30 tháng 1, 2019

Thực hư hải chiến Hoàng Sa 1974 - Bill Hayton Gửi từ Naypyidaw, Myanmar

(tin BBC) -02 tháng 2 2014

Nhân kỉ niệm lần thứ 40 vừa qua, đã có hàng loạt các bài báo viết về trận hải chiến Hoàng Sa 19/1/1974 và lòng dũng cảm của quân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). 

Tuy vậy, lại có ít thảo luận về điều thực sự diễn ra trong trận chiến.
Trong hàng thập niên, nó vẫn được giữ kín, nhưng gần đây một vài cựu binh đã viết hoặc kể lại câu chuyện của mình. Chính quyền Hoa Kỳ cũng đã công bố một vài tư liệu quan trọng từ kho lưu trữ. Gộp lại những thông tin đó, chúng kể ta nghe câu chuyện về những cá nhân anh hùng bị làm hại bởi kế hoạch tác chiến kém, lãnh đạo tệ hại, và lực lượng không cân sức.
Tháng 1/1974 là quãng thời gian rất khó khăn cho Nam Việt Nam. Lệnh ngừng bắn, được thiết lập sau khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam, đã sụp đổ, buộc chính quyền Sài Gòn phải tham chiến với một nền kinh tế hầu như bị tê liệt. Sự kiện ở mấy mỏm đá ngoài khơi cách Đà Nẵng 350 dặm không phải là ưu tiên. Quân lính canh gác Hoàng Sa cũng không có đủ nguồn lực lẫn chiến lược đúng đắn để tự bảo vệ.

Vào thứ Hai 14/1, một tàu thủy của VNCH phát hiện hai tàu hải quân Trung Quốc đang thả neo gần đảo Hữu Nhật (Robert), thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm trong quần đảo Hoàng Sa do Nam Việt Nam chiếm giữ. Chỉ quen với việc đóng quân trên đất liền, quân VNCH đột nhiên phải đối diện với nguy cơ chiến đấu trên biển. Ngay ngày hôm sau, 15/1, tổng thống Thiệu đã trực tiếp đến thăm hải quân tại Đà Nẵng.
Hôm đó, Jerry Scott từ lãnh sự quán Hoa Kỳ đã đề nghị Tư lệnh Hải quân vùng I duyên hải và là bạn tốt của mình, phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, cho phép Gerald Kosh, một nhân viên dưới quyền, được lên tàu đi Hoàng Sa.
Ông Thoại nhanh chóng đồng ý‎ và Kosh đã có mặt trên tàu HQ-16. Con tàu này là một trong bảy chiếc tuần dương hạm cũ của Hoa Kỳ giao lại cho VNCH đầu những năm 1970. Mặc dù ra đời từ thời Thế chiến Đệ nhị, loại tàu này được trang bị những khẩu súng cỡ nòng lên tới 5 inch (127mm), tốt nhất trong cả lực lượng hải quân của VNCH. Kosh sau đó đã viết một bản tường trình dài về trận chiến mà hiện đã được phép công bố.
Ngày hôm sau, 16/1, HQ-16 đưa 16 lính Biệt Hải của VNCH đến bảo vệ đảo Hữu Nhật. Nhưng quân Trung Quốc đã có mặt trên đảo Duy Mộng (Drummond) và đảo Quang Hòa (Duncan) với lực lượng hỗ trợ ở gần đó. Tất cả những thông tin này đều được khẩn báo về Đà Nẵng.

Ở sở chỉ huy đã có sự hoang mang. Tham mưu phó Hải quân Đỗ Kiểm, người có cấp bậc cao thứ ba trong hàng ngũ hải quân VNCH, đã đề nghị phải phản ứng nhanh và kiên quyết. “Nếu chúng ta hàng động bây giờ thì có thể lấy lại được đảo,” ông Kiểm nhớ lại lời ông nói với tư lệnh hải quân, Đề đốc Trần Văn Chơn. Thay vì thế, theo lời ông Kiểm, ông Chơn đã yêu cầu phải có bằng chứng lịch sử về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo đó. Mấy giờ sau ông Kiểm đã phải tìm trong thư viện hải quân và phòng lưu trữ chỉ để tìm các tài liệu.

Vào ngày thứ Năm, 17/1, 15 lính Biệt Hải đổ bộ lên đảo Quang Ảnh (Money). Trong 7 hòn đảo thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm, lúc đó 3 được quân VNCH chiếm giữ và 2 nằm trong tay quân Trung Quốc. Thêm 3 tàu được vội vàng điều tới Hoàng Sa: HQ-5 (tuần dương hạm cũ của Mỹ), HQ-4 (tàu khu trục USS Forster cũ, được trang bị súng cỡ nòng 3 inch) và HQ-10 (tàu quét thủy lôi cũ USS Serene của Hoa Kỳ, được cải biên thành tàu tuần tra).

Vào sáng thứ Sáu ngày 18/1, tất cả 4 con tàu trên đã có mặt tại Hoàng Sa. Hải đội trưởng Hà Văn Ngạc quyết định thể hiện sức mạnh bằng cách cho lực lượng đổ bộ xuống đảo Quang Hòa. Nhưng hai tàu hộ tống Trung Quốc đã được điều động đến đó và ông Ngạc phải hủy kế hoạch. Quân Trung Quốc thắng hiệp 1.

Vào tối thứ Sáu, mật tin đã được gửi cho ông Ngạc từ Đà Nẵng. Một mệnh lệnh rất kì quặc: tái chiếm đảo Quang Hòa một cách hòa bình. Ông Ngạc quyết định đổ bộ vào sáng hôm sau, thứ Bảy ngày 19/1. Vào lúc 8.29, khi đội lính đi vào đảo, quân Trung Quốc nổ súng, làm một lính VNCH thiệt mạng. Người thứ hai bị giết hại khi cố lấy lại xác đồng đội. Quân thủy đánh bộ VNCH phải rút lui.
Ông Ngạc liên lạc về để tìm mệnh lệnh. Trong trụ sở Hải Quân VNCH ở Sài Gòn, Đỗ Kiểm chạy đi tìm Đề đốc Chơn. Ông ta biến mất. Một trợ l‎ý bảo rằng ông Chơn đã ra sân bay để chuẩn bị đi Đà Nẵng. Ông Kiểm gọi cho phó của ông Chơn ở Đà Nẵng. Ông ta cũng biến mất, để ra sân bay đón ông Chơn. Ngay tại thời điểm mà số phận của Hoàng Sa đang ngàn cân treo sợi tóc, hai lãnh đạo tối cao của Hải Quân VNCH đều mất tích. Cuối cùng, ông Kiểm là người ra lệnh nổ súng.
Vào lúc 10.29, hai giờ sau khi hai lính thủy đánh bộ bị giết hại, 4 tàu của phía Việt Nam nổ súng vào 6 tàu Trung Quốc.
Thật không may, súng trên tàu HQ-4 lại bị hỏng và con tàu nhanh chóng bị trúng đạn bởi một trong hai tàu hộ tống Trung Quốc. HQ-5 đã bắn trúng và làm hư hỏng nặng tàu hộ tống còn lại, nhưng rốt cuộc nó cũng bị trúng đạn. Mười lăm phút sau, HQ-5 vô tình bắn trúng tàu HQ-16. HQ-16 bị mất kiểm soát nguồn điện và bị nghiêng 20 độ. Sau đó tàu HQ-5 lại bị trúng đạn, hỏng mất tháp pháo và hệ thống radio. Cuối cùng, tàu HQ-10 nhỏ nhất đoàn, bị trúng tên lửa của quân Trung Quốc khiến cho đài chỉ huy bị phá hủy và thuyền trưởng thiệt mạng.

Chỉ trong vòng một giờ đồng hồ, mặc dù đã làm hư hỏng nặng hai tàu của Trung Quốc, đội tàu của VNCH hầu như đã mất khả năng chiến đấu. HQ-10 bị chìm còn ba chiếc còn lại lê lết về được Đà Nẵng.

Đánh giá một cách khách quan, trận chiến là một thảm họa, tuy nhiên những lính quay trở về được chào đón như những người hùng. Truyền thông Nam Việt Nam được kể lại rằng đội tàu VNCH đã làm chìm hai tàu và ngăn cản được hạm đội Trung Quốc lớn hơn nhiều lần. Trận chiến được thêu dệt ly kì như huyền thoại vào đúng dịp Tết. Nhưng trên thực tế, đó lại là một thảm họa.

Nhà báo Bill Hayton, làm việc ở BBC, là tác giả cuốn Vietnam: Rising Dragon (2010). Tác phẩm mới của ông về tranh chấp Biển Đông, The South China Sea - dangerous ground, sẽ được xuất bản năm nay bởi NXB Đại học Yale.

22 tháng 1, 2019

Nhiều người dân hỏi tôi đã đi Hoàng Sa chưa?

"Nhiều người dân hỏi tôi đã đi Hoàng Sa chưa? Câu hỏi như kim đâm vào da thịt. Làm sao đi được khi lãnh thổ của chúng ta đang bị Trung Quốc chiếm đóng", ông Đặng Công Ngữ xa xót trước khi nghỉ hưu.
1.835 ngày giữ chức Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa, thuộc thành phố Đà Nẵng, ông Ngữ chưa một lần "xuống địa bàn".

Quần đảo Hoàng Sa nằm phía Đông của Việt Nam, ngang bờ biển các tỉnh từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi. Trong đó đảo Tri Tôn cách Cù Lao Ré, tỉnh Quảng Ngãi 123 hải lý - 228 km. Tổng diện tích của cả quần đảo khoảng 10 km2.
Vùng biển Hoàng Sa có tiềm năng lớn về khoáng sản và hải sản. Quan trọng hơn, với việc án ngữ đường hàng hải quốc tế huyết mạch từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương, đây còn là vị trí quân sự chiến lược, khống chế đường giao thông trên biển và trên không khu vực phía bắc Biển Đông.

Với ngư dân, Hoàng Sa từ nhiều thế hệ là nguồn sống. Mùa biển lặng, ngư dân lợi dụng sức gió để căng buồm ra khơi đánh bắt. Không bắt được hải sản, họ cũng có thể lấy san hô, vỏ ốc về bờ bán cho khách du lịch; tách gân ốc tai tượng bán cho thương lái làm thuốc, chế biến thức ăn.
Nửa đầu thế kỷ XVII, dù phương tiện còn thô sơ, nhưng chúa Nguyễn đã lập Đội Hoàng Sa kiêm quản Đội Bắc Hải, vượt sóng gió ra đảo đo vẽ bản đồ, cắm mốc chủ quyền, bảo vệ cương giới nước nhà tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đời vua Minh Mạng, bia chủ quyền được dựng vào năm 1834.

Dưới thời Pháp thuộc, từ 1884 đến 1945, với tư cách đại diện cho Việt Nam về đối ngoại, Cộng hoà Pháp tiếp tục khẳng định, quản lý và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa.
Năm 1959, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa cho một số lính đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hoà nhằm đánh chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Quân lực Việt Nam Cộng hoà phát hiện bắt giữ 82 "ngư dân" cùng 5 thuyền đánh cá vũ trang đưa về giam tại Đà Nẵng, sau đó trao trả cho Trung Quốc.
Ngoài việc bố phòng binh lính để canh giữ Hoàng Sa, chính quyền Việt Nam Cộng hoà còn cho nghiên cứu thuỷ văn, khai thác phốt phát, sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào thành một đơn vị hành chính của tỉnh Quảng Nam. Ở các hoạt động đối ngoại, Việt Nam Cộng hoà đều khẳng định chủ quyền tại hai quần đảo trên biển Đông.
Sau nhiều lần phải rút quân khỏi Hoàng Sa, ngày 15/1/1974, Trung Quốc chủ động gây hấn bằng việc tuyến bố lên án chính quyền Việt Nam Cộng hoà đã "xâm lấn đất đai của Trung Quốc", và khẳng định "tất cả các quần đảo Nam Sa, Tây Sa, Đông Sa và Trung Sa là lãnh thổ Trung Quốc".
Quân đội nước này được lệnh đổ bộ và cắm cờ Trung Quốc lên các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hoà và Duy Mộng thuộc nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa.
Một số dấu mốc tại quần đảo Hoàng Sa (các vị trí tàu đâm căn cứ theo lời kể của nhân vật).
Sáng 19/1/1974, khi người nhái Việt Nam Cộng hoà cùng lính biệt hải lên các đảo hạ cờ Trung Quốc, nhiều loạt đạn từ phía Trung Quốc vang lên. Hai người bị bắn gục.
Hơn 10h, pháo trên tàu của hai phía đồng loạt nã vào nhau ở cự ly khoảng 100 m. Sự kiện thường được gọi với cái tên "Hải chiến Hoàng Sa" bắt đầu.
Trong trận hải chiến này, Hải quân Việt Nam Cộng hoà điều ra Hoàng Sa bốn chiến hạm. Phía Trung Quốc ngoài bốn chiến hạm còn có hai tàu ngầm loại Romeo Class S033 282 và 289. Những chiến hạm của Việt Nam Cộng hoà to lớn hơn, trong đó khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ4) là tàu chiến hiện đại nhất của phía Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên khi giao chiến, các tàu nhỏ của Trung Quốc lại linh hoạt hơn. 
 Có mặt trong trận hải chiến, cựu thượng sĩ Trần Dục (74 tuổi, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế), quản trưởng khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ4) Việt Nam Cộng hòa, thuật lại "các tàu cách nhau chỉ khoảng 100m nên cả hai bên đều trúng đạn", "Vũ khí trên của HQ4 khi đó chỉ có hai khẩu 76 ly, một đại bác 20 ly và súng tiểu liên M16".
Trong lúc giao tranh, HQ4 bị trúng đạn, thủng lỗ chỗ. Binh lính vừa chiến đấu, vừa thay phiên nhau tát nước và dùng nệm "vá" vết thương cho tàu khỏi chìm. Hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ10) bốc cháy rồi chìm dần.  "Hải quân Việt Nam Cộng hoà lúc đó chưa có kinh nghiệm chiến đấu thực địa", ông Dục nói.
Nhiều binh lính Việt Nam Cộng hoà đã hy sinh hoặc bị bắt làm tù binh. Số còn lại phải rút lui về Đà Nẵng. Toàn bộ quần đảo Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc.
Ngày 20/1/1974, Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc đã thông báo tình hình quần đảo Hoàng Sa cho Martin - Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, và yêu cầu nước này cho biết sẽ dành cho Việt Nam Cộng hoà sự ủng hộ nào về vật chất, chính trị với tư cách là quốc gia đã ký kết bảo đảm cho Hiệp định Paris.
Thời điểm này, cuộc chiến của Mỹ ở ba nước Đông Dương đã đến hồi kết. Dù lực lượng hải quân hùng mạnh với hàng không mẫu hạm vẫn túc trực ở biển Đông, phía Mỹ im lặng.
Tháng 4/1975, đất nước thống nhất. Ở ngoài khơi, Hoàng Sa vẫn bị quân Trung Quốc chiếm giữ. Còn Trường Sa đã được bộ đội Việt Nam tiếp quản một phần.
Tại cuộc đàm phán về biên giới giữa Hà Nội và Bắc Kinh tháng 10/1977, Trưởng đoàn Việt Nam Phan Hiền đã bác bỏ vu cáo của phía Trung Quốc đối với việc Hải quân Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, và tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên đề nghị đưa vấn đề hai quần đảo này vào chương trình nghị sự đã bị đối phương từ chối.
Ngày 11/12/1982, Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Và kể từ đó, là hơn hai mươi năm của những cán bộ cấp huyện không thể đặt chân lên vùng đất mình quản lý, như ông Ngữ.

21 tháng 1, 2019

1974- Tìm hiểu mức độ thiệt hại của Hải Quân TQ để hình dung ra khả năng tác chiến của Hải Quân Việt Nam.

TQ thiệt hại trong trận Hải chiến với VNCH, 1974? 

China 's Military officers killed by South Vietnam's Navy when invaded Vietnam's Paracel island, 1974.  

Inline image
TQ thiệt hại thế nào trong trận chiến với VNCH năm 1974?
 

Xin Tìm hiểu mức độ thiệt hại của Hải Quân TQ để hình dung ra khả năng tác chiến của Hải Quân Việt Nam.
Inline image
Theo nguồn "Dự Án Hải Sử" thì thiệt-hại của Hải-Quân Trung-Cộng tại Hoàng-Sa có đoạn ghi như sau:

"Nguồn tài-liệu sau đây đang được phổ-biến rộng-răi. Tác-giả của nó có lẽ sẽ cung-cấp thêm chi-tiết. Hy-vọng về tương-lai người đọc có sự kiểm-chứng:

Sau hơn một phần tư thế-kỷ bưng-bít về thiệt-hại của họ, rồi Trung-Cộng cũng có sơ-hở. Lợi-dụng một chuyến đi công-tác y-khoa tại Hải-Nam, khi vào thăm nghĩa-trang Quân-đội Nhân-dân Trung-Quốc, Bác-sĩ Trần-Đại-Sỹ đă ghi nhận một số tử-sĩ của HQ Trung-Cộng với những chi-tiết như sau:
Inline image
    1.- Hộ tống hạm Kronstadt, kư số 271:
             Hạm trưởng là Đại-tá Vương Kỳ Uy, tử thương.

    2.- Hộ tống hạm Kronstadt, kư số 274:
             Hạm trưởng là Đại-tá Quan Đức, tử thương.

3. Đây là Soái hạm của chiến dịch.
        - Tư lệnh mặt trận là Đô-đốc Phương Quang Kinh, Tư-lệnh phó Hạm đội Nam-hải của Trung-quốc với bộ Tham mưu Hành-quân đi trên chiến hạm 274. Khoảng giữa trận chiến, ông cùng bộ Tham mưu tử thương:
     . 1 Đô-đốc, 
     . 4 Đại-tá, 
     . 6 Trung-tá, 
     . 2 Thiếu-tá, và 
     . 7 Sĩ-Quan cấp úy)

  4. Trục lôi hạm, kư số 389:
            . Hạm trưởng là Trung-tá Triệu Quát, tử thương
  5. Trục lôi hạm, kư số 396:
           .  Hạm trưởng là Đại-tá Diệp Mạnh Hải, tử thương."

Nhìn số tử vong của hạm đội Trung Cộng chúng ta thấy hầu hết các hạm trưởng của địch bị thiệt mạng.

Tất cả các tầu chiến trên thế giới đều có cách bố trí là bộ chỉ huy gồm có hạm trưởng và ban tham mưu làm việc ở đài chỉ huy trên cao để dễ dàng quan sát. 

Sự kiện hầu như tất cả các Hạm Trưởng và một Đô Đốc chỉ huy hạm đội Trung Cộng đã thiệt mạng đã chứng minh khả năng chuyên môn của các pháo thủ VNCH khá cao. 

Chắc chắn họ đã bình tỉnh ngồi tại các ụ súng nhận lệnh sỹ quan đề lô hướng dẩn tập trung hỏa lực bắn vào đài chỉ huy của chiến hạm địch.

Chúng ta đã mất Hoàng Samất đi một phần máu thịt của Việt Nam. Nhưng chúng ta đã cho kẽ thù biết là chúng đã phải trả một giá không nhỏ khi xâm lăng Việt Nam.
 Inline image

20 tháng 1, 2019

Ðại Tá HQ VNCH Hà Văn Ngạc thuật lại trận hải chiến Hoàng Sa (1999)

Những lời mở đầu:
Tân Xuân Giáp Dần Hoàng Sa chiến
Nam ngư hải ngọai huyết lưu hồng
     “Hai câu thơ với lối hành văn vận theo sấm Trạng Trình đã được truyền khẩu rất nhanh khi Hải Ðội Ðặc Nhiệm Hoàng Sa trở về Ðà Nẵng vào sáng sớm ngày 20 tháng 1 năm 1974. Và câu thơ này do Hải Quân Ðại Tá Nguyễn Viết Tân lúc đó đang giữ chức vụ chỉ huy trưởng Sở Phòng Vệ Duyên Hải đọc cho tôi nghe. Từ ngày đó tới nay đã 25 năm (thời điểm tác giả viết hồi ký) và do sự khuyến khích của các bậc trưởng thượng trong hải quân VNCH, tôi ghi lại những chi tiết về diễn tiến chưa từng được tiết lộ để làm chứng liệu lịch sử”. (Hà Văn NgạcTrận Hải Chiến Hoàng Sa 19-1-1974)

     Ðó là lời mở đầu của tập ký ức về trận đánh lịch sử giữa hải quân VNCH và hải quân Trung Cộng cách đây 34 năm tại gần đảo Quang Hòa trong nhóm Nguyệt Thiềm của quần đảo Hoàng Sa. Tác giả tập ký ức in bằng hai thứ tiếng Việt và Anh này là cựu Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc, người chỉ huy trận hải chiến lịch sử nói trên. Sau biến cố 30 tháng 4, 1975, hơn một năm sau cuộc thử lửa, ông đành cùng gia đình sống một cuộc đời lưu vong tại Hoa Kỳ.

     Cựu Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc qua đời tại Trung Tâm Y Khoa Baylor thành phố Grapevine, tiểu bang Texas tháng 2 năm 1999. Bản dịch tiếng Anh của Hà Mạnh Chí. Phải nói ngay rằng tập tài liệu dầy 108 trang của cựu Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc có nội dung gồm nhiều chi tiết rất quan trọng về một trận hải chiến lẫy lừng ở Hoàng Sa mà thời điểm năm 1974 những chi tiết này chưa được phép phổ biến vì an ninh quốc phòng. Cho nên khi viết lại ký ức này, tác giả rất thận trọng xác nhận rằng vì muốn chỉnh lại những chi tiết chính xác để làm chứng liệu lịch sử nên đã cố gắng ghi lại những dữ liệu mà ông là nhân chứng, chứ thực ra những điều ông ghi nhận chỉ giúp người đọc ông một so sánh: lực lượng hải quân VNCH không thể sánh với lực lượng hùng hậu của hải quân Trung Quốc thời bấy giờ, nhưng vì phải chiến đấu để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, ông chấp nhận sự bất tương xứng về lực lượng như ông cha ta ngày xưa dám làm.

     Trước khi đi vào chi tiết trận đánh, cựu Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc đã ghi lại điều mà ông gọi là cấu trúc thượng tầng chỉ huy và các đơn vị tham chiến của hải quân vào lúc biến cố như: Tư Lệnh Hải Quân VNCH, Ðề Ðốc Trần Văn Chơn, Tư Lệnh Phó Hải Quân: Phó Ðề Ðốc Lâm Ngươn Tánh, Tham Mưu Trưởng Hải Quân: Phó Ðề Ðốc Diệp Quang Thủy, Tư Lệnh Hạm Ðội: Hải quân Ðại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải: Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Chỉ Huy Trưởng Hải Ðội 3 Tuần Dương và là sĩ quan chỉ huy chiến thuật trận hải chiến: Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc, Hạm Trưởng Khu Trục Hạm HQ-4: Hải Quân Trung Tá Vũ Hữu San, Hạm Trưởng Tuần Dương Hạm HQ-5: Hải Quân Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh, Hạm Trưởng Tuần Dương Hạm HQ-16: Hải Quân Trung Tá Lê Văn Thự, Hạm Trưởng Hộ Tống Hạm HQ-10: Hải Quân Thiếu Tá Ngụy Văn Thà (truy thăng trung tá), Trưởng Toán Hải Kích Ðổ Bộ: Hải Quân Ðại Úy Nguyễn Minh Cảnh.

Lý do có mặt của Hải Ðội Ðặc Nhiệm HQ/VNCH tại Hoàng Sa
     Cựu Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc cho biết lý do ông có mặt tại vùng I Duyên Hải là vì Hội Ðồng Ðô Ðốc chỉ định ông tăng phái cho Vùng I Duyên Hải từ cuối năm 1972 để chuẩn bị cuộc thư hùng giữa hải quân VNCH và hải quân của CSBV mà lúc đó tin tức tình báo nói rằng Hà Nội đã được trang bị cao tốc đỉnh thế hệ Komar của Liên Xô có trang bị hỏa tiễn hải-đối-hải. Mà hải quân VNCH chỉ có khả năng chống đỡ thụ động loại vũ khí này. Hải quân VNCH tiên liệu cuộc hải chiến có thể xảy ra nếu hải quân Bắc Việt tràn xuống tái diễn cuộc cường tập xuất phát từ Bắc sông Bến Hải như hồi tháng 3 năm 1972 khiến chúng ta mất một phần tỉnh Quảng Trị. Cựu HQ Ðại Tá Hà Văn Ngạc viết, xin trích:
     “Vào khoảng 11 tháng 1 năm 1974, chỉ vài ngày sau khi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger rời Trung Cộng, thì đột nhiên Ngoại Trưởng Trung Cộng lại một lần nữa tuyên bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tôi rất chú ý đến tin này vì tôi đã từng chỉ huy công cuộc đặt quân trú phòng đầu tiên trên đảo Nam Yết thuộc Trường Sa vào cuối Mùa Hè 1973.
     Vào hôm sau vì Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc còn bận công cán ngoại quốc thì phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao VNCH bác bỏ luận cứ của Trung Cộng và tái xác nhận một lần nữa chủ quyền của VNCH trên các quần đảo ấy. Ngày 16 tháng 1, 1974, tôi từ Sài Gòn ra Vũng Tàu để chủ tọa lễ trao quyền chỉ huy tuần dương hạm HQ5 Trần Bình Trọng cho tân hạm trưởng là HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh và khi trở lại Sài Gòn lúc theo dõi bản tin hàng ngày trên truyền hình thấy Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc hùng hồn và nghiêm trọng khi tuyên bố chủ quyền của VNCH trên 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
     Tôi tiên liệu có thể có chuyển bất ổn tại vùng I Duyên Hải, nhất là Việt Cộng có lẽ được Trung Cộng hỗ trợ có thể tạo ra rắc rối ngoài khơi để thu hút lực lượng hải quân Việt Nam Cộng Hòa, và đương nhiên Cộng quân sẽ lợi dụng để tràn xuống dưới vĩ tuyến 17… Tôi lên đường ra Vùng I Duyên Hải bằng máy bay quân sự”. (Trận Hải Chiến Hoàng Sa 19-1-1974-Hà Văn Ngạc), ngưng trích. 

Phi trí đội hình và chiến thuật
     Ðể chuẩn bị cho mọi tình hướng có thể xảy ra, Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại đưa ra hai lựa chọn cho HQ Ðại Tá Hà Văn Ngạc sau khi nhận lệnh của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu: một là Ðại Tá Ngạc chỉ huy các chiến hạm ngay tại Bộ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải, hai là đích thân ông lên chỉ huy trên chiến hạm. Ông Ngạc lựa chọn đi theo với các đơn vị của ông ra biển. Hải Ðoàn Ðặc Nhiệm được tăng cường thêm hộ tống hạm HQ10 Nhựt Tảo. Sau khi dùng cơm chiều với tư lệnh hải quân Vùng I Duyên Hải, HQ Ðại Tá Hà Văn Ngạc lên tàu để ra Hải Ðoàn Ðặc Nhiệm. Tuần dương hạm HQ5 rời bến khoảng 9 giờ tối ngày 17 tháng 1 năm 1974. Vẫn theo lời HQ Ðại Tá Hà Văn Ngạc thì 9 giờ sáng ngày 18 tháng 1, 1974 hai chiến hạm HQ5 và HQ10 đã đến gần Hoàng Sa và trong tầm âm thoại VRC46 để liên lạc bằng bạch văn, vì tầm hữu hiệu của máy chỉ ở trong vùng Hoàng Sa mà thôi. Sau khi tham khảo với các hạm trưởng các chiến hạm thuộc Hải Ðoàn Ðặc Nhiệm, Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc ra lệnh khai diễn cuộc hành quân. Ông viết lại những giây phút bắt đầu căng thẳng như sau, xin trích:
     “Vào khoảng xế trưa 18 tháng 1, 1974 thì cả bốn chiến hạm HQ4, HQ5, HQ10 và HQ16 (ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm) đều đã tập trung trong vùng lòng chảo của quần đảo Hoàng Sa và Hải Ðoàn Ðặc Nhiệm được thành hình. Nhóm chiến binh thuộc tuần dương hạm HQ16 và khu trục hạm HQ4 đã đổ bộ và trương quốc kỳ VNCH trên các đảo Cam Tuyền (Robert), Vĩnh Lạc (Money) và Duy Mông (Dummond) từ mấy ngày trước đã được giữ nguyên vị chi phòng thủ để bảo vệ đảo. Sau khi quan sát các chiến hạm Trung Cộng lởn vởn tại phía Bắc đảo Quang Hòa (Duncan), tôi quyết định ngay là hải đoàn sẽ phải phô trương lực lượng bằng cuộc thao diễn chiến thuật tập đội để tiến về Quang Hòa với hy vọng có thể đổ bộ hải kích như các chiến hạm ta làm trước đây. Lúc này trời quang đãng, gió nhẹ và biển êm.
     Tất cả chiến hạm phải vào nhiệm sở tác chiến, nhưng các dàn hải pháo, và đại liên phải ở trong thế thao diễn. Khởi hành từ Nam Ðảo Hoàng Sa để tiến về đảo Quang Hòa, 4 chiến hạm vào đội hình hàng dọc, dẫn đầu là khu trục hạm HQ4, theo sau là tuần dương hạm HQ5 làm chuẩn hạm có trương hiệu kỳ của Hải Ðội, thứ ba là tuần dương hạm HQ16 và sau cùng là hộ tống hạm HQ10, tốc độ khoảng 6 gút, khoảng cách giữa các chiến hạm là hai lần khoảng cách tiêu chuẩn (tức 1,000 yards), phương tiện truyền tin là kỳ hiệu và quang hiệu, và âm thoại bằng VRC46 hoặc PRC25 chỉ sử dụng để tránh hiểu lầm ám hiệu vận chuyển chiến thuật mà thôi.
     Chừng nửa giờ sau khi hải đoàn vận chuyển đội hình hướng về phía đảo Quang Hòa thì hai chiến hạm Trung Cộng loại Kronstadt mang số hiệu 271 và 274 bắt đầu phản ứng bằng cách vận chuyển chặn trước hướng đi của hải đoàn, nhưng Hải Ðoàn vẫn giữ nguyên tốc độ, trong khi đó hai chiến hạm khác nhỏ hơn của Trung Cộng mang số hiệu 389 và 396 (Ghi chú của Trần Ðỗ Cẩm: đây là hai truc lôi hạm tức tàu vớt mìn loại T43) cùng hai ngư thuyền ngụy trang 402 và 407 (Ghi chú của HQ Thiếu Tá Trần Ðỗ Cẩm: ngư thuyền mang tên Nam Ngư) vẫn nằm nguyên vị trí sát bờ phía Bắc đảo Quang Hòa.
     Tôi đã không chú tâm đến hai chiến hạm nhỏ của địch vì cho rằng hai chiếc này chỉ là loại phụ mà thôi. (Sau này khi sưu tầm tài liệu về trận hải chiến Hoàng Sa, HQ Thiếu Tá Trần Ðỗ Cẩm đã truy ra số hiệu loại trục lôi hạm là loại trang bị vũ khí nhẹ hơn còn hai tầu tiếp tế ngụy trang như ngư thuyền thì không đáng kể). Hành động chặn đường chiến hạm ta đã từng được Trung Cộng sử dụng trong mấy ngày trước đây khi các chiến hạm hải quân VNCH đổ quân lên các đảo Cam Tuyền, Vĩnh Lạc và Duy Mộng để xua quân Trung Cộng rời đảo.
     Chiếc Kronstadt bắt đầu xin liên lạc bằng quang hiệu. Tuần dương Hạm HQ5 (Trần Bình Trọng) trả lời thuận và nhận công điện bằng Anh ngữ:
– These Islands belong to the People’s Republic of China (phần này tôi không chắc chắn), since Ming Dynasty STOP Nobody can deny (phần này tôi nhớ rất kỹ vì tôi có phụ nhận quang hiệu).
    Tôi cho gởi ngay một công điện khái quát như sau:
– Please leave our territorial waters immediately. (Yêu cầu rời lãnh thổ của chúng tôi (Việt Nam) ngay lập tức)
     Công điện quang hiệu của Trung Cộng được lập lại ít nhất 3 lần sau khi họ nhận được công điện của Hải Ðội Ðặc Nhiệm VNCH và chiến hạm ta cũng tiếp tục chuyển lại công điện yêu cầu họ rời khỏi lãnh hải của Việt Nam.
     Vì hai chiến hạm Kronstadt của Trung Cộng cố tình chặn đường tiến của Hải Ðoàn với tốc độ khá cao, nếu Hải Ðoàn Ðặc Nhiệm tiếp tục tiến thêm thì có thể gây ra vụ đụng tàu, tôi đưa hải đoàn trở về phía Nam đảo Hoàng Sa và vẫn giữ tình trạng ứng trực cũng như theo dõi các chiến hạm Trung Cộng. Họ cũng lại tiếp tục giữ vị trí tại phía Bắc và phía Tây Bắc đảo Quang Hòa”. (ngưng trích) (Trận Hải Chiến Hoàng Sa 19-1-1974-Hà Văn Ngạc).
     Tình hình khá căng thẳng, theo lời thuật lại của tác giả Hà Văn Ngạc. Vì chắc chắn hải quân của một quốc gia đông đến 1 tỷ dân như Trung Cộng phải hùng hậu gấp bội so với VNCH. Rõ ràng trứng chọi đá. Nhưng đảo Quang Hòa thuộc quần đảo Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam, nếu họ tấn công thay vì nhượng bộ, Hải Ðoàn Ðặc Nhiệm buộc phải chống trả. Sau khi yêu cầu tuần dương hạm HQ16 chuyển đoàn công binh của quân đoàn sang tuần dương hạm HQ5 bằng xuồng (Thiếu Tá Hồng chỉ huy đoàn công binh), tư lệnh Hải Ðội Ðặc Nhiệm thực hiện những biện pháp cần thiết trong trường hợp phải lâm chiến và báo cho các hạm trưởng biết tình hình và chuẩn bị. Vào lúc 11 giờ tối ngày 28-1-1974, lệnh hành quân Hoàng Sa 1 được ban ra với quan niệm: tái chiếm đảo Quang Hòa một cách hòa bình.
     Nhưng lệnh hành quân không ghi rõ tình hình địch nên Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc phải tự phán đoán tình hình bằng những kinh nghiệm khi ông còn là tham mưu phó hành quân BTL/HQ: Trung Cộng đã thiết lập một căn cứ tiền phương tại đảo Phú Lâm thuộc nhóm Tuyên Ðức nằm về phía Ðông Bắc Hoàng Sa sát vĩ tuyến 17 nên có thể địch đã phối trí tại đây lực lượng trừ bị. Ngoai ra tại đảo Hải Nam họ còn có một căn cứ hải quân rất lớn và một không lực hùng hậu với hai loại chiến đấu cơ phản lực MIG 19 và 21 với khoảng cách gần hơn là khoảng cách từ Ðà Nẵng ra Hoàng Sa.
      Khi đã có lệnh hành quân thì phải chuẩn bị đội hình và chiến thuật. Hải Quân Ðại tá Hà Văn Ngạc viết từ trang 56 của hồi ký như sau, xin trích:
     “Tôi chia hải đoàn ra thành hai phân đoàn đặc nhiệm: Phân đoàn 1 là nỗ lực chính gồm khu trục hạm HQ4 và tuần dương hạm HQ5 (Hải Quân Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh là hạm trưởng) do hạm trưởng khu trục hạm HQ 4 chỉ huy (Hải Quân Trung Tá Vũ Hữu San là hạm trưởng). Phân đoàn 2 là nỗ lực phụ gồm tuần dương hạm HQ16 (hạm trưởng: Hải Quân Trung Tá Lê Văn Thự) và hộ tống hạm HQ10 (hạm trưởng: Hải Quân Thiếu Tá Ngụy Văn Thà – Sau được truy thăng trung tá). Tuần dương hạm HQ16 được giao nhiệm vụ chỉ huy phân đoàn 2 đặc nhiệm.
     Nhiệm vụ của Phân Ðoàn 2 là giữ nguyên vị trí trong lòng chảo Hoàng Sa để tiến về đảo Quang Hòa vào buổi sáng. Phân đoàn 1 khởi hành vào 12 giờ đêm (rạng sáng 19-1-1974) đi bọc về phía Tây và xuống phía Nam sẽ có mặt tại phía Nam đảo Quang Hòa vào 6 giờ sáng ngày 19-1-1974 để đổ bộ toán Hải Kích. Phân đoàn 1 phải hải hành bọc ra phía Tây quần đảo thay vì thẳng tiến từ Hoàng Sa ra Quang Hòa để tránh việc chiếm hạm Trung Cộng có thể lại vận chuyển chặn đường tiến của chiến hạm như họ đã từng làm hồi chiều 18-1-1974… Ðúng 6 giờ sáng ngày 19, trời vừa mờ sáng, Phân Ðoàn 1 đã có mặt tại Tây Nam đảo Quang Hòa, thủy triều lớn, tầm quan sát trong vòng từ 1.5 đến non 2.00 hải lý, trời có ít mây thấp nhưng không mưa, gió Ðông Bắc thổi nhẹ, biển tương đối êm tuy có sóng ngầm.
     Phân Ðoàn 1 tiên sát đảo khoảng hơn 1 hải lý. Tuần dương hạm HQ5 nằm gần bờ hơn một chút để thuận tiện đổ bộ hải kích.. Hai chiếc Kronstadt bị bất ngờ thấy rõ nên họ vận chuyển lúng túng và không thực hiện được hành động hành động ngăn cản. Tôi cũng bị bất ngờ là hai chiến hạm chủ lực của địch cùng có mặt tại một nơi để sẵn sàng đối đầu mà không phải tìm kiếm… Toán Hải Kích do Hải Quân Ðại Úy Nguyễn Minh Cảnh chỉ huy đã nhận được chỉ thị là không được nổ súng và lên bờ yêu cầu quân Trung Cộng rời khỏi đảo Quang Hòa… Họ xuống xuồng cao su vào đảo… Tôi không chắc là cuộc đổ bộ sẽ thành công vì quân Trung Cộng trên đảo chắc đã phải tổ chức bố phòng cẩn mật tiếp theo sự thất bại của họ khi lấn chiếm các đảo khác. Tôi chỉ thị cho các hạm trưởng chuẩn bị vào trận…” (ngưng trích) (Trận Hải Chiến Hoàng Sa 19-1-1974-Hà Văn Ngạc).
Lệnh Khai Hỏa
     Trong bất cứ một cuộc đối đầu nào, dù trên bộ hay trên biển, đây là giây phút “cân não”, đòi hỏi những quyết định sáng suốt. Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc mô tả như sau, xin trích:
     “Biệt đội Hải Kích tiến vào đảo Quang Hòa bằng 2 xuồng cao su, từ chiến hạm ta, việc quan sát sự bố phòng của Trung Cộng trên đảo không được rõ ràng. Các chiến hạm Trung Cộng cũng không có phản ứng gì đối với xuồng của hải kích.
     Theo báo cáo của biệt đội trưởng Hải Kích thì hải kích Ðỗ Văn Long là người đầu tiên vào đảo, nhưng do vừa nổ súng vừa tiến vào nên đã bị hỏa lực trong bờ bắn ra tử trận ngay tại bãi biển. Hải Quân Trung Úy Lê Văn Ðơn (xuất thân bộ binh) tiến vào để thâu hồi tử thi đồng đội nên bị trúng đạn tử trận ngay gần xuồng nên tử thi vị sĩ quan này được thu hồi ngay. Việc thất bại trong cuộc đổ bộ được báo cáo về Bộ Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải thì đích thân Tư Lệnh HQ/VNCH hay Tư Lệnh vùng 1 Duyên Hải ra lệnh vắn tắt có hai chữ KHAI HỎA” (ngưng trích) (Trận Hải Chiến Hoàng Sa 19-1-1974-Hà Văn Ngạc).
     Lệnh khai hỏa đã giải tỏa quan niệm chủ điểm của lệnh hành quân và đã giúp hải đội trưởng Ðặc Nhiệm dễ dàng xoay trở hơn. Ông thẩm định lại hỏa lực các chiến hạm và ra lệnh cho các hạm trưởng là khi khai hỏa thì phải đồng loạt để tạo yếu tố bất ngờ khiến địch không kịp xoay trở. Tuy nhiên, đến 10 giờ sáng 19-1-1974, việc thu hồi toán hải kích về tuần dương hạm HQ5 mới hoàn tất. Vào lúc này, Hải Quân Ðại Tá Ðỗ Kiểm, tham mưu phó hành quân tại Bộ Tư Lệnh HQ/VNCH đã cho biết tin có chiến hạm bạn (Hoa Kỳ) đang ở gần.
     Nhưng từ tháng 2 năm 1972, khi cuộc chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng đã phai nhạt và chấm dứt thù nghịch thì không có lý do gì chiếm hạm Hoa Kỳ lại hỗ trợ cho các chiến hạm VNCH. Và thực tế đã cho thấy sau trận hải chiến, trong suốt thời gian tìm kiếm các chiến sĩ đào thoát khỏi hộ tống hạm HQ10 bị đánh chìm và các toán đổ bộ trên các đảo rời nhiệm sở để trở về đất liền, chúng ta không nhận thấy một hành động nhân đạo nào từ phía đồng minh Hoa Kỳ, kể cả phi cơ không tuần. Sau đây là ghi nhớ của cựu Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc trong cuốn hồi ký, xin trích:
     “Khoảng 10 giờ 24 phút sáng 19-1-1974 thì lệnh tấn công được ban hành. Tôi vào trung tâm chiến báo để trực tiếp báo cáo (về các thẩm quyền) bằng máy siêu tần số và cố giữ ống nói sau khi tôi chấm dứt báo cáo để tiếng nổ của hải pháo được truyền đi trên hệ thống này. Cuộc khai hỏa tấn công đã đạt được yếu tố bất ngờ cho các chiến hạm địch… Chiếc Kronstadt 271 nằm về hướng Tây đảo Quang Hòa, hướng mũi về phía Tây là mục tiêu của tuần dương hạm HQ5 đang hướng mũi vào bờ tức là phía Ðông, đặt mục tiêu về phía tả hạm tức là phía Bắc. Chiếc Kronstadt bị trúng đạn ngay từ phút đầu, nên vận chuyển đã trở nên chậm chạp đã trở thành mục tiêu rất tốt cho HQ5. Hỏa lực của chiếc Kronstadt không gây thiệt hại đáng kể cho tuần dương hạm này, nhưng đã gây thiệt hại nặng cho hộ tống hạm HQ10 nằm về phía Bắc.. Khu trục hạm HQ4 nằm về phía Tây Nam của tuần dương hạm HQ5 đặt mục tiêu là chiệc Kronstadt 274 năm về phía Tây Bắc tức tả hạm của chiến hạm. Nhưng chẳng may HQ4 báo cáo trở ngại tác xạ ngay từ phút đầu tiên và phải chờ sửa chữa. Việc này đã làm đảo lộn các dự tính của tôi và làm tôi bối rối. Sau vài phút thì chiến hạm này xin bắn thử.
     Kết quả là vẫn bị trở ngại và xin được tiếp tục sửa. Tôi vẫn hy vọng, nhưng việc thử lần thứ ba cũng không kết quả. Tuy nhiên chiến HQ4 vẫn phải tiếp tục bám sát mục tiêu của mình trong tầm đại liên nên đã bị thiệt hại nhiều vì hỏa lực của chiếc Kronstadt… Sau chừng 15 phút thì tuần dương hạm HQ16 báo cáo bị trúng đản hầm máy, tàu bị nghiêng nên khả năng vận chuyển giảm sút, buộc phải lui ra ngoài vòng chiến để sửa chữa và cũng không còn liên lạc được với hộ tống hạm HQ10, cũng không biết rõ tình trạng chỉ thấy nhân viên đang đào thoát. Tôi nhận thấy tuần dương hạm đã vận chuyển nặng nề mà chỉ còn một máy, bị nghiêng, nếu tiếp tục chiến đấu sẽ là mục tiêu tốt cho địch, nên tôi đã không ra phản lệnh… Khu trục hạm HQ4 đã bị thiệt hại nhiều sau khi phải bám sát địch trong tầm đại liên nên tôi cũng buộc phải ra lệnh cho chiến hạm này rút ra khỏi vòng chiến ngay và chỉ thị cho tuần dương hạm HQ5 yểm trợ cho HQ4 tiến ra xa vì Hải Ðội Ðặc Nhiệm không thể để bị thiệt hại cho một khu trục hạm, trong khi hải quân VNCH chỉ có hai chiến hạm loại này mà thôi.  

     Khi khu trục hạm HQ4 ra khỏi vòng chiến thì không bị chiếc Kronstadt 274 truy kích hoặc tác xạ đuổi theo. Ngược lại chiến hạm này của Trung Cộng rảnh tay hơn để tấn công tuần dương hạm HQ5 vào phía hữu hạm hầu làm giảm bớt hỏa lực của chiếm hạm ta để cứu chiếc 271 đang bị tê liệt” (ngưng trích) (Trận Hải Chiến Hoàng Sa 19-1-1974 – Hà Văn Ngạc).
Trên đường trở về…
     Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở Sài Gòn chuyển một tin cho biết một phi đội F-5 đã cất cánh để yểm trợ cho Hải Ðội. Tuy nhiên vì khoảng cách quá xa giữa Ðà Nẵng và Hoàng Sa cho nên phải mang bình xăng phụ thì các chiến đấu cơ này mới có thể tới nơi, nhưng cũng chỉ hoạt động được ít phút lại phải quay về vì không đủ xăng. Thành thử tin vừa loan báo cũng chỉ có giá trị tâm lý chứ thực tế không thể thực hiện được. Hơn nữa các chiếc Mig 19 và 21 từ căn cứ không quân lớn của Trung Cộng tại Hải Nam có thể gây trở ngại và thiệt hại cho những chiếc F-5. Hải Ðội Trưởng Hà Văn Ngạc viết trong hồi ký là ông vẫn đổi tần số máy VRC46 để liên lạc với phi cơ, nhưng sau 10 phút việc liên lạc không có kết quả nên phải bỏ mục tiêu này để tiếp tục chỉ huy các chiến hạm vì cuộc giao tranh đã tới hồi khốc liệt. Tác giả viết tiếp, xin trích:
     “Sau phút này thì tuần dương hạm HQ5 bị trúng nhiều loạt đạn làm sĩ quan trưởng khẩu hải pháo 127 ly bị thương và hải pháo bị bất khiển dụng vì phần điện điều khiển pháp tháp tê liệt, máy siêu tần số SSB không còn liên lạc được vì giây trời sập rớt xuống sàn tàu.. Tôi ra ngoài quan sát tả hạm và được báo hầm đạn phát hỏa. Tôi ra lệnh cho hạm trưởng HQ5 là phải làm ngập ngay hầm đạn. Khẩu pháo 40 ly hữu hạm bị hư hại nhẹ, nhưng khẩu hải pháo 40 ly đơn ở tả hạm bị bất khiển dụng. Tôi yêu cầu hạm trưởng là chỉ nên tác xạ từng viên mà thôi vì nhu cầu phòng không rất có thể xảy ra trong tương lai gần (do sự can thiệp của máy bay MIG của Trung Cộng).
     Bất thần vào khoảng 11 giờ 25 phút sáng , cách xa tôi chừng 8 đến 10 hải lý, xuất hiện một chiến hạm của Trung Cộng, loại có trang bị mỗi bên một dàn giàn phóng hỏa tiễn (Ghi chú Trần Ðỗ Cẩm: đây là loại khinh tốc đỉnh Komar) đang tiến vào vùng giao tranh với tốc độ cao… Tôi dự đoán loại chiến hạm này ít khi được điều động từng chiếc một và tin là ít nhất cũng có một chiếc khác theo sau.. Với tình trạng của Hải Ðội Ðặc Nhiệm: một hộ tống hạm bị loại khỏi vòng chiến, một tuần dương hạm bị thương nơi hầm máy, một khu trục hạm và một tuần dương hạm chỉ còn hỏa lực hạn chế, cộng thêm với nguy cơ bị tấn công bằng cả hỏa tiễn hải-hải lẫn chiến đấu cơ MIG nên tôi ra lệnh triệt thoái phần còn lại của lực lượng là khu trục hạm HQ4 và tuần dương hạm HQ5 ra khỏi Hoàng Sa tiến hướng Ðông Nam về Subic Bay.
     Tôi cũng cầu nguyện Ðức Thánh Trần, thánh tổ của hải quân VNCH ban cho một trận mưa để làm giảm tầm quan sát và khả năng tấn công của phi cơ địch. Sau khi hai chiến hạm còn lại rút ra khỏi vùng giao tranh 10 phút thì một trận mưa đã đổ xuống toàn vùng quần đảo Hoàng Sa. Các chiến hạm ta đã không bị truy kích và phi cơ địch cũng không xuất hiện. Mục đích tôi triệt thoái theo hướng Ðông Nam là để tránh bị tiềm thủy đĩnh của Trung Cộng phục kích và có thể tới hải quân công xưởng của Hoa Kỳ ở Subic Bay xin sửa chữa.
     “Tuần dương hạm HQ5 phải mất một giờ đồng hồ mới kéo được giây trời tạm thời để tái lập hệ thống liên lạc siêu tần số SSB… Vào khoảng 1 giờ trưa 19-1, hai chiến hạm HQ 4 và HQ5 đã cách Hoàng Sa 10 hải lý thì tư lệnh hải quân VNCH đích thân ra lệnh cho hai chiến hạm này phải quay lại Hoàng Sa và đánh chìm nếu cần… Lệnh được thi hành nghiêm chỉnh ngay tục khắc. Sau khi liên lạc vô tuyến được điều hòa trở lại thì mọi báo cáo chi tiết về tổn thất và tình trạng lúc bấy giờ của HQ4 và HQ5. Tôi cũng được thông báo trên tuần dương hạm HQ5 là tuần dương hạm HQ16 sẽ được tuần dương hạm HQ6 hộ tống về căn cứ Ðà Nẵng. Ðến khoảng 2 giờ 30 chiều, khi cả hai chiến hạm đang trên đường quay lại Hoàng Sa, qua ngang hòn Tri Tôn, có nghĩa là còn cách đảo Hoàng Sa khoảng 1 giờ rưỡi hải hành nữa thì hai chiến hạm được lệnh trở về Ðà Nẵng…  
     Trong cuộc viếng thăm Tư Lệnh Hải Quân VNCH tại tư dinh của ông vào khoảng tháng 2-1974, vị đô đốc đương nhiệm đã tiết lộ rằng nếu biết sớm tình trạng của Hải Ðoàn Ðặc Nhiệm thì tư lệnh đã cho Hải Ðoàn triệt thoái sớm hơn. Trên đường về, tôi vẫn cho lệnh các chiến hạm giữ nguyên nhiệm sở tác chiến nhất là các nhân viên không được ở trong nhiệm sở phòng máy mà phải túc trực trên boong để tránh tổn thất về nhân mạng trong trường hợp bị tiềm thủy đĩnh Trung Cộng phục kích bằng ngư lôi. Nhưng điều tôi dự đoán đã không xảy ra. Các chiến hạm khởi sự thu dọn tổn thất và các dư liệu tác xạ…” 

[Trận Hải Chiến Hoàng Sa 19-1-1974 – Hà Văn Ngạc)
Ðánh Giá Trận Hải Chiến
     Sáng 20-1-1974, tất cả các chiến hạm trở về an toàn và họ đã được đón tiếp như những anh hùng. Một cách tổng quát, theo đánh giá của Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc thì sự thiệt hại của hai bên được coi là tương đương. Tuy nhiên, trong các trận hải chiến thì người ta thường kể đến số chiến hạm bị loại ra khỏi vòng chiến hơn là số thương vong về nhân mạng. Riêng hộ tống hạm HQ10 Nhựt Tảo thì Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà và hạm phó đều bị thương nặng, nhưng hạm trưởng đã từ chối di tản và quyết ở lại tuẫn tiết cùng chiến hạm của mình theo truyền thống của một sĩ quan hải quân và một nhà hàng hải. Hạm phó HQ10 được thủy thủ giúp đào thoát khỏi tàu, nhưng đã bỏ mình trên mặt biển vì vết thương quá nặng. Cho tới nay, về phía VNCH tổn thất của trận hải chiến Hoàng Sa là 58 người. Về phía Trung Cộng thì Bắc Kinh không hề hé môi về số thiệt hại của hải quân Trung Cộng trong trận hải chiến. Nhưng trong một tài liệu tôi được qua báo The Daily Telegraph của Anh cuối năm 1974 thì số thiệt hại về nhân mạng cũng khoảng 30 người, hạm trưởng và hạm phó của chiếc Kronstadt 271 đều tử trận và chiếc chiến hạm này sau đó đã bị đánh chìm. Tuy nhiên, không có cách nào để phối kiểm nguồn tin vừa kể của tờ Daily Telegraph.
     Theo lời kể lại của các nhân chứng đào thoát từ Hoàng Sa về đất liền thì ngày hôm sau tức ngày 21-1-1974, Trung Cộng mở cuộc hành quân lớn phối hợp hải lục không quân tấn công vào đảo chính Hoàng Sa và các đảo khác và bắt giữ tất cả quân nhân VNCH và nhân viên khí tượng làm tù binh. Sau đó, khoảng một tháng sau các tù binh VNCH được Trung Cộng trao trả cho VNCH qua ngả Hồng Kông.                
     Cuối cùng, Việt Nam Cộng Hòa mất Hoàng Sa và mất thêm nhóm đảo Nguyệt Thiềm ở phía Nam cho tới ngày hôm nay. Về pháp lý, chính phủ kế tiếp VNCH sau 30-4-1975 là chính quyền của đảng CSVN có nhiệm vụ phải tìm cách nào đó lấy lại quần đảo Hoàng Sa. Nhưng hy vọng này sẽ chẳng bao giờ trở thành hiện thực được. Bởi vì, nếu thực lòng yêu quê hương đất nước và lãnh thổ do tiền nhân để lại thì ít ra họ cũng đã lên tiếng phản đối hay cho hải quân của mình hợp lực với hải quân VNCH bào vệ các hòn đảo này rồi. Hà Nội đã không dám bày tỏ bất cứ phản ứng nào năm 1974 đối với sự kiện Hoàng Sa ngoài một lời tuyên bố của phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao CSBV là “…sẽ giải quyết Hoàng Sa trong tinh thần đồng chí anh em và hữu nghị…” 

     Vũ Ánh (Nguoi-viet.com)