18 tháng 12, 2019

Những ông ‘vua’ ngành thuốc tại Sài Gòn trước 1975


 Trong số những người thành công với nghề dược tại Sài Gòn trước đây, dược sĩ La Thành Nghệ là một khuôn mặt nổi bật, được nhiều người biết tiếng. Vốn người Triều Châu, sinh trong gia đình giàu có, La Thành Nghệ được du học bên Pháp và đậu bằng dược sĩ. Điểm qua những nhân vật giàu có, tiếng tăm thuộc ngành y dược thời đó còn có các dược sĩ Trần Văn Lắm, Nguyễn Cao Thăng, Nguyễn Thị Hai…
La Thành Nghệ được phong là ‘vua thuốc đỏ’, một sản phẩm rất tầm thường, giá trị thấp, nhưng được mọi giới ưa chuộng và rất phổ biến từ thành thị tới thôn quê. Khi chiến tranh càng ngày càng leo thang, nhu cầu sử dụng thuốc đỏ càng nhiều thì La Thành Nghệ được phép làm đại lý độc quyền phân phối thuốc đỏ, đem lại cho ông một nguồn lợi rất lớn, Ít ai nghĩ rằng với một thứ sản phẩm tầm thường, rẻ tiền như thuốc đỏ mà làm nên sự nghiệp kếch xù của La Thành Nghệ. Trước khi miền Nam thất thủ, những ai có dịp đi qua đường Tự Do chắc đã thấy Laboratoire La Thành, nằm giữa hai nhà hàng La Pagode và rạp Eden, Thuốc đỏ, tiếng Pháp gọi là mercure crome, một thứ dung dịch màu đỏ, dùng bôi lên các vết thương nhẹ để sát trùng. Thời đó, thuốc đỏ do Laboratoire La Thành sản xuất, được sử dụng trong các bệnh viện, các quân y viện, các bệnh viện dã chiến, các trung tâm y tế, các đơn vị quân y… và rất được dân chúng từ thành thị tới thôn quê ưa chuộng vì nó rẻ tiền mà lại hiệu nghiệm.

La Thành Nghệ còn nhập cảng các loại thuốc trụ sinh, một thứ thần dược trị các vết thương. Ngoài hai loại thuốc đỏ và trụ sinh, Laboratoire La Thành còn sáng chế một thứ pommade để trị bịnh phong tình. Bịnh này thường có mụn đỏ chung quanh háng và bộ sinh dục. Muốn điều trị chỉ cần xức pommade vào chỗ đó, sau khi rửa vết thương cho sạch bằng thuốc đỏ. Chỉ vài ba lần xức pommade, người bịnh cảm thấy dễ chịu, không ngứa rát và bình phục!..,thanh niên bị bịnh phong tình thường có mặc cảm không muốn đến bệnh viện hay đi bác sĩ tư để chữa trị. Họ mua thuốc pommade của dược sĩ La Thành Nghệ và tự chữa lấy. Nhờ biết được yếu tố tâm lý ấy, sản phẩm của La Thành Nghệ bán chạy như tôm tươi, khi trở nên giàu có, La Thành Nghệ sống thầm lặng, ít khoe khoang hay ăn chơi trác táng như một số nhà giàu khác. Ngược lại, dân ăn chơi Sài Thành, không ai không nghe tiếng hoặc biết đến ‘công tử’ Hoàng Kim Lân, con của ‘vua dây kẽm gai’ Hoàng Kim Quy.

Tôi được nghe, có lần tại vũ trường Maxim, ông Hoàng Kim Lân đứng lên giữa sân khấu tuyên bố: “Hôm nay là ngày sinh nhựt của tôi. Tôi xin đãi tất cả quý vị có mặt tại đây. Quý vị tha hồ ăn uống bất cứ món gì mà không phải trả tiền”. Tiếp theo sau đó, rượu sâm banh chảy ra như suối và khách ăn chơi vỗ tay như sấm để tán thưởng sáng kiến độc đáo của mạnh thường quân Kim Lân!, trở lại chuyện La Thành Nghệ, ông là người chỉ giao thiệp với giới nhà giàu và thượng lưu, trí thức ở Sài Gòn. Tuy sống trên đống vàng, nhưng ông không phung phí tiền bạc để mang tai tiếng như nhiều người khác. Năm 1967, La Thành Nghệ ra ứng cử Nghị sĩ Quốc Hội, chung liên danh Bạch Tượng với Dược sĩ Trần Văn Lắm và đắc cử. Ông Trần Văn Lắm có lúc làm Phó chủ tịch Thượng Viện và Tổng trưởng Ngoại Giao dưới thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, tuy nhiên, danh nghĩa Nghị sĩ Quốc Hội chỉ để trang trí cho La Thành Nghệ hơn là nghề hái ra liền như viện bào chế La Thành của ông. Do đó, trong thời gian tham chính, dư luận hay báo chí không nghe ông tuyên bố hay có hành động chính trị nào… Ông cũng tránh xa các áp-phe làm ăn của các ông tai to mặt lớn khác.

Dược sĩ La Thành Nghệ cuối cùng lại là nạn nhân của Tổng Thống Trần văn Hương, người đã gây khó khăn cho những người di tản bằng sắc lệnh cấm công chức, sĩ quan và thanh niên trong tuổi quân dịch ‘di tản’ vào những ngày cuối cùng của Sài Gòn. La Thành Nghệ vượt biển quá sớm, bị hải quân VNCH bắt đem về đất liền, ở lại Sài Gòn và cuối cùng được ‘chính quyền cách mạng’ cho đi học tập cải tạo.
Một dược sĩ khác cũng thành công và nổi tiếng nhờ thứ thuốc ban nóng, cảm ho của trẻ em là ông Nguyễn Chí Nhiều. Ông Nhiều lập Nguyễn Chí Dược Cuộc, sản xuất vài thứ thuốc thông dụng trong đó nổi bật nhất là Euquinol, thuốc ban nóng dành cho trẻ em. Thuốc Euquinol trở nên quen thuộc đối với các bà nội trợ từ thành thị đến nông thôn. Hễ ai có con nóng đầu, người nhà hay lối xóm liền thúc hối… mua thuốc Euquinol.
Euquinol được bào chế theo dạng thuốc Tây bằng bột màu trắng, khác với hình dạng gói thuốc cao đơn hoàn tán của các tiệm thuốc Bắc. Euquinol của Nguyễn Chí Nhiều vừa rẻ tiền, vừa hiệu nghiệm, lại được quảng cáo sâu rộng, được bày bán trong các tiệm thuốc tây và cả các tiệm tạp hoá nên dân chúng mua dễ dàng. Dần dần, thuốc ban Euquinol đánh bại thuốc “Ngoại cảm tán” của nhà thuốc Nhị Thiên Đường vốn độc chiếm thị trường mấy thập niên trước đó.
Ông Nguyễn Chí Nhiều là người có sáng kiến, biết lợi dụng các cuộc tranh tài thể thao để quảng cáo sản phẩm của mình. Hễ có cuộc đua xe đạp đường trường nào là cũng có các xe thuốc Euquinol đi kèm. Sau này ông trở thành ‘ông bầu’ của đoàn cua-rơ mang tên Euquinol. Đoàn xe đạp này là một ê-kíp gồm những tay đua do chính ông tuyển chọn và tài trợ để tập dượt và tranh tài trong các cuộc đua Vòng Cộng Hoà từ năm 1956 trở đi.
Đội xe đạp Euquinol là một đội đua chuyên nghiệp, dược sĩ Nguyễn Chí Nhiều phát lương để họ tập dợt. Chính ông bỏ tiền ra mua xe đạp và cung cấp phụ tùng. Khi đã trở thành cua-rơ của đội họ khỏi bận tâm lo sinh kế, ngoài chuyện cố tâm luyện lập. Vì thế đội Euquinol thường lập được nhiều thành tích, chiếm các giải đồng đội và cá nhân trên các đường đua.
Những nhà thuốc tây xưa nhất ở Sài Gòn phải kể đến các tiệm Pharmacie Mus của ông Beniot, Pharmacie Sohrenne, Pharmacie Normale, Pharmacie de France… Đó là những nhà thuốc Tây mà chủ nhân đều là dược sĩ người Pháp. Nhà thuốc nào cũng có phòng bào chế riêng để chế thuốc theo toa bác sĩ.
Nhà thuốc của người Việt có Cường Lắm ở góc đường Mac Mahon (Công Lý) và đường Bonard (Lê Lợi), chủ nhân là dược sĩ Trần Văn Lắm. Dưới thời Nguyễn Văn Thiệu, ông Lắm trở thành Thượng nghị sĩ và Ngoại trưởng. Ngoài ra còn có Pharmacie Lý, chủ nhân là dược sĩ Nguyễn Thị Lý; Pharmacie Dương Hữu Lễ của dược sĩ Dương Hữu Lễ ở đường Rue d’Espagne (Lê Thánh Tôn) và Pharmacie Nguyễn Văn Cao ở góc đường Chợ Mới và đường Bonard.
Trong các ngành công kỹ nghệ của Việt nam Cộng hòa (1954-1975), nhiều người cũng biết làm giàu bằng cách ‘chuyên môn hóa’ việc buôn bán một mặt hàng thông dụng, rẻ tiền nhưng có lợi tức lớn lao ít ai ngờ. Thời thế đã giúp họ làm giàu nhanh chóng nhưng cũng không loại trừ khả năng họ phải ‘đóng thuế’ cho phía bên kia để được yên ổn làm ăn. Như vậy, họ phải chịu hai đầu thuế của Cộng hòa và Việt cộng. Tuy nhiên, những chi phí này được tính vào giá thành sản phẩm và thiệt thòi là… người tiêu dùng.
Trong số những nhân vật giàu có này phải kể đến ‘Vua vương quốc Chợ Lớn’ là Bang trưởng Triều Châu Trần Thành; ‘Vua sắt thép, dệt may’ Lý Long Thân; ‘Vua lúa gạo’ Trần Thành, Mã Hỉ và Lại Kim Dung; ‘Vua nông cụ’ Lưu kiệt, Lưu Trung; ‘Vua ngân hàng’ Nguyễn Tấn Đời và ‘Vua bột giặt Viso’ Trương Văn Khôi.
Giới Đông y cũng có những tên tuổi lừng lẫy với các loại thuốc gia truyền, rẻ tiền nhưng lại hiệu nghiệm. Người ta thường nhắc đến Võ Văn Vân, người sáng lập nhà thuốc mang cùng tên với các sản phẩm như “Tam tinh hải cẩu bổ thận hoàn” trị bịnh yếu sinh lý, tráng dương, bổ thận, dùng cho đàn ông để tăng cường sinh lực và “Bá đả quân sơn tán” trị bịnh đau lưng, nhức mỏi rất công hiệu.
Hồi đó, các xe quảng cáo của nhà thuốc Võ Văn Vân còn khoe rằng “Bá đả quân sơn tán” là thuốc dùng khi bị té, đặc biệt là các võ sĩ, người lao động chân tay như làm ruộng, làm công (vác lúa, chèo ghe, móc mương, bồi vườn…) đều ‘phải’ uống thuốc này, vì nó ‘hiệu nghiệm như thuốc tiên’!
Vào khoảng những năm 1955-1957, các nhà thuốc thường tổ chức những xe thuốc đi bán dạo ở miền quê. Mỗi xe có người làm trò vui như xiếc, ảo thuật, phụ họa với dàn kèn trống để thu hút khán giả. Xen kẽ vào những trò vui ấy là màn bán thuốc. Người nhà quê lúc ấy gọi các xe bán thuốc dạo là “Sơn Đông Mãi Võ”.
Tuy là đông y sĩ, nhưng ông Võ Văn Vân lại cho các con qua Pháp du học các ngành y và dược. Trong số các con của Võ Văn Vân, có ông Võ Văn Ứng, từng nổi tiếng là Mạnh Thường Quân của túc cầu Sài Gòn qua cái tên thân mật là ‘Bầu Ứng’. Ông Võ Văn Ứng còn làm Tổng giám đốc Nam Đô Ngân hàng và Khách sạn Nam Đô.
Một nhà thuốc đông y khác, cũng nổi tiếng cùng thời, là nhà thuốc Võ Đình Dần ở Chợ Lớn. Thuốc ích khí bổ thận “Cửu Long Hoàn”, chuyên trị mệt mỏi, lao tâm lao lực, được quảng cáo sâu rộng, nên bán rất chạy. Thời đó, hầu như ai cũng thuộc lòng câu: “Một viên Cửu Long hoàn bằng 10 thang thuốc bổ” của nhà thuốc Võ Đình Dần.
Nhà thuốc này cũng có một đội ngũ chuyên môn đi bán dạo khắp thôn quê, gồm 5 xe cam nhông Sơn Đông Mãi Võ. Theo nhà văn Hồ Trường An, thuốc Cửu Long hoàn được các người lao tâm, lao lực, thức đêm, làm việc nhiều như các vũ nữ ở các vũ trường, các nghệ sĩ sân khấu cải lương, các tay cờ bạc… tóm lại những kẻ ‘lấy ngày làm đêm’, đều dùng Cửu Long hoàn, để phục hồi sức lực, nhà thuốc Nhành Mai ở Phú Nhuận, nổi tiếng với món thuốc dưỡng thai hiệu Nhành Mai. Ngoài ra, món thuốc dán hiệu Nhành Mai, trị mụn nhọt rất hay. Không cần phá miệng mụn nhọt, chỉ cần trét thuốc vào miếng vải cắt tròn, lớn cỡ đồng xu, ở giữa có đục lỗ, rồi dán lên mụt nhọt. Chừng vài ngày sau, gỡ miếng vải ra thì mủ và cùi nhọt… lòi ra.
Hồi Sài Gòn còn xe điện chạy theo lộ trình Galliéni (Trần Hưng Đạo) Sài Gòn-Chợ Lớn và Boulevard de la Somme (Hàm Nghi) đến chợ Tân Định, hai bên thành xe điện có nhiều bảng quảng cáo như: Một viên Cửu Long Hoàn bằng 10 thang thuốc bổ của nhà thuốc Võ văn Vân, Thuốc xổ Nhành Mai, Dầu khuynh diệp bác sĩ Bùi Kiễn Tín, Kem đánh răng Hynos ‘cha-cha-cha’ mang hình anh Bảy Chà ‘đen như cột nhà cháy với hàm răng trắng bóc’, thuốc lá Jean Bastos và thậm chí cả… Hòm Tôbia ‘danh tiếng nhất’.

Nhà thuốc Đại Quang do người Tàu ở Chợ Lớn cũng nổi tiếng với món thuốc “Huyết Trung Bửu”, loại thuốc điều hoà kinh nguyệt dành cho phụ nữ. Thuốc này từ khi xuất hiện trên thị trường đã đánh bạt “Nữ Kim Đơn” vì nhờ quảng cáo mạnh trên các báo chí. Đã vậy, hãng Đại Quang cũng như nhà thuốc Ông Tiên (của Nguyễn Hoàng Hoạnh), cứ mỗi năm cho ra cuốn sách quảng cáo, có truyện ngắn, thơ, có chuyện lịch sử, bài ca vọng cổ… để giới thiệu các thứ thuốc của hãng mình cho khắp đồng bào Lục tỉnh.

Nhà thuốc Đại Từ Bi cũng có xe cam nhông bít mui, bán dạo khắp Nam Kỳ, từ thành thị đến thôn quê, đặc biệt là các tài tử biết đờn ca vọng cổ, biết đóng tuồng cải lương, hát giúp vui mỗi khi xe neo ở một địa điểm nào đó để bán thuốc. Tuồng tích phần nhiều kể chuyện Ông Trương Tiên Bửu, Kim Vân Kiều, Cánh Buồm Đen…
Trước năm 1954, dân Nam Kỳ, nhứt là dân ‘thủ cựu’ ở thị thành và dân ở các vùng nửa chợ nửa quê, dân miệt vườn… đều chê thuốc Tây nóng nên không dùng. Cũng vì thế các tiệm thuốc Bắc mọc lên như nấm.
Người khách trú, một khi mở tiệm thuốc, ngoài các dược thảo, dược phẩm, còn bán thêm các loại cao đơn hoàn tán do các nhà thuốc Việt Nam bào chế, lại thêm các loại thuốc đặc chế từ bên Tàu như Thượng Hải, Hồng Kông, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây nhập cảng vào. Thị trường thuốc tây, thuốc nam, thuốc bắc tại Sài Gòn và cả miền Nam phát triển mạnh. ‘Trăm hoa đua nở, trăm nhà… uống thuốc’!

Bên cạnh mỹ phẩm như Bạch ngọc cao, một loại kem xức cho da mặt mịn màng, còn có Bóng nha duyên dùng để chà răng cho trắng. Bóng nha duyên xúc miệng không thơm bằng phấn chà răng của Tây đặc chế như Kool, Gibbs, nên bán không chạy. Dân miệt vườn thì dùng xác cau khô để chà răng, chưa quen với việc dùng bàn chải, đến khi kem đánh răng Leyna xuất hiện với hình nữ minh tinh Kim Vui cười phô hàm răng trắng đều, và sau đó là kem Hynos của ông Vương Đạo Nghĩa (1965) với người đàn ông da đen cười răng trắng nhởn, thì Kool, Gibbs, Perlon bị cáo chung. Bóng nha duyên cũng rút lui không kèn không trống, điểm nổi bật của ông chủ trẻ Vương Đạo Nghĩa là nghệ thuật quảng cáo cho kem đánh răng Chú Chà Và Hynos sau khi anh được thừa hưởng gia tài từ một ông chủ người Mỹ có vợ Việt. Hình ảnh chú Hynos xuất hiện hầu như khắp hang cùng ngõ hẻm Sài Gòn. Bên cạnh đó, điệp khúc Hynos cha cha cha… trên đài phát thanh và trên chiếc deux chevaux (2CV) bán hàng tại các chợ Sài Gòn, người ta nói ông chủ Hynos đã không ngần ngại trích ra 50% lợi nhuận cho việc quảng cáo. Có thể nói, đây là một tỷ lệ quảng cáo đột phá và đầy ấn tượng trong bối cảnh nền thương mại của Sài Gòn xưa đang trên đường hội nhập vào thế giới tư bản.

16 tháng 12, 2019

Lịch sử Quân đội Việt Minh - Quân đội nhân dân Việt Nam (theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944. Lễ thành lập được tổ chức tại khu rừng Sam Cao nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám thuộc Châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng).

Ban đầu gồm 34 chiến sĩ trong đó có 3 nữ với 34 khẩu súng các loại do Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung; Hoàng Sâm được chọn làm đội trưởng; Xích Thắng, tức Dương Mạc Thạch, làm chính trị viên, Hoàng Văn Thái phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến; Lâm Cẩm Như, tức Lâm Kính, phụ trách công tác chính trị; Lộc Văn Lùng tức Văn Tiên làm quản lý.

Ngày 15 tháng 4 năm 1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp tại Hiệp Hòa, Bắc Giang quyết định Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sáp nhập với lực lượng Cứu quốc quân do Chu Văn Tấn chỉ huy, đổi tên thành Giải phóng quân, lực lượng quân sự chính của Việt Minh để giành chính quyền năm 1945. Lễ hợp nhất được tổ chức ngày 15 tháng 5 năm 1945 tại rừng Thàn Mát, xã Định Biên, huyện Định Hóa (Thái Nguyên).

Trận đánh đầu tiên của đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quântrận Phai Khắt, Nà Ngần ngày 2526 tháng 12 năm 1944.

Ngày 16 tháng 8 năm 1945, trong Cách mạng Tháng Tám, khi tiến đánh Thái Nguyên, quân số Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã khoảng 450 người, biên chế thành một chi đội (tiểu đoàn), do Lâm Cẩm Như làm chi đội trưởng. Sau 7 ngày, quân Nhật ở Thái Nguyên mới chịu chấp nhận giao nộp vũ khí cho Giải phóng quân.

Kháng chiến chống Pháp

Từ năm 1945, Giải phóng quân của Việt Minh là lực lượng nòng cốt quân đội quốc gia của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tháng 11 năm 1945 Việt Nam giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn, còn gọi là Vệ quốc quân. Lúc này quân số khoảng 50.000 người, tổ chức thành khoảng 40 chi đội ở hầu hết các tỉnh Bắc BộTrung Bộ. Một số chi đội đã "Nam tiến" để giúp quân dân miền Nam chống lại quân Pháp đang tấn công trở lại ở Nam Bộ. Riêng tại Bắc Bộ, Nam Trung Bộ, Nam Bộ và cả Tây Nguyên cũng có những tổ chức vũ trang do các giáo phái hoặc các đảng phái quốc gia thành lập và lãnh đạo chống Pháp, một số hợp tác với Việt Minh, một số chống Việt Minh.
Ngày 22 tháng 5 năm 1946, theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch nước, Vệ quốc đoàn đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam,[3] được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu. Quân đội tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội... Cùng với việc xây dựng quân đội quốc gia, chính phủ đặc biệt coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, lực lượng bán vũ trang, bao gồm: dân quân ở nông thôn và tự vệ ở đô thị. Lực lượng này tồn tại trên toàn quốc, nhiều đội du kích nổi tiếng và còn dư âm đến tận bây giờ, tiêu biểu như du kích Nha Trang, du kích Ba Tơ, Bến Tre... Đến cuối năm 1946, có khoảng 1 triệu dân quân tự vệ đã được tổ chức và huấn luyện quân sự.[4] Ngoài lực lượng Quân đội Quốc gia Việt Nam, tại miền Nam thời điểm này còn có các đơn vị quân sự khác do các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên và các đảng phái quốc gia như Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng chỉ huy. Trong thời kỳ 1945 – 1950, có những người nước ngoài đã tình nguyện tham gia chiến đấu và các ngành khác như chỉ huy, tham mưu, kỹ thuật, huấn luyện, quân y, quân giới, tuyên truyền... được gọi là Chiến sĩ "Việt Nam mới". Nhiều người được giao trọng trách và phong quân hàm sĩ quan cao cấp. Họ đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng quân đội Việt Nam trong thời kì non trẻ.
Năm 1949, hoàn thiện tổ chức tiểu đoàn bộ binh. Đơn vị này gồm 3 đại đội bộ binh, một đại đội hỏa lực mạnh. Có súng máy hạng nặng và súng cối. Hầu hết các đơn vị bộ đội chủ lực được thành lập tại Việt Bắc, và từ sau năm 1949, nhiều đơn vị được huấn luyện tại các doanh trại của Trung Quốc ở Vấn Sơn (Wenshan), Long Châu (Long Zhou), Tĩnh Tây (Jing Xi) và Tư Mao (Szu Mao). Họ nhận được các trang thiết bị tốt hơn, các tuyến tiếp vận từ Trung Quốc vào Bắc Kỳ được phục vụ bằng một đội xe tải lên đến gần 600 chiếc vào cuối năm 1953. Bộ đội chủ lực được huấn luyện kỹ lưỡng bởi các chuyên viên huấn luyện giàu kinh nghiệm của Trung Quốc, 261 chuyên viên cũng vượt biên giới vào Bắc Kỳ vào tháng 7 năm 1950 để thực hiện nhiệm vụ cố vấn. Gan dạ và được chỉ huy tốt, bộ đội chủ lực tạo thành một đạo quân vận động quy mô lớn dưới quyền trực tiếp của tướng Giáp và các cấp phó của ông. Đội hình chủ lực đầu tiên là Liên Trung đoàn 308 được thành lập vào tháng 8 năm 1949, bao gồm các trung đoàn 308, 92 và 102. Đến cuối năm 1949, nó trở thành Đại đoàn 308, được bổ sung thêm các trung đoàn 174 và 209, từng được trang bị và huấn luyện tại Trung Quốc. Các sư đoàn bộ đội chủ lực có một phiên chế gồm 3 trung đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn pháo binh; trong đó mỗi trung đoàn lại bao gồm 4 tiểu đoàn bộ binh và một đơn vị vũ khí hạng nặng (thông thường là 4 khẩu pháo 75mm, 4 khẩu cối 120mm). Các đơn vị hỗ trợ phát triển chậm chạp, bởi vì hầu hết pháo và cối hạng nặng đều được giữ lại để dành cho đội hình song song của đại đoàn "công pháo" được đánh số là 351. Quân số của sư đoàn ban đầu ở mức khoảng 12.000 người, và sau này được thiết đặt ở mức khoảng 10.000 người. Mỗi tiểu đoàn 800 người có 20 khẩu súng máy, 8 khẩu cối 82mm, 3 khẩu súng không giật 75mm và một số súng ba-dô-ka thêm vào cho các vũ khí loại nhỏ.
Đầu năm 1950, bộ đội chủ lực đã có những trung đoàn hoàn chỉnh thành thạo việc đánh công kiên. Một vài trung đoàn trong số này còn tồn tại đến nay.[5] Cũng thời gian này, để chuẩn bị thời phản công, các sư đoàn quan trọng được thành lập, đến nay vẫn là khối cơ động chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhóm các đơn vị thuộc khối quân cơ động trung ương (thành lập 1950–1951) gồm các đại đoàn 304, 308, 312, 316, 320, 351. Sau này có thêm các đơn vị pháo binh, phòng không, pháo phản lực trong đại đoàn 351 như trung đoàn 237 (cối lớn), trung đoàn 367 (phòng không 37mm). Sư đoàn 351 còn được gọi là bộ binh nặng, công pháo (công binh, pháo binh). Đại đoàn Bình Trị Thiên (sư 325) do Trần Quý Hai chỉ huy được thành lập ở miền Trung.
Từ giai đoạn 19481949, một lực lượng bản xứ đã được thành lập trong chiến lược Da vàng hóa chiến tranh, cũng mang tên Quân đội Quốc gia Việt Nam. Quân đội này được thành lập dựa trên Hiệp định quân sự giữa Pháp và chính phủ Quốc gia Việt Nam (trực thuộc Liên hiệp Pháp) bằng cách đặt một số đơn vị quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của chính quyền Bảo Đại. Tuy nhiên, quyền quyết định tối cao trên chiến trường vẫn thuộc về người Pháp.[6] Quân đội Quốc gia Việt Nam tham chiến cùng quân đội Pháp chống lại quân đội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và đây chính là tiền thân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa sau này.
Để tránh nhầm lẫn với quân đội của Bảo Đại, bắt đầu từ giai đoạn này quân đội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dần chuyển sang sử dụng danh xưng Quân đội nhân dân Việt Nam. Mặc dù vậy danh xưng chính thức trên các văn bản hành chính vẫn sử dụng tên gọi Quân đội Quốc gia Việt Nam.
Đến cuối năm 1951, Quân đội nhân dân Việt Nam đã thành lập được các sư đoàn sau[7]:
Đại đoàn 304 (gồm các trung đoàn 9, 57, 66 và tiểu đoàn pháo binh 345); Đại đoàn 308 (gồm các trung đoàn 36, 88, 102); Đại đoàn 312 (gồm các trung đoàn 141, 165, 209 và tiểu đoàn pháo binh 154); Đại đoàn 316 (gồm các trung đoàn 98, 174, 176 và đại đội vũ khí hạng nặng 812); Đại đoàn 320 (gồm các trung đoàn 48, 52, 64). Vào cuối năm đó, Đại đoàn 325 cũng được thành lập – ít nhất về mặt hành chính – từ các trung đoàn 18, 95 và 101 ở khu vực Thừa Thiên của Trung Kỳ.
Ngoài ra, còn có các trung đoàn độc lập tại Bắc Kỳ là: 148 (vùng trung du), 42, 46 và 50 (vùng châu thổ sông Hồng), 238 và 246 (bảo vệ các an toàn khu tại Việt Bắc); tại Trung Kỳ có các trung đoàn độc lập là 96, 108 và 803; còn tại Nam Kỳ có Trung đoàn Đồng Nai (các tiểu đoàn 301, 302, 303 và 304), Trung đoàn Đồng Tháp Mười (các tiểu đoàn 307, 309 và 311, hoạt động tại vùng Đồng Tháp Mười), Trung đoàn 300 (khu vực Phú Mỹ), Trung đoàn 950 (cho các chiến dịch đánh Sài Gòn), Trung đoàn Cửu Long (các tiểu đoàn 308, 310 và 312, hoạt động tại vùng Trà Vinh) và Trung đoàn Tây Đô (các tiểu đoàn 402, 404 và 406, hoạt động tại vùng Cần Thơ).
Đến năm 1953, các đơn vị của Đại đoàn Công pháo 351 gồm có: Trung đoàn Công binh 151, Trung đoàn vũ khí nặng 237 (cối 82mm), Trung đoàn pháo binh 45 (lựu pháo 105mm), Trung đoàn pháo binh 675 (sơn pháo 75mm và cối 120mm), và Trung đoàn phòng không 367 (pháo phòng không 37mm và súng máy cỡ đạn 50cal).
Quân đội nhân dân Việt Nam phất cao lá cờ chiến thắng trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
Các nguồn tư liệu đưa ra con số khác nhau về quân số của Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, nhưng vào đầu năm 1947, họ có tổng cộng khoảng 50.000 bộ đội chủ lực, 30.000 bộ đội địa phương và 50.000 dân quân du kích. Vào mùa hè năm 1950, khoảng 25.000 bộ đội địa phương được nâng cấp lên thành bộ đội chủ lực, đem lại cho tướng Giáp khoảng 60 tiểu đoàn chủ lực cho chiến dịch đầu tiên của ông. Những con số ước tính vào các năm kế tiếp như sau: đến cuối năm 1951 có 110.000 bộ đội chủ lực, từ 200.000 đến 250.000 bộ đội địa phương và dân quân du kích; mùa hè năm 1952 có 110.000 bộ đội chủ lực, 75.000 bộ đội địa phương và 120.000 dân quân du kích; mùa xuân năm 1953 có 125.000 bộ đội chủ lực, 75.000 bộ đội địa phương và 250.000 dân quân du kích[8].
Năm 1954, với thắng lợi của trận Điện Biên Phủ, đây là đội quân đầu tiên của một đất nước thuộc địa đánh bại một quân đội thực dân cũ trong lịch sử thế giới của thế kỷ XX. Sau năm 1954, bộ phận Quân đội nhân dân Việt Nam tại miền Nam (dưới vĩ tuyến 17) cùng với thành viên Việt Minh (khoảng 140 ngàn người) tập kết về miền bắc Việt Nam, và được chính quy hóa. Cuối chiến tranh, Quân đội nhân dân Việt Nam có khoảng 24 vạn quân chủ lực và gần 1 triệu du kích.
Thiếu tá Bi-gia, đã có kinh nghiệm chiến trường chín năm liền ở Đông Dương, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ từ lúc xây dựng cứ điểm đến khi đầu hàng, đã bày tỏ sự kính trọng của mình đối với Quân đội nhân dân Việt Nam: "Tôi đã thấy họ khởi sự từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau đó, tháng này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các nhóm nhỏ thành trung đội, từ các trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoànlữ đoàn và cuối cùng là thành các sư đoàn đủ quân. Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể nói với các vị rằng họ đã trở thành những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế giới. Những người lính dẻo dai này có thể đi bộ 50 km trong đêm tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra trận. Theo quan điểm của tôi, họ đã trở thành những người lính bộ binh ngoại hạng và họ đã đánh bại được chúng ta".[9]
Ngày 24 tháng 9 năm 1954, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Quyết định số 400/TTg quy định "Quân đội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ nay gọi thống nhất là: Quân đội nhân dân VIỆT NAM". Danh xưng này được sử dụng cho đến ngày nay.

Kháng chiến chống Mỹ

Sau 1954, Hoa Kỳ bắt đầu nhảy vào Đông Dương thế chân Pháp. Kế thừa chính sách Da vàng hóa chiến tranh của Pháp, Hoa Kỳ hỗ trợ chế độ Việt Nam Cộng hòa từ chối thi hành hiệp định Geneve, nhằm chia cắt lâu dài Việt Nam và ngăn chặn đến cùng sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản. Với mục tiêu "đánh đổ sự thống trị thực dân mới của Mỹ", ngày 15 tháng 2 năm 1961, tại Chiến khu Đ, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, gọi tắt là Giải phóng quân, được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Trong thời kỳ đầu, hầu hết quân Giải phóng là người miền Nam, về sau được tăng viện thêm bộ đội hành quân từ miền Bắc vào.
Du kích Nam bộ của Quân đội nhân dân Việt Nam
Người Mỹ thường phân biệt Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (mà Mỹ gọi là "Việt Cộng", hoặc vi-xi) với Quân đội nhân dân Việt Nam (mà Mỹ gọi là "Quân đội Bắc Việt Nam") và cho rằng đây là hai quân đội khác nhau. Nhưng thực ra, Quân Giải phóng miền Nam là một bộ phận không tách rời của Quân đội nhân dân Việt Nam[10] Cũng như cuộc chiến chống Pháp trước đó, cuộc chiến chống Mỹ của người Việt Nam ngay từ ban đầu đã mang tính chất toàn quốc, với sự tham chiến của cả ba miền. Người miền Nam đã trực tiếp đánh Mỹ ở tuyến đầu, còn miền Bắc chi viện và bổ sung nhân lực cho chiến trường miền Nam. Trong hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam đóng ở chiến trường miền Nam và Campuchia, Lào luôn tồn tại tỷ lệ lớn bộ đội có lý lịch quê quán ở miền Nam. Trong hàng ngũ du kích, bộ đội địa phương (chia thành các "huyện đội, tỉnh đội"), tỷ lệ người miền Nam chiếm đại đa số. Trong suốt chiến tranh, nhân dân cả ba miền Việt Nam luôn đoàn kết, ủng hộ và là hậu phương to lớn tiếp sức cho Quân đội nhân dân Việt Nam chống lại Hoa Kỳ. Chính người dân miền Nam đã đóng góp hàng trăm nghìn chiến sĩ cho Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng như chịu những hy sinh lớn nhất với 29.220 trong số 44.253 Bà mẹ Việt Nam anh hùng (chiếm tỷ lệ 2/3) là người miền Nam,[11] huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam (cũng thuộc miền Nam) là huyện có nhiều liệt sĩ nhất Việt Nam với 18.773 người.[12] Công trình tiêu biểu về sự can trường của người dân miền Nam chống Mỹ chính là địa đạo Củ Chi, chỉ cách Sài Gòn 70 km; và nhân dân huyện Củ Chi cũng đã có 10 nghìn thanh niên (cả nam và nữ) hy sinh khi chiến đấu trong hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam từ năm 1955 đến ngày 28/4/1975.
Bộ đội vượt Trường Sơn vào miền Nam.
Chiếc võng Trường Sơn
Về mặt chính trị và lãnh đạo, Quân Giải phóng miền Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam là một nhưng về pháp lý đây là hai đội quân độc lập. Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có lực lượng xuất thân từ mọi miền Việt Nam, không có gì phân biệt về vùng miền, tổ chức, chỉ huy. Nguồn gốc của Quân Giải phóng là lực lượng bán vũ trang của Quân đội nhân dân Việt Nam đóng ở miền Nam Việt Nam (không bị buộc phải tập kết theo Hiệp định Geneva 1954), kết hợp cả bộ phận tăng viện từ miền Bắc cũng như chiêu mộ những người chống Mỹ tại miền Nam, tạo thành lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Cán bộ, chỉ huy và chiến sĩ có cả giọng nói Bắc và Nam. Quân đội nhân dân Việt Nam khẳng định họ là lực lượng đại diện cho toàn dân tộc Việt Nam chứ không chỉ riêng vùng miền nào.
Với mục tiêu "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào",[13] Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã liên tiếp làm phá sản 3 chiến lược chiến tranh của Mỹ, bất chấp việc Mỹ vào lúc cao điểm đã huy động hơn một nửa lực lượng quân đội cho chiến trường Việt Nam. Sau nhiều năm sa lầy và chịu những tổn thất lớn về người và của, Mỹ buộc phải rút quân khỏi Việt Nam bằng việc ký kết hiệp định Paris năm 1973.[14] Mất đi sự tham chiến của quân đội Mỹ và viện trợ quân sự dồi dào, chỉ 2 năm sau, hơn 1 triệu quân Việt Nam Cộng hòa cũng bị Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh tan chỉ sau vỏn vẹn 55 ngày đêm của chiến dịch Mùa Xuân 1975. Đây là lần đầu tiên và cũng là duy nhất cho tới nay, quân đội Mỹ phải chấp nhận thất bại trong một cuộc chiến tranh.
Tướng Lindsey Kiang là một nhà sử học Mỹ có nhiều năm công tác tại Việt Nam. Ông nhận xét: Trong mắt nhiều lính Mỹ, bộ đội Việt Nam là những người có kỷ luật, chiến đấu thông minh và rất gan dạ. Ông nói[15]:
Đã gần 50 năm kể từ khi những người lính Mỹ đặt chân đến Việt Nam. Đối với nước Mỹ, đó là khởi đầu của một cuộc chiến dài, cay đắng và không nhận được nhiều sự ủng hộ. Đối với người dân Việt Nam, cuộc chiến còn tàn phá khủng khiếp hơn, nhưng cuối cùng họ đã thắng và giành được độc lập, thống nhất, điều mà họ khao khát đã quá lâu rồi.
Tất cả những điều tôi đọc, tôi nghe được từ họ đều toát lên một sự tôn trọng dành cho các cựu chiến binh Việt Nam, bất kể đó là Giải phóng quân của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam hay quân chính quy từ miền Bắc vào. Những nhận xét đó thường là: Bộ đội Việt Nam thông minh, tiết tháo, có kỹ năng và lòng quyết tâm. Họ cũng là những người dũng cảm tuyệt vời trước hỏa lực khủng khiếp của pháo binh và không quân Mỹ. Nhiều cựu chiến binh Mỹ thường nhắc lại với niềm cảm phục sâu sắc khả năng chống đỡ của đối thủ dưới làn đạn mà những trận rải thảm B-52 là ví dụ điển hình.
Ở miền Nam, lính Mỹ cũng đánh giá cao bộ đội của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Mặc dù có số lượng và hỏa lực áp đảo, có nguồn lực dồi dào và khả năng di chuyển cao nhưng lính Mỹ và đồng minh luôn vấp phải những khó khăn khi đối đầu với đối thủ, những người được quyết định đánh khi nào. Có thể thấy rằng, những người lính dũng cảm này đã tận dụng được yếu tố bất ngờ để giành chiến thắng trong những tình thế ngặt nghèo nhất
Miền Trung Việt Nam là nơi những đội quân tinh nhuệ nhất của quân đội Mỹ đối đầu với quân chính quy Bắc Việt Nam... một trung sĩ lính thủy đánh bộ nói với bạn tôi rằng: “Thưa ngài, lính Bắc Việt Nam đánh giỏi như chúng ta". Nên biết rằng, lính thủy đánh bộ Mỹ là những chiến binh ưu tú nhất, được chọn từ bộ binh sang. Đó quả là một lời khen ngợi đối thủ. “Họ rất dũng cảm, rèn luyện tốt và có tinh thần chiến đấu cao" - Anh ấy nói.
Do phải chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn hỏa lực mạnh, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tập trung phát triển các chiến thuật bộ binh phù hợp với số vũ khí hạn chế có trong tay và đúc kết kinh nghiệm thu được trong quá trình chiến đấu. Kết quả là Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã có lực lượng bộ binh hạng nhẹ được coi là một trong những lực lượng thiện chiến hàng đầu trên thế giới. Trong một cuộc khảo sát sau cuộc chiến với các sĩ quan Hoa Kỳ từng phục vụ trong chiến tranh Việt Nam, 44% đánh giá Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là "thiện chiến và gan góc". Một sĩ quan nhận xét "Có một khuynh hướng đánh giá thấp đối thủ. Trong thực tế, họ là địch thủ giỏi nhất mà chúng ta từng phải đối mặt trong lịch sử".[16]
Nhờ sự kiên trì xây dựng từng bước lực lượng cũng như viện hỗ trợ của các nước xã hội chủ nghĩa, năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam với 1,26 triệu quân chủ lực và địa phương, đứng thứ tư thế giới về số lượng (sau Liên Xô, Trung Quốc, Hoa Kỳ) và tương đương với các nước Đông Nam Á khác cộng lại, cùng với hàng triệu dân quân, du kích, tự vệ, so sánh với dân số Việt Nam lúc đó đứng hàng 15 trên thế giới. Quân đội cũng được tổ chức và xây dựng thành những quân đoàn chủ lực cơ động mạnh. Năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam có 4 quân đoàn chủ lực mang số thứ tự 1, 2, 3 và 4, gần 30 sư đoàn bộ binh, 40 trung đoàn pháo...

Chiến tranh biên giới (1975–1989)

Quân đội Việt Nam tiến vào giải phóng Phnom Penh năm 1979
 
Năm 1975, đất nước Việt Nam thống nhất. Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam hợp nhất thành Quân đội nhân dân Việt Nam. Do yêu cầu tình hình chính trị - quân sự trên bán đảo Đông Dương đặc biệt là cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ và cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc chống lại sự xâm lược của Trung Quốc năm 1979, lực lượng vũ trang Việt Nam lúc cao điểm (thập niên 1980) được phát triển lên đến 1,6 - 2 triệu quân thường trực, xếp hạng thứ 4 thế giới về quân số.
Quân đội được tổ chức thành nhiều quân đoàn chủ lực, 8 quân khu và 2 bộ tư lệnh quân tình nguyện tại Lào và Campuchia. Thời kỳ này, chỉ riêng lực lượng cơ động chiến lược đã có 5 quân đoàn, mỗi quân đoàn bình quân có 4 sư đoàn. Lực lượng mỗi quân khu có ít nhất 5 sư đoàn, riêng quân khu I có trong tay 11 sư đoàn (gồm 2 quân đoàn và nhiều sư đoàn độc lập)... Lực lượng quân tình nguyện ở Campuchia thường xuyên ở mức từ 12 đến 16 sư đoàn, tại Lào thường có 4 sư đoàn. Các đơn vị bộ đội tại Campuchia thường chỉ được biên chế 60-70% quân số. Tổng cộng trong thời kỳ này, quân đội Việt Nam có trong tay từ 70-80 sư đoàn bộ binh, nhiều sư đoàn quân binh chủng.
Tuy vậy, thời kỳ này, một số đơn vị quân đội đóng ở Campuchia có hiện tượng duy trì kỷ luật không tốt, có những đơn vị để xảy ra tình trạng chiến sĩ đào ngũ hoặc bị kỷ luật khá phổ biến.
Theo C.Thayer, tổng viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam trong giai đoạn từ 1974–1989 lên đến chừng 14,5 tỷ đô la.[17] Nhờ đó, trang bị của quân đội Việt Nam rất dồi dào và tương đối hiện đại. Một số tài liệu đánh giá đến năm 1985, riêng không quân đã có đến 1.000 máy bay, lực lượng xe tăng, xe thiết giáp có 3.000 chiếc.

Đây là giai đoạn Quân đội nhân dân Việt Nam được đánh giá là mạnh nhất trong khu vực, có lực lượng thiện chiến, quân số đông, kỹ năng tác chiến cao. Tuy chính sách của nhà nước Việt Nam không tiến hành đe dọa an ninh với các nước trong khu vực nhưng việc quân đội Việt Nam có quân số đông cùng với việc đóng quân ở Campuchia và Lào đã khiến các nước Đông Nam Á nhất là Thái Lan lo sợ một cuộc xâm lược lớn từ Việt Nam. Tuy nhiên việc duy trì lực lượng quân đội lớn tạo ra gánh nặng cho nền kinh tế Việt Nam. Giai đoạn này, quân đội Việt Nam tiếp tục tham chiến tiêu diệt tàn quân du kích Khmer Đỏ của Campuchia; đánh bại các cuộc tiến công lấn chiếm của Trung Quốc, đồng thời cũng có nhiều đợt xung đột với Thái Lan.

John Nixon - Người thẩm vấn Saddam Hussein tiết lộ những tình tiết bi thảm của "vụ lừa dối lớn nhất lịch sử hiện đại" (tin SOHA)

Đại sứ Nguyễn Quang Khai |
Người thẩm vấn Saddam Hussein tiết lộ những tình tiết bi thảm của "vụ lừa dối lớn nhất lịch sử hiện đại"

Những tình tiết về Saddam Hussein có thể sẽ khiến người Mỹ bàng hoàng nhìn máu và tiền bạc của đất nước họ bị lãng phí ở Iraq - nhà báo Mỹ James Risen nhận định.

Tại Mỹ đã cho xuất bản cuốn sách "Thẩm vấn Tổng thống - Debriefing The President" của John Nixon. Cuốn sách này đã được dịch ra tiếng Ả Rập và phát hành ở nhiều nước Ả Rập. Tác giả của nó không phải là một người bình thường mà là một sỹ quan thuộc Cơ quan tình báo Mỹ "CIA", người đã trực tiếp được giao nhiệm vụ thẩm vấn Tổng thống Iraq Saddam Hussein sau khi ông bị quân Mỹ bắt ngày 13/12/2003 trong "Chiến dịch Bình minh đỏ" tại một căn hầm ở thị trấn Al-Dawar, gần thủ phủ Tikrit, quê hương ông.
Trong cuốn sách này, John Nixon viết rằng, tất cả thông tin mà Washington cung cấp cho người Mỹ về Saddam Hussein đều là dối trá.
Người thẩm vấn Saddam Hussein tiết lộ những tình tiết bi thảm của vụ lừa dối lớn nhất lịch sử hiện đại - Ảnh 1.
Tác giả John Nixon. Ảnh: Twitter
Nạn nhân của sự lừa dối lớn nhất trong lịch sử hiện đại
John Nixon là một nhân viên tình báo của CIA chuyên đọc và phân tích các thông tin về các nhà lãnh đạo trên thế giới để giúp chính quyền Mỹ đưa ra các quyết sách trong quan hệ với họ. Ông được giao nhiệm vụ thẩm vấn Tổng thống Saddam Hussein.
Sau khi Mỹ chiếm Iraq, chính quyền Iraq bị lật đổ, John Nixon được CIA cử sang Iraq để tìm bắt Saddam Hussein. Sau khi bắt giữ Tổng thống Saddam Hussein, tác giả được phân công thẩm vấn ông.
Tác giả đã kể lại chi tiết các cuộc thẩm vấn này. John Nixon nói: "Trước khi Saddam Hussein bị bắt, tôi đã ở Iraq được tám tuần và nhiệm vụ được giao là tìm ra manh mối để dẫn đến nơi ẩn náu của Saddam và các cộng sự của ông. Đến lúc đó, cuộc chiến chống lại chế độ Iraq đã diễn ra được 9 tháng".
"Những người lính Mỹ tìm thấy một người đàn ông có bộ râu rậm, đầu tóc bù xù trong một căn hầm nhỏ, tôi đã nhận ra ngay đây chính là Saddam Hussein. Khi tôi gặp và chuyện trò trực tiếp với ông, tôi thấy mình thực sự là nạn nhân của sự lừa dối lớn nhất trong lịch sử hiện đại".
Người thẩm vấn Saddam Hussein tiết lộ những tình tiết bi thảm của vụ lừa dối lớn nhất lịch sử hiện đại - Ảnh 2.
Cựu lãnh đạo Saddam Hussein bị bắt. Ảnh: AFP
John Nixon thấy trước mặt mình, như ông khẳng định trong cuốn sách, một nhà lãnh đạo dũng cảm, thông minh, hiểu nhiều biết rộng, hoàn toàn khác với hình ảnh mà người ta mô tả.
John Nixon nói, ông viết cuốn sách này là để lương tâm khỏi bị cắn rứt và rũ bỏ tâm lý ám ảnh cuộc đời mình do che giấu sự thật, góp phần cải cách các bộ máy ra quyết định ở Mỹ, đồng thời là một cách để xin lỗi người dân Iraq và Tổng thống Saddam Hussein.
Ông nói: "Tôi không nghĩ có bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới lại bị đàn áp và bị oan uổng như đã xảy ra đối với Iraq. Mỹ đã hiểu sai về Saddam và vai trò của ông, một người kiên quyết chống lại chủ nghĩa cực đoan trên thế giới".
Nixon nhấn mạnh rằng việc loại Saddam khỏi chính quyền đã chứng minh là một thảm họa, Iraq trở thành một quốc gia thất bại trong tất cả các lĩnh vực. Lẽ ra Mỹ không phải đương đầu với tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) như hiện nay.
Người thẩm vấn Saddam Hussein tiết lộ những tình tiết bi thảm của vụ lừa dối lớn nhất lịch sử hiện đại - Ảnh 3.
Bản tuyên bố Mỹ yêu cầu Saddam Hussein ký
Trong cuốn sách của mình, Nixon tiết lộ chi tiết về cuộc gặp giữa Đô đốc McReven và Saddam Hussein ngày 1/3/2004. Tại cuộc gặp này, Đô đốc McReven đã yêu cầu Saddam ký một tuyên bố kêu gọi quân nổi dậy ở Iraq hạ vũ khí để được giảm tội, nếu không số phận của ông sẽ như Musolini.
Saddam Hussein đã cười to, không thèm đọc, chứ chưa nói đến việc ký vào bản tuyên bố đó. Ông nói:
"Nhân phẩm của tôi không cho phép tôi đọc bản tuyên bố này. Nếu các anh muốn tránh đổ máu trên đường phố Iraq, hãy rời khỏi đất nước chúng tôi. Các anh sẽ không mất gì khi rút khỏi Iraq, còn chúng tôi sẽ mất rất nhiều nếu chúng tôi ngừng chiến đấu. Tôi sẽ không bao giờ chấp nhận được giảm nhẹ tội trên nỗi đau của người dân Iraq. Các anh là những người lừa dối, không bao giờ thực hiện lời hứa của mình".
Người thẩm vấn Saddam Hussein tiết lộ những tình tiết bi thảm của vụ lừa dối lớn nhất lịch sử hiện đại - Ảnh 4.
Cuốn sách "Thẩm vấn Tổng thống - Debriefing The President" của John Nixon.
Nixon cho biết thêm: Trong khi tôi thẩm vấn Saddam, ông luôn luôn chống lại mọi nỗ lực nhằm buộc ông phải khuất phục. Nixon kể lại rằng ông Saddam rất yêu mến người Kurd. Saddam mô tả Đảng Baath Iraq là một phần của dân tộc và là một đảng đấu tranh cho công bằng xã hội, đoàn kết Ả Rập, tự do và dân chủ. Tác giả nói, một số trang của cuốn sách đã bị CIA cắt bỏ do những trang này có chứa đựng nhiều đoạn viết xin lỗi nhân dân Iraq, ca ngợi và tôn vinh Saddam, kẻ thù của nước Mỹ.
Tác giả của cuốn sách nói, Baghdad không có kế hoạch hành động quân sự nào chống lại Mỹ và các nước láng giềng. Trong các cuộc thẩm vấn, Saddam Hussein luôn luôn khẳng định "Iraq không phải là quốc gia của những kẻ khủng bố. Chúng tôi không có mối quan hệ nào với trùm khủng bố Bin Laden và không đe dọa láng giềng của chúng tôi".
Saddam Hussein cũng khẳng định chính quyền Iraq không liên quan gì đến cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9/2001 tại Mỹ. Ông nói: "Các anh hãy nhìn xem những người đã tham gia vào vụ đó là ai và những kẻ khủng bố đến từ nước nào? Rõ ràng tất cả bọn này đều mang quốc tịch Ả Rập Saudi, Ai Cập. Điều gì khiến anh nghĩ tôi lại có thể làm điều đó?"
Theo Nixon, lúc đầu Saddam Hussein thậm chí còn tin rằng thảm kịch 11/9 ở New York sẽ dẫn đến việc nối lại quan hệ giữa Mỹ và Iraq, vì Washington rất cần một đồng minh để chống lại những kẻ cực đoan. Nhưng ông ấy đã nhận định sai - John Nixon nói tiếp.
Đáng chú ý, ngày 9/9/2006, một báo cáo của Thượng viện Mỹ cho rằng Saddam Hussein không có quan hệ gì với tổ chức khủng bố Al-Qaeda. Báo cáo này còn nói rõ, nhà lãnh đạo Iraq đã từ chối yêu cầu giúp đỡ của Bin Laden năm 1995 trong thời gian diễn ra cuộc nội chiến ở Iraq.
Trong cuộc thẩm vấn, đáp lại những cáo buộc của chính quyền Mỹ, Saddam Hussein nói rõ: "Baghdad không hề có vũ khí hủy diệt hàng loạt". Tuy nhiên, Tổng thống J. Bush (Bush con) lúc đó cho rằng Iraq muốn giết cha mình và rằng Iraq có vũ khí hủy diệt hàng loạt.
"Nhà lãnh đạo Iraq khẳng định rằng, Iraq chưa bao giờ nghĩ đến việc sử dụng loại vũ khí này và điều này thậm chí còn không được đưa ra thảo luận. Sử dụng vũ khí hóa học để chống lại cả thế giới ư? Có ai quyết định làm điều này không? - Saddam hỏi tôi như vậy" - Nixon kể lại.
Người ta vẫn còn nhớ năm 2001, Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell cho biết các lệnh trừng phạt chống lại Iraq sẽ ngăn chặn được Saddam Hussein sản xuất ra vũ khí hủy diệt hàng loạt. Và để có độ tin cậy cao hơn, ông đã giơ lên trước cuộc họp Đại hội đồng Liên Hợp Quốc một chiếc lọ thuỷ tinh nhỏ được cho là có chứa vũ khí sinh học được tình báo Mỹ thu được ở Iraq, nhưng sau đó chính ông đã bác bỏ.
Người thẩm vấn Saddam Hussein tiết lộ những tình tiết bi thảm của vụ lừa dối lớn nhất lịch sử hiện đại - Ảnh 5.
Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 2001. Ảnh: Reuters
Điều đáng chú ý là ngày 14/2/2003, tức là trước khi Mỹ tấn công Iraq hơn một tháng, Saddam Hussein đã ký một sắc lệnh cấm nhập khẩu và sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt, nhưng điều này đã không gây được ảnh hưởng nào tới thái độ của Mỹ. Ngày 18/3/2003, J. Bush đã đưa ra tối hậu thư cho Saddam Hussein phải rời khỏi đất nước trong vòng 48 giờ, nếu không sẽ phải đối đầu với một cuộc chiến tranh tổng lực.

Những câu chuyện hoang đường
Ngoài ra, trong cuốn sách của mình, điều tra viên của CIA đã vạch trần câu chuyện hoang đường rằng Saddam Hussein cai trị đất nước bằng bàn tay sắt.
Theo John Nixon, điều này có thể hiểu được trong các cuộc thẩm vấn. Trong những năm cầm quyền cuối cùng, Saddam Hussein đã không còn quan tâm nhiều đến những gì xảy ra trong chính phủ Iraq. Trên thực tế, ông dành phần lớn thời gian để viết truyện và ít để ý đến những gì xảy ra trong nước.
Khi thẩm vấn, nhà lãnh đạo Iraq cũng đã cảnh báo về hậu quả hết sức nặng nề của việc lật đổ chính quyền ở Iraq. John Nixon trích dẫn câu nói của Saddam Hussein cảnh báo chính phủ Mỹ:
"Các anh sẽ thất bại. Các anh rồi sẽ hiểu việc cai trị Iraq không dễ dàng. Các anh không biết tiếng Ả Rập, không biết lịch sử và không hiểu tính cách của người Ả Rập và tư duy của chúng tôi. Không thể nào hiểu được người Iraq mà không hiểu văn hoá và lịch sử của họ".
Người thẩm vấn Saddam Hussein tiết lộ những tình tiết bi thảm của vụ lừa dối lớn nhất lịch sử hiện đại - Ảnh 6.
Theo John Nixon, một trong những câu chuyện hoang đường người ta cho rằng, Saddam Hussein có một số người đóng thế để bảo đảm an toàn cho tính mạng của mình. Điều này làm cho tất cả những ai làm việc trong ngành tình báo cảm thấy nực cười.
Về tính cách và quan điểm của Tổng thống Saddam Hussein, J. Nixon nói: Saddam là một người quyết đoán, thông minh. Ông không sợ chết. Khi Bush hỏi tôi liệu Saddam có biết mình sẽ bị tử hình không? Tôi trả lời rằng một trong những điều đầu tiên Saddam nói với tôi là ông biết chắc việc giam giữ ông sẽ kết thúc bằng bản án tử hình.
Một câu chuyện khác mà các chuyên gia Mỹ kể lại là người cha dượng của Saddam Hussein thường xuyên đánh đập ông. Họ cho rằng việc này ảnh hưởng rất nhiều đến tính cách của Saddam Hussein và làm cho ông trở thành một nhà độc tài, tàn bạo và tìm cách sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Tuy nhiên, trong cuộc thẩm vấn, Saddam Hussein nói với John Nixon rằng cha dượng của ông là một trong những người nhân hậu nhất mà ông ta từng gặp. "Ibrahim Hassan chia sẻ với tôi mọi chuyện riêng tư. Ông yêu quý, gần gũi tôi còn hơn cả con đẻ"- Saddam Hussein nói.
Người thẩm vấn Saddam Hussein tiết lộ những tình tiết bi thảm của vụ lừa dối lớn nhất lịch sử hiện đại - Ảnh 7.
Nixon thừa nhận rằng Tổng thống Saddam là người có tấm lòng nhân hậu. Khi tôi hỏi ông về lãnh đạo Iran, ông đã tỏ ra là một chính khách lịch lãm và nói, khi giáo chủ Ayatollah Khomeini chết năm 1989, ông đã yêu cầu các trợ lý của mình thể hiện sự tôn trọng với người quá cố và không được làm ông ta bị tổn thương khi đã chết.
Theo tác giả cuốn sách, ông không tìm cách biện minh cho "nhà độc tài", nhưng cái giá phải trả cho việc lật đổ Saddam Hussein là quá đắt với hơn 4.000 quân nhân Mỹ bị thiệt mạng và hàng ngàn tỷ đô la đã phải bỏ ra cho cuộc chiến và tái thiết Iraq.
Về cuốn sách "Thẩm vấn Tổng thống" của John Nixon, James Risen, nhà báo Mỹ được giải thưởng Pulitzer hiện làm việc cho tờ The Intercept và trước đó cho các tờ The New York Times, Los Angeles Times viết:
"Hầu hết các hồi ký của CIA là khủng khiếp và tồi tệ. Những tập hồi ký khác như cuốn sách trên của John Nixon phải chịu sự kiểm duyệt bắt buộc hết sức chặt chẽ. John Nixon, người đầu tiên của CIA thẩm vấn Saddam Hussein sau khi ông bị bắt tháng 12/2003, đã phanh phui sự thật về nhà lãnh đạo Iraq bị lật đổ và đặt câu hỏi tại sao Mỹ lại xâm chiếm Iraq và loại bỏ ông ta khỏi chính quyền. Những tình tiết này có thể sẽ khiến người Mỹ bàng hoàng nhìn máu và tiền bạc của đất nước họ đã bị lãng phí ở Iraq".

14 tháng 12, 2019

Nam Việt–Dương Hiệp Tự vị - Lasan Taberd 1838

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Dictionarium Anamitico-Latinum, 1838.
Một trang trong cuốn từ điển.

Nam Việt–Dương Hiệp Tự vị (chữ Hán: 南越洋合字彙, tiếng Latinh: Dictionarium Anamitico-Latinum) là cuốn từ điển song ngữ ViệtLatinh, trong đó tiếng Việt được viết bằng cả chữ Nômchữ Quốc ngữ, xuất bản năm 1838 tại Serampore, Ấn Độ.[1] Cuốn sách này được giám mục Jean-Louis Taberd (tên tiếng Việt là cố Từ)[2] biên tập dựa trên toàn bộ thủ bản soạn thảo năm 1773 của giám mục Pierre Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc).
Vì Giám mục Taberd là người soạn xong và đem in nên cuốn từ điển này còn được gọi là Từ điển Taberd. Cuốn từ điển này được chia làm 2 pho sách. Pho 1 có tựa là Dictionarium Anamitico-Latinum. Pho 2 có tựa là Dictionarium Latino-Anamiticum.[3]
Lần in đầu tiên năm 1838 được trợ giúp của Hội Á châu (The Asiatic Society) và giới chức Anh tại Bengal. Năm 2004, pho 1 của cuốn từ điển được Trung tâm nghiên cứu Quốc học và Nhà xuất bản Văn học tái bản.

"An Nam đại quốc họa đồ" (Tabula Geographica Imperii Anamitici), tấm bản đồ vẽ Việt Nam kèm trong cuốn từ điển, tại rìa phía phải của bản đồ có vẽ một góc của quần đảo Hoàng Sa với các chữ chú thích "Paracel seu Cát Vàng", "seu" mang nghĩa "tức là, hay là", "Paracel" là cách gọi của người phương Tây còn "Cát Vàng" là cách gọi nôm trước đây của người Việt cho quần đảo Hoàng Sa.[3][4][5][6] Phiên bản lớn có thể xem tại đây.

Lịch sử & Nội dung

Từ điển Taberd có ba phần.
  1. Phần I là 46 trang, tổng lược về văn phạm tiếng Việt.
  2. Phần II là 620 trang tự vị,[7] liệt kê khoảng 10.000 từ.[8]
  3. Phần III là phụ lục 52 trang về thảo mộc Đàng Trong (Hortus floridus Cocincinoe).[7]
Giám mục Taberd hoàn tất công việc soạn thảo cuốn tự điển khi ông đã rời Nam Kỳ, lánh sang Xiêm, Penang và cuối cùng sang đến chủng viện Serampore ở Ấn Độ. Dưới sự bảo trợ của Hội Á châu (Société asiatique du Bengale) và giúp đỡ tài chánh của Bá tước Auckland, tức Toàn quyền Ấn Độ George Eden, việc ấn loát hoàn tất năm 1838.[7]
Bá tước Auckland nhận mua ngay 100 bộ nhưng vì Ấn Độ là thuộc địa của Anh nên ông đòi Giám mục Taberd soạn thêm phần tiếng Anh. Phần này được chép thành phụ lục 135 trang mang tên "Appendix ad Dictionarium Latino-Annamiticum" để đáp ứng yêu cầu của Toàn quyền Anh.[7]

Ảnh hưởng & Nhận xét

Từ điển Taberd là mốc quan trọng nên sau đó nhiều bộ từ điển chiếu theo Từ điển Taberd làm gốc như:[7]
  1. Dictionnaire élémentaire Annamite-Français của linh mục Le Grand de la Liraye, in năm 1868
  2. Tự vị Annam-Pha Lan Sa/Dictionnaire Annamite-Français của JMJ Caspar, in năm 1877
  3. Dictionarium Annamiticum-Latinum của linh mục Theurel, in năm 1877
  4. Dictionarium Latino-Annamiticum của linh mục Ravier, in năm 1880
  5. Petit dictionnaire Français-Annamite của Trương Vĩnh Ký, in năm 1884
  6. Vocabulaire Annamite-Français cũng của Trương Vĩnh Ký, in năm 1887
  7. Đại Nam quấc âm tự vị của Huình Tịnh Của, in năm 1895 (thường gọi là Từ điển Huình Tịnh Của)
  8. Đại Việt quốc âm Hán tự Pháp thích tập thành/Dictionnaire Annamite-Français của Génibrel, in năm 1898 (thường gọi là Từ điển Génibrel)
  9. Đại Nam quốc âm tự vị hợp giải Đại Pháp quốc âm/Dictionnaire Annamite-Français của Bonet, in năm 1899.
Theo giáo sư Nguyễn Khắc Kham thì Từ điển Taberd thiên về các danh từ tiếng miền Trungmiền Nam Việt Nam, thiếu những từ của miền Bắc. Điều này phản ảnh địa bàn hoạt động của Giám mục Taberd, vốn tập trung ở Hà TiênLái Thiêu. Việc dùng tiếng Latinh cũng là chủ tâm của người soạn muốn nhấn mạnh công việc truyền giáo.

Chú thích

  1. ^ “Lời dẫn bản e-book Từ điển Taberd”. Nôm Foundation.
  2. ^ "Giáo phận Vĩnh Long"
  3. ^ a ă “Thử nhận xét về "An Nam đại quốc hoạ đồ". Bảo tàng Nhân học, ĐHQG Hà Nội.
  4. ^ “An Nam Đại quốc họa đồ”. Tuổi Trẻ.
  5. ^ “Bản đồ và tư liệu phương Tây khẳng định Hoàng Sa là của Việt Nam”. Cổng thông tin điện tử Đà Nẵng.
  6. ^ “Cát Vàng là tên gọi chỉ có ở Đại Việt xưa và Việt Nam nay”. Dân Trí.
  7. ^ a ă â b c Lê Ngọc Trụ. "Chữ Quốc ngữ từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX". Tuyển tập Ngôn-ngữ và Văn-học Việt Nam Số 1. Dòng Việt: 1993. Tr 30-47
  8. ^ Nguyễn Khắc Kham. (1993). "Lược sử công trình biên soạn tự điển Việt ngữ từ thế kỷ thứ XVII". Tuyển tập Ngôn-ngữ và Văn-học Việt Nam, Tập 1 (Số 1), tr 51-68