchihashi rời Sài Gòn đi Hà Nội ngày 18-12-1944 để gặp toàn quyền Pháp tại Đông Dương là đô đốc Jean Decoux. Như thế, kế hoạch của Hayashi được thiếu tướng Kawamura thông qua, nhưng chưa được tân tư lệnh Quân đoàn 38 chấp thuận

Từ tháng 4-1944, Mamoru Shigemitsu lên làm bộ tưởng bộ Ngoại giao Nhật Bản. Ông nầy liền hối thúc việc lật đổ chính quyền Pháp tại Đông Dương. Shigemitsu cho rằng trao trả độc lập cho các nước trong vùng Nhật chiếm đóng, sẽ gây trở ngại cho Mỹ hay Tây Âu khó trở lui các nước nầy dầu Nhật Bản thất trận. (Masaya Shiraishi, bđd., sđd. tt. 121-122.)

Đại tướng Yoshihiro Umezu, tham mưu trưởng quân đội Nhật, trả lời đồng ý trên nguyên tắc, nhưng cần phải nghiên cứu cẩn thận và chuẩn bị đầy đủ. Tuy nhiên, do việc quân đội Nhật thất bại ở Philippines, nên quân đội Nhật nay cũng muốn sớm làm chủ Đông Dương, để biến Đông Dương thành hậu cứ của quân đội Nhật ở Đông Nam Á. Vì vậy, tháng 12-1944, đạo quân Nhật đồn trú ở Sài Gòn được đổi thành Quân đoàn 38. Lúc đó, ngày 11 và 12-1-1945, phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc mạnh mẽ khắp Đông Dương và trên Biển Đông, gây thiệt hại nặng cho hải quân Nhật tại vùng nầy. Người Nhật cho rằng đó là dấu hiệu lực lượng Đồng minh sắp đổ bộ Đông Dương. Tuy việc đổ bộ không xảy ra, nhưng người Nhật nghĩ rằng đã đến lúc phải dứt khoát lật đổ Pháp ở Đông Dương. Người Nhật lo ngại nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương vâng lệnh chính phủ De Gaulle, làm nội ứng cho quân Đồng minh thì rất tai hại cho quân Nhật.

Như thế là giữa bộ Ngoại giao và bộ tổng tư lệnh quân đội Nhật ở Tokyo đồng thuận việc lật đổ nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương, nhưng lại xảy ra những bất đồng khác trong nội bộ người Nhật, nhất là việc giao cho ai lãnh đạo Việt Nam và việc sắp đặt bộ máy hành chánhtại Đông Dương giữa giới ngoại giao và giới quân sự. Cuộc tranh cãi trong nội bộ người Nhật gay gắt đến nỗi vào đầu tháng 3-1945, đại sứ Nhật Shunichi Matsumoto từ chức, trước khi quân Nhật đảo chánh.

4. KHÔNG MỜI CƯỜNG ĐỂ

Riêng về vấn đề nhà cầm quyền Việt Nam, để tránh xáo trộn, gây thêm khó khăn, bộ Ngoại giao Nhật cũng như bộ Tổng tham mưu quân đội Nhật quyết định duy trì vua Bảo Đại ở ngôi báu, giữ nguyên nền hành chánh bản xứ, không đưa hoàng thân Cường Để về nước thay thế vua Bảo Đại. Tháng 1-1945, có một phái đoàn từ Tokyo đến Việt Nam vận động đưa Cường Để lên ngôi. Thiếu tướng tham mưu trưởng Quân đoàn 38 là Kawamura hỏi ý trung tướng tư lệnh là Tsuchihashi, thì Tsuchihashi trả lời: “Tốt nhất là từ chối.” Cuối tháng 2-1945, một nhân vật từ Tokyo đến Sài Gòn, nói với trung tướng Tsuchihashi là nên đưa Cường Để về Sài Gòn, thì Tsuchihachi trả lời gay gắt:“Đưa ông ta về đây thì phải biết rằng khi ông ta đến phi cảng Sài Gòn, tôi sẽ gởi ông ta ra nhà tù Côn Sơn.” (Masaya Shirashi, bđd.sđd. tr. 135.

Sau cuộc đảo chánh thành công ngày 9-3-1945 trên toàn Đông Dương, cố vấn tối cao Masayuki Yokoyama, tổng lãnh sự Akira Konagaya và lãnh sự Taizõ Watanabe đến điện Thái Hòa, trong hoàng cung ở Huế, sáng 11-3-1945, triều yết vua Bảo Đại. Mở đầu cuộc đàm đạo, vua Bảo Đại thẳng thắn bày tỏ nỗi kinh ngạc của nhà vua với Yokoyama là tại sao ông đại sứ không nói chuyện với hoàng thân Cường Để là người sát cánh với chính quyền Nhật trong cuộc tranh đấu chống Pháp, mà lại đến hoàng cung nói chuyện với nhà vua. Đáp lại, Yokoyama cho rằng việc Cường Để đã qua, không còn thích hợp. Yokoyama giải thích với vua Bảo Đại về những hành động mới nhứt của Nhật trên toàn cõi Đông Dương và tuyên bố “muốn đem châu Á trả về cho người châu Á.” Ông ta còn nói rằng ông ta “có nhiệm vụ dâng nền độc lập” lên vua Bảo Đại, đồng thời kêu gọi Việt Nam cùng các nước Đông Dương gia nhập khối Đại Đông Á do Nhật đứng đầu. Khối nầy đã được chính phủ Nhật công bố thành lập ngày 1-8-1940, cách đó 5 năm. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Xuân Thu, 1990, tr. 158-159.)

Ngay chiều 11-3-1945, vua Bảo Đại triệu tập Cơ mật viện, các thượng thư, các hoàng thân để thảo luận tình hình mới. Cuộc họp đưa đến kết quả là nhà vua cùng các thượng thư Phạm Quỳnh (bộ Lại), Hồ Đắc Khải (bộ Hộ), Ưng Hy (bộ Lễ), Bùi Bằng Đoàn (bộ Hình), Trần Thanh Đạt (bộ Học), Trương Như Đính (bộ Công) đồng ký BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP do Phạm Quỳnh soạn. Như thế, sau hơn 60 năm bị người Pháp bảo hộ từ năm 1884, nay nước Việt Nam chính thức độc lập do tình hình thế giới biến chuyển và do sự can thiệp của Nhật Bản. Sau đó, Phạm Quỳnh cùng toàn thể 5 thượng thư từ chức.

Vua Bảo Đại liền triệu tập nhân sĩ khắp nước về Huế để thăm dò việc thành lập chính phủ mới. Nhà vua nghĩ rằng người có thể đáp ứng được tình thế mới là cựu thượng thư bộ Lại Ngô Đình Diệm. Nhà vua liền nhờ người Nhật tìm kiếm ông Diệm để mời ông ra chấp chính. Người Nhật trả lời không kiếm được ông Diệm mặc dầu ông đang sống ở Sài Gòn.

Vua Bảo Đại liền mời Trần Trọng Kim, nhưng như trên đã viết, ông Kim đề nghị nhà vua nhờ người Nhật tìm kiếm Ngô Đình Diệm lần nữa. Lần nầy, người Nhật giao việc liên lạc với ông Diệm cho Hidezumi Hayashi, trung tá hiến binh Nhật. Hayashi là tác giả kế hoạch ngày 27-12-1944, đề nghị đưa hoàng thân Cường Để về Việt Nam cầm quyền và đưa Ngô Đình Diệm lên làm thủ tướng. Ông Diệm lúc đó đang ở Vĩnh Long với giám mục Ngô Đình Thục.

Khi gặp nhau, ông Diệm cho Hayashi biết ông ta không có ý định làm thủ tướng theo lời mời của vua Bảo Đại, mà ông Diệm chỉ muốn một điều là Kỳ Ngoại Hầu Cường Để về Việt Nam thay thế vua Bảo Đại. Ông Diệm tỏ ra bất bình Hayashi không báo cho ông biết tin tức đảo chính ngày 9-3, vì Hayashi liên lạc cá nhân khá thân tình với ông Diệm trong thời gian người Nhật bảo vệ ông Diệm ở Sài Gòn. Một lý do khác khiến ông Diệm từ chối lời mời của vua Bảo Đai vì ông Diệm nhận định rằng tình hình người Nhật đang suy yếu một cách nhanh chóng, và thật là thiếu sáng suốt nếu lập chính phủ dưới sự chiếm đóng của người Nhật. Cuối cùng, theo đề nghị của Hayashi, ông Diệm viết thư cho vua Bảo Đại bằng tiếng Pháp, từ chối lời mời của nhà vua, đơn thuần chỉ vì lý do sức khỏe. (Masaya Shiraishi, bđd., sđd., tt. 137-138.)

Trần Trọng Kim cũng được thông báo cho biết tin nầy, nên ông Kim mới nhận lời mời lần thứ hai của vua Bảo Đại, đứng ra thành lập nội các. (Masaya Shiraishi, bđd sđd. tt. 138-139.) Nội các Trần Trọng Kim trình diện ngày 17-4-1945, gồm những nhà trí thức khoa bảng cùng chuyên viên, và đặc biệt không có người thân Nhật, dầu nội các nầy do Nhật bảo trợ

KẾT LUẬN

Ngay từ khi mới đến Đông Dương, chính sách của Nhật là kiểm soát Đông Dương nhưng vẫn để cho Pháp cai trị Đông Dương, để Nhật khỏi bận tâm chuyện hành chánh và an ninh, cho đến khi tình thế bắt buộc, mới lật đổ Pháp ở Đông Dương ngày 9-3-1945. Trong lúc khó khăn, Nhật lại càng không muốn tạo thêm khó khăn mới, nên không thay đổi nền quân chủ ở Việt Nam. Vì vậy, dầu Kỳ Ngoại Hầu Cường Để và Ngô Đình Diệm đã từng sát cánh hoạt động với người Nhật, cũng không được người Nhật đưa về nước cầm quyền. Theo Trần Trọng Kim, có thể vì người Nhật không chọn Kỳ Ngoại Hầu Cường Để mà chọn vua Bảo Đại, nên người Nhật không mời Ngô Đình Diệm. (Trần Trọng Kim, sđd. tt. 49-50.)

Về phía Ngô Đình Diệm, có thể ông Diệm không vui lòng khi thấy người Nhật không thực tâm và thờ ơ với mình, chuyển lời mời của vua Bảo Đại đến ông quá trễ, và nhất là khi thấy tình thế của người Nhật không được sáng sủa, Nhật đang suy yếu dần, ông Diệm liền từ chối lời mời của vua Bảo Đại.

Có người đặt ra một câu hỏi là nếu Kỳ Ngoại Hầu Cường Để về làm vua và ông Diệm làm thủ tướng năm 1945, thì Việt Nam sẽ đi về đâu? Câu hỏi không bao giờ có phần trả lời vì không thể quay ngược thời gian để làm lại lịch sử.

Trần Gia Phụng
Toronto, 29-8-201
6

26 tháng 6, 2016

Cuộc chiến 1979 và Hoàng Sa

TQ đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới của VN vào 17/1979
Ngày 7-2-1979, tại Tokyo, khi ngầm thông báo với báo chí một chiến dịch “trừng phạt” Việt Nam, Đặng Tiểu Bình giải thích: “Hiệp ước mà Việt Nam và Liên Xô ký kết có tính chất đồng minh quân sự. Việt Nam đã mở cuộc xâm nhập vũ trang vào Campuchia và đang khiêu khích ở biên giới Trung Quốc”. Tuy nhiên, nguyên nhân thực sự của cuộc chiến tranh mà Đặng Tiểu Bình thực hiện 10 ngày sau không đơn giản chỉ là những gì được nói ra trong lời tuyên bố ấy.
Hiệp ước mà ông Đặng đề cập là Hiệp ước hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Liên Xô, ký ngày 3-11-1978. Hiệp ước này được ký kết sau khi mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã rất trầm trọng: Trung Quốc yêu cầu Việt Nam đóng cửa 3 Tổng lãnh sự quán (6-6-1978) và cắt toàn bộ viện trợ (7-1978). Ngày 29-1-1979, khi hội đàm ở Mỹ, Đặng Tiểu Bình nhắc tới Campuchia, Afganistan với Tổng thống Jimmy Carter và cảnh báo “nguy cơ phản ứng dây chuyền”. J. Carter “đồng ý với Đặng cách nhìn nhận” ấy. Tuyên bố chung, hai ngày sau đó (1-3), nhấn mạnh, “Trung-Mỹ chống lại bất kỳ quốc gia hoặc tập đoàn quốc gia nào mưu kế bá quyền”. Đặng đã thành công khi sử dụng liên minh Việt-Xô để gieo rắc hoài nghi, khiến Mỹ làm ngơ cho Trung Quốc đánh Việt Nam, bên trong, Đặng không hề đánh giá cao “liên minh” ấy.
Trong hội nghị do Quân ủy Trung ương Trung Quốc triệu tập, bàn “chủ trương” đánh Việt Nam, không ít tướng lĩnh đã cảnh báo nguy cơ bị Liên Xô tấn công. Khi ấy, trên biên giới Trung- Xô, Liên Xô bố trí tới 50 sư đoàn chủ lực. Đặng Tiểu Bình nhận định: “Liên Xô không thể không xét tới nhiều nhân tố quốc tế nên khả năng [vì Việt Nam mà] can thiệp vào Trung Quốc là rất ít”. Trên thực tế, một tuần sau khi Trung Quốc đánh Việt Nam, không thấy Liên Xô “ra tay”, Trung Quốc đã đánh tiếp sang thị xã Lạng Sơn, và chỉ rút khi trên hướng này Quân đoàn II xuất hiện.
Tại thời điểm Đặng tuyên bố với báo chí, 7-2-1979, quân đội Việt Nam có mặt ở Phnom Penh vừa tròn một tháng, nên “yếu tố Campuchia” có vẻ như rất dễ thuyết phục. Nhưng, theo cuốn sách 10 năm Chiến tranh Trung Việt của NXB Đại học Tứ Xuyên, công bố năm 1993, ngay trong Hội nghị Quân ủy Trung ương, từ 7 đến ngày 9 tháng 12 năm 1978, Trung Quốc đã quyết định đánh Việt Nam. Trong ngày 9-12-1978, Quyết định này đã được “tuyệt mật” chuyển tới tay Tướng Hứa Thế Hữu (Tướng Hữu cùng với Dương Đắc Chí là hai tướng chỉ huy cuộc chiến tranh 17-2). Trong khi mãi tới ngày 25-12-1978, quân đội Việt Nam mới bắt đầu mở chiến dịch đánh sang Phnom Penh.
Khi Khmer Đỏ chưa nắm được chính quyền, đang “ăn nhờ, ở đậu” gần Trung ương Cục (Việt Nam), Pol Pot, Yeng Sary đã “đi lại” với Bắc Kinh. Năm 1970, Lon Nol lật đổ Sihanouk, Pol Pot đã rất cay cú khi Sihanouk được đưa về Hà Nội. Pol Pot nhận ra, họ không phải là lực lượng duy nhất mà Việt Nam ủng hộ ở đất nước nhỏ bé này. Cho dù sau đó “lá bài” Sihanouk cũng được “nuôi” ở Bắc Kinh như một ông hoàng, người Trung Quốc đã khéo léo nhen nhúm hiềm khích Việt Nam cho Pol Pot. Chính vì thế mà ngay trong năm 1975, Khmer Đỏ đã phản bội Việt Nam, bắn giết ở Phú Quốc, ở Thổ Chu và từ năm 1977 đánh sang An Giang, Tây Ninh, có khi vào sâu hơn 10 km. Tuy nhiên, cho dù có bị “mất mặt” khi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ do Trung Quốc hậu thuẫn bị Việt Nam đánh đổ ở Phnom Penh, liệu, Trung Quốc có phải là một “đàn anh” trung thành với lân bang đến mức hy sinh mình như vậy?
Người Hoa và vấn đề “nạn kiều” cũng đóng một vai trò nhất định. Thật khó lý giải vì sao cuộc “cải tạo tư sản công thương nghiệp”, đụng tới hàng trăm nghìn người Hoa, lại được Việt Nam tiến hành năm 1978, khi mà mối quan hệ với Trung Quốc đang hết sức căng, nếu như không đề cập đến câu chuyện sau đây, câu chuyện mà sách vở chưa bao giờ nói đến. Bí thư Thành ủy TP HCM vào thời điểm 1975, ông Võ Văn Kiệt, kể: “Sau ngày 30-4, ở khu vực Chợ Lớn có một chi bộ có vũ trang thuộc bộ phận hải ngoại của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Chi bộ này xuất hiện bí mật từ trước 30-4 và khi đó họ đòi được công khai hoạt động”. Để một lực lượng Trung Quốc có vũ trang ở Chợ Lớn thì cũng không khác chi “đặt mồi lửa dưới đống củi”, Việt Nam buộc phải “giải giáp” họ. Bắc Kinh rất khó chịu về vụ “giải giáp” này. Nhưng, cho dù có bao nhiêu người Hoa đã phải ra đi trong năm 1978 thì “nạn kiều” vẫn là một “lá bài” mà Trung Quốc cũng chủ động “chơi” chứ không hẳn là nguyên nhân khiến cho Đặng Tiểu Bình đưa quân sang Việt Nam xâm lược.
Tác giả của 10 năm Chiến tranh Trung Việt còn chỉ ra một vấn đề rất có thể cũng là nguyên nhân: Năm 1978, Đặng Tiểu Bình vừa khôi phục lại quyền lãnh đạo quân đội, “Ông có ý thức nhạy bén… thông qua cuộc chiến tranh, vừa thăm dò được sự trung thành [của quân đội], vừa làm cho các nhà lãnh đạo [Trung Quốc] khác nhận rõ những mặt phải cải cách quân đội”. Đại tá Hà Tám, chỉ huy Trung đoàn 12 anh hùng đánh Trung Quốc tháng 2-1979, cho biết: “Mặc dù pháo theo cùng của Trung Quốc bắn khá chính xác, nhưng, bộ binh thì chủ yếu dùng ‘biển người’; chỉ huy của Trung Quốc lúc ấy ra trận mà vẫn có người che ô, quân thì chờ kèn kêu mới xông trận”. Sau ngày 17-2, Trung Quốc đã gấp rút cải cách quân đội, và họ đã “thử nghiệm” lại trên Biên giới Việt Nam vào ngày 28-4-1984 bằng một chiến dịch với phương thức chiến tranh hoàn toàn mới.
Đặng Tiểu Bình nói: “Người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán”. Cuộc chiến tranh được huy động khi mà Trung Quốc đang vô cùng lạc hậu sau các cuộc cách mạng “da thịt tàn nhau” không chỉ nhắm đến một mục tiêu. Bằng cách kể lể kiểu chương hồi, cuốn sách mà Trung Quốc cho công bố, 10 năm Chiến tranh Trung Việt, đã để lộ một ý đồ thâm sâu của Đặng, đó là vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa. Ngay sau khi kết thúc chiến tranh ở miền Nam, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã bày tỏ thái độ khá kiên định về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa, quần đảo mà từ lâu Trung Quốc đã rắp tâm thôn tính.
Tháng 6-1975, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm cho Trung Quốc về vấn đề Hoàng Sa. Ngày 24-9-1975, khi gặp Đặng Tiểu Bình ở Bắc Kinh, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã “yêu cầu Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình đàm phán về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa”. Tháng 4-1977, trên đường đi Liên Xô ghé qua Bắc Kinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã gửi đến Trung Quốc thông điệp của Việt Nam về hai quần đảo ấy. Tuy nhiên, trước sau Trung Quốc đều một mực “yêu cầu Việt Nam trở lại lập trường trước năm 1974”. “Lập trường trước năm 1974”, theo cuốn sách 10 năm Chiến tranh Trung Việt là “Tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958”. Cuốn sách nói là Đặng Tiểu Bình đã rất “khó chịu” với Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Đặng nói: “Vấn đề này không cần thiết phải đàm phán… [đó] là lãnh thổ Trung Quốc”.
Có lẽ, năm 1979, Đặng Tiểu Bình nghĩ là có thể đè bẹp ý chí của người Việt Nam trong vấn đề đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa nên đã phát động chiến tranh. Và, các yếu tố như Liên Xô, Campuchia được Đặng vận dụng tối đa để cô lập Việt Nam trên trường quốc tế. Điều cay đắng là, lẽ ra Đặng đã không thể cô lập Việt Nam để gây đổ máu của dân ta như thế nếu như sau 1975, Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước trong khối ASEAN ngay và đặc biệt, bình thường ngoại giao với Mỹ. Năm 1977, khi Mỹ chìa tay ra cho Việt Nam, theo Tổng thống Jimmy Carter, “vấn đề bồi thường chiến tranh đã gây khó khăn”. Rồi, trong khi Việt Nam đang loay hoay thì Đặng Tiểu Bình đã khai thác yếu tố này ngay, để thiết lập được quan hệ ngoại giao với Mỹ và đặt Việt Nam vào tình huống bị bao vây, cấm vận. Tất nhiên, “ý thức hệ” đóng một vài trò quan trọng trong quyết định “nhất biên đảo” với Liên Xô; năm ấy, báo Nhân dân vẫn chỉ trích Đặng về chủ thuyết “mèo trắng, mèo đen” và ngày nay, chúng ta vẫn cần phải quan tâm tới bài học ấy.
Tôi công bố bài viết này không chỉ vì sắp đến ngày 17-2 mà còn vì, muốn lưu ý, “người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán”, không nên đặt cuộc chiến tranh 17-2 ra ngoài âm mưu Biển Đông. Bản Giốc, Tục Lãm… giờ đã xong; nhưng, Hoàng Sa, Trường Sa thì vẫn đó.
Tác giả Huy Đức.

Cuộc đảo chính ông Hoàng Sihanouk năm 1970

Norodom Sihanouk
Norodom Sihanouk
Diễn tiến lịch sử
Đây là một biến cố chính trị lớn trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, nó đã lôi cuốn xứ Chùa Tháp vào cuộc chiến tranh đẫm máu, năm năm sau đưa tới tấn thảm kịch diệt chủng hàng triệu sinh linh. Cuộc đảo chính cũng đã gây ảnh hưởng lớn tới sự phân hóa trầm trọng giữa lòng nước Mỹ. Sự kiện này cũng ít được nhắc đến, trong số các sách vở đề cập tới biến cố, Kissinger kể lại chi tiết hơn các tác giả khác trong hồi ký của ông (1) . Tôi dựa theo lời Kissinger và có tham khảo thêm các dữ kiện trong hồi ký của Tổng thống Nixon và vài tác giả khác.
Gần 30 năm nay chính trị xứ Căm Bốt (tiếng Anh Cambodia , Pháp Cambodge) đồng nghĩa với cá tính của ông Hoàng Sihanouk. Ông lên ngôi năm 1941 khi 18 tuổi, thoái vị năm 1955 (2), làm Thủ tướng tháng 6-1960, được Quốc Hội Miên bầu làm Quốc trưởng. Sihanouk đã lãnh đạo vương quốc Cao Miên giành dộc lập từ tay người Pháp năm 1953. Ông là nhà lãnh đạo khéo léo đánh đu giữa Đông và Tây, giữa Nga-Tầu, giữa CS Bắc Việt và Việt Nam Cộng Hòa, giữa tả khuynh và hữu khuynh trong nước. Ông giữ cho xứ Chùa Tháp được hòa binh trong khi Đông Dương bị sâu xé vì cuộc chiến tranh khốc liệt.
Số là ngày 7-1-1970 ông Hoàng cùng gia đình sang Pháp nghỉ hè và cũng để chữa bệnh béo phì. Đứng đầu chính phủ là Thủ Tướng Lon Nol, người được ông cử lên giữ chức vụ này tháng 8-1969 là người tín cẩn nhất cùng với Đệ nhất Phó thủ tướng Sirik Matak. Sihanouk có nhiểu khuyết điểm như không đuổi được CSBV chiếm biên giới phía đông, tham nhũng. Tháng 7-1969 Mỹ tái lập bang giao với Căm Bốt sau khi bị đoạn giao từ tháng 5-1965. Hà Nội đã dùng đất Miên để đánh Mỹ và VNCH bất chấp luật quốc tế công pháp. Sihanouk khuyến khích Mỹ oanh tạc các căn cứ CSVN tại biên giới. Ngày 30-7-1969 TT Nixon gặp TT Thiệu tại Sài Gòn, Nixon hỏi ý kiến Thiệu về Sihanouk, ông Thiệu cho biết hiện nay Sihanouk không tốt, chúng ta không muốn tình hình xấu hơn, theo ông hoặc Quân đội Miên (Lon Nol) hoặc Cộng Sản có thể lật đổ Sihanouk, Miên rất yếu có thể CS sẽ chiếm xứ này.
Nixon và Kissinger đồng ý với Thiệu, bi kịch Căm Bốt do căng thẳng nội bộ, nó đã đảo lộn sự cân bằng mà ông Hoàng đã gìn giữ. CSBV đóng quân tại Miên khiến người dân thù ghét người VN chiếm cứ đất nước họ. Đất Sài Gòn cũng là đất Miên bị VN chiếm từ thế kỷ thứ 19, nếu quân Pháp không tới (Đông Dương) có thể toàn cõi xứ Chùa Tháp đã bị người Việt chiếm rồi (3) Người Miên ghét người Việt có từ xưa nên Sihanouk không đuổi được CSVN ra khỏi đất Miên khiến người dân bất mãn, ông mất uy tín nhiều.
Ông Hoàng công khai phản đối CSBV xâm phạm chủ quyền. Tháng 6-1969 (tức 3 tháng sau khi Nixon cho oanh tạc B-52 tại căn cứ địch biên giới), trong một cuộc họp báo ông nói tỉnh Ratanakiri nay là đất của BV và VC, họ đã xâm nhập tỉnh Svay Rieng. Tháng 10-1969 báo Sangkum của Sihanouk phản đối BV và VC đóng quân tại biên giới Việt-Miên. Tháng 12-1969 Sihanouk ca ngợi vai trò của Mỹ tại miền Nam VN, sự hiện diện của Mỹ khiến các nước nhỏ như Cam Bốt được người Âu châu và CS Á châu nể trọng.
Ngày 15-12-1969 Sihanouk lên tiếng chửi CS gây thiệt hại cho Căm Bốt, ông nói nếu đoạn giao với Mỹ thì cũng phải đoạn giao với CS và ông quyết định không đoạn giao với Mỹ như có người đề nghị. Ngày 22-2-1970 nghỉ hè xong, ông cho biết tháng 3 khi trở về Căm Bốt sẽ ghé thăm Nga và Trung Cộng để nhờ họ giúp loại bỏ sự hiện diện của CSVN tại Miên. Ngày 8-3-1970 dân làng thuộc tỉnh Svay Rieng biểu tình chống CSBV chiêm đóng Cao Miên , ngày 14-3 hai chục nghìn thanh niên Miên biểu tình trước tòa đại sứ CSBV và VC tại Nam Vang (chắc do chính phủ giúp tổ chức). Quốc Hội Miên nhóm họp xác định đất nước họ trung lập và bảo vệ đất đai. Họ đòi tăng cường quân đội mà ông Hoàng để yếu vì ông sợ phản.
Từ Paris Sihanouk điện tín cho bà Mẫu hậu tại Nam Vang nói “một số nhân vật trong chính phủ muốn giao đất nước vào tay Đế quốc tư bản” và ông sẽ về Nam Vang ngay để hỏi ý kiến dân quân quyết định. Tại Paris ông Hoàng trả lời phỏng vấn nói BV, VC hoặc tôn trọng nền trung lập của Căm Bốt hay để đất nước này rơi vào tay một chính phủ thân Mỹ. Ngày 12-3, Phó Thủ tướng Sirik Matak tuyên bố bãi bỏ giao thương với VC và sẽ cho tăng quân đội thêm lên mười ngàn người.
Dân Nam Vang biểu tình bài người Việt Nam , họ tấn công các nhà thờ, cửa hàng VN. Ngày 13-3 Bộ ngoại giao Miên yêu cầu tòa Đại sứ BV, VC phải cho rút hết lực lượng của họ khỏi lãnh thổ xứ Chùa Tháp ngày 15-3-1970. Cùng ngày (13-3) Sihanouk rời Paris qua Nga mà trước đây ông muốn về Nam Vang ngay, mặc dù Chủ tịch Nga Podgorny khuyên ông nên về nước hôm sau nhưng ông lại ở Nga năm ngày để xin viện trợ quân sự. Sau đó ông lại không về Nam Vang mà đi Bắc Kinh và cho biết (trong hồi ký) Lon Nol và Sirik Matak không cho ông về, tới 18-3 Quốc hội mới truất phế ông , phi trường Nam Vang đóng cửa. Ông được hung tin do Thủ tướng Nga Kosygin báo khi trên đường ra phi trường Moscow . Nhóm tùy viên của ông không dám nói cho biết tin sét đánh này, 92% các vị dân cử Miên đã bỏ phiếu truất phế ông.
Khi tới Bắc Kinh ông Hoàng được Chu Ân Lai đón tiếp, ôm tại phi trường như không có gì sẩy ra, Chu cam kết vẫn coi ông như Quốc trưởng Cam Bốt. Đây không phải là cuộc đảo chính quân sự mà là một chính phủ Sihanouk không có Sihanouk. Sau này Sainteny (chính trị gia Pháp) cho biết nếu Sihanouk về Nam Vang sớm ít ngày thì sẽ không bị lật đổ, ông quá tự tin chẳng lẽ những cận thần trung thành lại lật đổ ông. Nhưng sau này theo như ông kể lại, bà Mẫu hận ở Nam Vang điện tín cho ông biết nếu trở về Nam Vang sẽ bị nguy hiểm.
Động cơ thúc đẩy Căm Bốt vào cuộc chiến đẫm máu bắt đầu từ chỗ này: Lon Nol và Sirik Matak đe dọa dùng quân sự chống lại kẻ địch mạnh là BV, VC. Ngoài ra cũng tại Sihanouk do dự không trở lại Nam Vang, ông được phía Nga khuyên về, Mỹ cũng muốn vậy và tin rằng nếu ông về lại thì tình hình sẽ lắng dịu có lợi cho cả mọi phía. Từ 20-3 người ta không thể kiểm soát nổi tình thế.
Về vai trò của Mỹ, họ không có mục đích gì trong chuyện này, theo lời Kissinger Mỹ không can thiệp vào nội bộ Căm Bốt vì bận giải quyến tình hình Lào những tháng đầu năm 1970 và thực ra không có nhân viên tình báo Mỹ ở Nam Vang. Mỹ không biết gì về tình hình Miên, không khuyến khích đảo chính hay biết trước tí nào, thực ra Mỹ không chú ý tới Miên nhiều.
Kissinger trình văn thư lên Nixon nói: có thể Sihanouk giả vờ tạo đảo chính giả để xin Nga, Trung Cộng đòi BV, VC rút khỏi đất Miên nếu không ông sẽ bị loại bằng một chính phủ hữu khuynh thân Mỹ. Mục đích để áp lực Nga, Trung Cộng, có thể họ (ông Hoàng, Lon Nol) thông đồng với nhau trong lá bài.
Ngày 19-3, Kissinger trình văn thư lên Tổng thống, ông cho là có thể Sihanouk sẽ về lại Nam Vang sắp xếp mọi việc. Có thể sẽ sẩy ra một trong ba trường hợp.
-Lon Nol và Sirik Matak sẽ nắm chính quyền do quân đội ủng hộ.
-Hoặc Sihanouk sẽ trở về làm Quốc trưởng nhưng ít quyền hơn.
-Sihanouk thắng, quân đội chống Lon Nol.
Ngày 20-3, Kissinger và Nixon bàn về cuộc họp báo nay mai, Kissinger khuyên Tổng thống cần tôn trọng nền trung lập của Căm Bốt, Nixon đồng ý nói có thể ông Hoàng sẽ trở về lại Nam Vang nắm quyền như xưa. Trong cuộc họp báo ngày 21-3, Nixon nói không thể lường trước biến cố tại Miên và hy vọng BV tôn trọng nền trung lập của xứ này, ông hy vọng Sihanouk sẽ trở lại Nam Vang.
“Nay chúng ta tạm thiết lập liên hệ với chính phủ lâm thời do Quốc hội lập lên và ta dè dặt vì Sihanouk có thể trở về lại”
Buổi họp WSAG (Nhóm hành đông đặc biệt Hoa Thịnh Đốn) ngày 19-3 (tại Bạch Ốc) chú trọng Lào nhiều, ít chú trọng vào Miên. Ngày 17-3 Kissinger báo cáo cho Nixon biết Lon Nol muốn tăng quân thêm mười ngàn người, Tổng thống nói ta hãy giúp họ.
Tại Bắc Kinh hôm 20-3 (sau đảo chinh hai ngày) Shihanouk lên án Quốc hội đã truất phế ông bất hợp pháp, tố cáo CIA thông đồng với bọn phản bội và bênh vực CSBV ở Miên chống Đế quốc. Hôm sau ông tuyên bố sẽ chống chính phủ phản bội tới hơi thở cuối cùng. Bây giờ nếu ông Hoàng trở về không phải để tái lập chính sách trung lập mà là rước quan thầy CS (Nga, Trung Cộng) về.
Ngày 21-3 Quốc hội Miên bỏ phiếu thuận sẽ bắt Sihanouk nếu ông trở về, báo chí tại Nam Vang chỉ trích và lên án ông. Ngày 22-3 CSBV kết án chính phủ Cam Bốt mới (Lon Nol) thân Mỹ, tố cáo Mỹ giúp lật đổ Sihanouk và tuyên bố “dân tộc ta ủng hộ triệt để cuộc cuộc đấu tranh của nhân dân Cam Bốt”. Ngày 23-3 Sihanouk tuyên bố sẽ thành lập quân giải phóng, ca ngợi CS Việt Nam , Miên, Lào chống Mỹ. Đầu tháng 4-1970 BV, VC rời căn cứ tiến về Nam Vang để lật đổ chính phủ Lon Nol, ngày 3-4 chúng tấn công Svay Rieng và thành lập “Mặt trận Quôc gia thống nhất”, Sihanouk bắt tay với CS.
Ngày 4-4 tại Hòa đàm Paris, Lê Đức Thọ lên án Mỹ giúp Lon Nol lật đổ Sihanouk, Kissinger bác bỏ, ông nói không có người lính Mỹ nào tại Miên trong khi tại Lào quân Pathet nói tiếng Việt (tức lính CS), tại Miên cũng vậy. Kissinger bàn về việc trung lập hóa Miên trở lại nhưng Thọ phản đối, ông ta nói ba dân tộc Việt-Miên-Lào sẽ đoàn kết chống thực dân, đế quốc, Thọ cũng nói phải lật đổ Lon Nol, Matak. Ngày 6-4, ông Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc U Thant tuyên bố công nhận chính phủ Lon Nol. Hà Nội không chịu thương thuyết về Căm Bốt trái lại họ mở rộng cuộc chiến xâm lăng, họ chỉ muốn nắm quyền.
Mấy tuần trước, Mỹ chỉ muốn cho Sihanouk tại vị, nay nếu ông ta trở về lại do Hà Nội sắp đặt thì Căm Bốt sẽ trở thành căn cứ hậu cần nguy hiểm của địch. Đường tiếp vận của BV qua cảng Sihanouville sẽ nguy hiểm gấp đôi, Mỹ sợ hãi một chính phủ CS Sihanouk sẽ thành một căn cứ địa và hậu cần cho CSBV và VC.
Chính phủ Lon Nol lần đầu tiên xin Mỹ giúp khi Mỹ biết Miên không thể trở thành trung lập được nữa. Ngày 9-4, Tổng tư lệnh và Tổng trấn Nam Vang (em Lon Nol) đề nghị họp với một viên chức tòa Đại sứ Mỹ.Ông nói về việc tăng quân từ 35 ngàn người lên 60 ngàn người (gấp đôi), cần ngay từ 100 ngàn tới 150 ngàn vũ khí và sau cùng từ 200 tới 250 ngàn vũ khí cả đạn dược. Xử lý thường vụ Lloyd Rives thấy con số quá lớn nên ông về Mỹ và khuyên cần giúp qua trung gian tránh can thiệp trực tiếp, nên gửi vũ khí âm thầm lén lút và đặt giới hạn số lượng để tránh cho BV có cớ đánh lớn.
Mỹ quyết định nhờ Pháp giúp Miên, lấy những súng AK tịch thu được của VC tại VNCH để giúp trang bị quân đội Căm Bốt, không hề có súng Mỹ. Rives cho Bộ giao Miên biết Pháp sẽ cung cấp vũ khí, Mỹ bất đắc dĩ phải can thiệp, Chính Phủ Miên cần tiếp xúc rất ít với Tòa Đại sứ Mỹ.
Ngày 13-4 căn cứ tiền đồn tỉnh Kampot gần biên giới Việt-Miên bị VC chiếm, chúng đánh nhiều tỉnh trong mấy ngày liền để cắt đường liên lạc với Nam Vang và để làm cho chính phủ mới sụp đổ. Lon Nol tuyên bố tình trạng đất nước lâm nguy và xin các nước ngoài giúp vô điều kiện.
Kissinger báo cáo với Nixon, ông nói ta không thể để Chính phủ Lon Nol sụp đổ. Ông ta cho triệu tập buổi họp WSAG (Nhóm hành động đặc biệt Washington), mọi người đề nghị gửi 3,000 khẩu AK lấy được của BV, VC tại VNCH do miền Nam gửi cho Miên. Chỉ vài tuần sau khi BV, VC tấn công chiếm Miên, xứ này sẽ thành căn cứ địa CS, chương trình VN hóa chiến tranh và việc rút quân của Mỹ sẽ gặp khó khăn. Mỹ cần phải giúp ngay chính phủ Lon Nol. Ngày 4-4 Thọ từ chối bàn về ngưng bắn tại Đông Dương, trung lập Miên.
Căm Bốt đang hấp hối, CSVN nhất định chiếm hết xứ Chùa Tháp, Sihanouk nay kết bạn với kẻ thù (CS) trong khi Mỹ đang rút quân, nay Hành pháp không còn quyền lực để kiểm soát các biến cố.
Trước khi đánh tiếp ván bài mới (tấn công căn cứ BV tại Miên), Mỹ phải ngừng một tí là lúc quyết định rút quân.
Kết Luận
Đa số các nhà nghiên cứu và chính khách Mỹ không có thiện cảm khi nhận xét về Sihanouk, tác giả George Donelson Moss nói ông ta luôn đánh đu giữa Trung Cộng, CSVN và Mỹ, VNCH, ông ta cho BV lập căn cứ dọc biên giới Việt-Miên, cho BV xử dụng cảng Sihanoukville chở vũ khí đạn dược để đổi lại BV làm ngơ cho ông tiêu diệt Khmer đỏ (4)
Tướng Davidson (5) nói Sihanouk đu giấy giữa Trung Cộng, CSBV và Mỹ, cho BV đóng quân tại biên giới và xử dụng cảng Sihanoukville, rồi khuyến khích Mỹ oanh tạc các căn cứ BV tại biên giới với điều kiện giữ bí mật. Từ thập niên 60 tới 70, ông ngả về Trung Cộng và xa BV, những năm đầu 1970 dân Căm Bốt ghét Sihanouk, biến cố lật đổ ông Hoàng thay đổi cuộc chiến.
Phía CSBV tuyên truyền Mỹ giật dây Lon Nol lật đổ Sihanouk, một số người không thiện cảm với Mỹ cũng nghĩ như CS, sự thực không phải như vậy, đây là một biến cố hoàn toàn tự phát.
George Donelson Moss nói (trang 333) đây là một biến cố bất ngờ đối với cả Hà Nội, Hoa Thịnh Đốn.Tổng thống Nixon nói
“Cuộc đảo chính diễn ra khiến ta vô cùng ngạc nhiên, chúng ta không khuyến khích cũng chẳng biết trước tí gì về biến cố. Những kẻ cho rằng CIA kích động cuộc đảo chính cần biết rằng Mỹ không hề có một nhân viên tình báo nào tại Miên khi đó. Thật ra chúng tôi nghĩ có thể có cuộc đảo chính khi Sihanouk đi nghỉ mát” (6)
Tác giả John Prados (7) nói trong các hồi ký và hồ sơ giải mật không thấy một dấu hiệu có sự thông đồng (của Mỹ) và cho thấy Washington lấy làm ngạc nhiên khi cuộc đảo chính sấy ra.
CSBV thừa biết là Hành pháp Mỹ không muốn và không đủ khả năng giật dây cuộc đảo chính nhưng họ cứ la làng tố cáo Mỹ khích động để chúng có cớ tấn công chính phủ mới, chiếm Cam Pu Chia làm căn cứ địa.
Hành pháp Nixon không muốn làm như vậy vì họ đang lo rút quân khỏi Đông dương. Họ cũng không đủ khả năng làm đảo chính vì đang bị Quốc hội, phản chiến, truyền thông chống đối mạnh nhất là không có ngân khoản để giúp chính phủ mới. Nixon lúc này bị Quốc hội giới hạn cấp ngân khoản chiến tranh, họ muốn Mỹ phải rút bỏ Đông Dương.
Cuộc đảo chính ông Hoàng đưa Xứ Chùa Tháp tới cuộc chiến đẫm máu, những bi kịch kéo dài tới mười năm sau, kết thúc bằng cuộc diệt chủng núi xương sống máu. Nó lôi kéo CSBV, Hoa Kỳ và VNCH vào cuộc chiến lớn đưa tới phân hóa trầm trọng nội tình nước Mỹ, chưa bao giờ đất nước này bị chia rẽ đến thế.
Đầu thập niên 1960, dưới thời ông Diệm, Sihanouk thân Cộng hiềm khích với VNCH đã có lần cho tấn công tàn sát mấy ngàn người Việt tại biên giới. Chính phủ mới Lon Nol thù ghét CSVN cũng lại tiếp tục tàn sát, cáp zuồn người Việt tại Miên kinh hoàng hơn trước. Mấy năm sau, Khmer đỏ cũng lại tiếp tục tàn sát người Việt như Sihanouk và Lon Nol trước đây.
Cao Miên lấy đạo Phật làm quốc giáo thì họ phải hiểu rõ hơn ai hết ý nghĩa của thuyết nhân quả, gieo nhân nào thì hái quả nấy, hễ ai gieo gió thì người ấy gặt bão, hậu quả là Xứ Chùa Tháp đã bị chìm đắm trong địa ngục của Quỉ đỏ một thời gian dài.
© Trọng Đạt
————————————————-
Ghi chú:
(1) Henry Kissinger: White House Years chương XII The War Widens, trang 457- 475 The Overthrow of Sihanouk.
(2) Có thể xem thêm tiểu sử Sihanouk trong Wikipedia tiếng Anh, tiếng Việt
(3) Đây là lời kể của Kissinger, ông này nói không đúng, chưa có sử liệu nào xác định rõ miền Nam VN xưa là đất Miên.
(4) George Donelson Moss: Vietnam , An American Ordeal trang 333
(5) Phillip B. Davidson: Vietnam At War, The History 1946-1975 trang 624
(6) Richard Nixon: No More Vietnams trang 117-118
(7) John Prados: Viet Nam , The History of An Unwinnnable War 1945-1975, trang 363

9 tháng 4, 2016

31 bức ảnh về chiến tranh Việt Nam mà bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy

Chiến tranh Việt Nam, những hình ảnh ghi lại một thời bom đạn đã lấy đi xương máu của biết bao người con đất Việt. Những bức hình được chia sẻ trên mạng xã hội sau đây có thể cho bạn một cái nhìn ở góc độ khác về lịch sử. Trong sự đau thương và khốc liệt của chiến tranh, đâu đó vẫn hiện lên tình người ấm áp.
 
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)
(Ảnh qua ohay.tv)